LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BH TNDS CỦA CHỦ XE CƠ
GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA VÀ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH - BỒI
THƯỜNG TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA
1.1. Sự cần thiết khách quan và tác dụng của BH TNDS của chủ xe cơ giới
đối với người thứ ba
1.1.1. Sự cần thiết của BH TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
Xe cơ giới là tài sản, là phương tiện quen thuộc của người Việt Nam trong
quá trình sinh hoạt hàng ngày, từ việc di chuyển cá nhân đến vận chuyển hàng
hóa trong sản xuất kinh doanh và phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng. Xe
cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ do vậy khi tham gia giao thông thì có thể có
tai nạn giao thông (TNGT) xảy ra. Những năm gần đây, do nền kinh tế đất nước
phát triển làm tăng thu nhập của người dân, do công nghệ sản xuất được nâng
cao tạo ra sản phẩm xe cơ giới đa dạng và giá rẻ, cộng với việc trao đổi hàng
hóa giữa các nước gia tăng đáng kể đã tạo nên nhiều cơ hội sở hữu xe cơ giới
cho người dân tại Việt Nam. Chính vì vậy lượng xe cơ giới lưu thông trên lãnh
thổ Việt Nam ngày càng nhiều và tất yếu sẽ gia tăng TNGT. Theo thống kê của
Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, trong năm 2006, phương tiện giao thông
đường bộ tăng nhanh so với tốc độ xây dựng hạ tầng giao thông. Nếu như năm
2003, số xe cơ giới tham gia giao thông là 675.000 xe ô tô và 12.500.000 xe
máy thì đến năm 2005, con số này đã tăng lên tới 850.000 xe máy và
16.000.000 xe ô tô. Tại thành phố Hà Nội, số lượng ô tô, xe máy đăng ký từ
năm 2000-2006 cũng đã tăng vọt theo từng năm. Cụ thể, nếu năm 2001 có
103.748 ô tô và 951.083 xe máy được đăng ký thì đến năm 2004 tăng lên
147.227 ô tô và 1.542.316 xe máy đăng ký và con số này nhảy vọt lên đến
175.476 ô tô và 1.761.305 xe máy năm 2006. Số lượng ô tô, xe máy tăng lên
một cách nhanh chóng trong thời gian gần đây, kéo theo đó là số vụ TNGT do
xe cơ giới gây ra cũng tăng lên đáng kể.
Theo số liệu của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, từ năm 2003-2007
mỗi năm Việt Nam có trên 11.000 người chết vì TNGT do ô tô, xe máy gây ra.
Năm 2004 cả nước xảy ra 17.530 vụ TNGT, làm chết hơn 12.000 người và bị
thương trên 15.600 người. Năm 2006, số tử vong do TNGT đường bộ của Việt
thông; các chủ xe không phải ai cũng là người giàu có, do tài chính không đảm
bảo nên việc thực hiện TNDS không kịp thời, nhanh chóng, đầy đủ, kéo theo
việc họ có thể phải chịu mức trách nhiệm hình sự tăng lên. Hơn nữa, họ còn bị
ngừng trệ sản xuất dẫn đến mất, giảm thu nhập.
Mặc dù cơ hội sở hữu xe cơ giới của người Việt Nam ngày càng tăng nhưng
xe cơ giới không chỉ là tài sản mà đôi khi là phương tiện mưu sinh và đối với
một bộ phận người dân, ngoài tài sản để mưu sinh này, không còn năng lực về
tài chính nào để bù đắp những thiệt hại gây ra cho người khác do việc sử dụng
xe cơ giới gây ra, cho nên khi phát sinh trách nhiệm bồi thường, các chủ xe
không đủ năng lực bồi thường gây thiệt hại nặng nề cho bản thân và người thân
của người bị hại trong vụ tai nạn và tăng thêm trách nhiệm gánh chịu cho xã
hội. Bên cạnh đó còn có những vụ tai nạn mà chính chủ xe cũng bị chết hoặc
không xác định được xe gây tai nạn, thực tế này chắc chắn sẽ dẫn đến việc ảnh
hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, nó đã làm ảnh hưởng lớn đến tình hình phát
triển kinh tế, xã hội. Trong khi mức thu nhập của người dân chưa đồng đều,
nhằm hạn chế tối thiểu những thiệt hại của bên bị nạn trong TNGT cần thiết
phải có một khoản tài chính khổng lồ để đề phòng hạn chế tai nạn xảy ra, đồng
thời góp phần lớn lao vào việc khắc phục hậu quả các vụ tai nạn. Tuy nhiên,
việc khắc phục hậu quả và đề phòng hạn chế tổn thất mang tính xã hội rất cao,
nó không thể trông chờ vào sự tự giác hay tự nguyện nào mà có thể thực hiện
được, do đó cần thiết phải áp dụng chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe
cơ giới đối với người thứ ba.
1.1.2. Tác dụng của BH TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
BH TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới là một biện pháp kinh tế mà các chủ
xe có trách nhiệm đóng góp về mặt tài chính để hình thành quỹ bảo hiểm do các
DNBH quản lý, dùng để bồi thường khi xảy ra tai nạn làm phát sinh TNDS của
chủ xe. Nó phát huy tốt nhất quy luật số đông, đảm bảo sự đóng góp của mỗi
thành viên một cách tiết kiệm nhất. Đồng thời có tác dụng:
- Nhằm đảm bảo bồi thường nhanh chóng, khắc phục hậu quả kịp thời, bảo
lượng xe ô tô và 30% xe máy tham gia bảo hiểm bắt buộc TNDS. Vì vậy, công
tác tuyên truyền giải thích mục đích, ý nghĩa và tác dụng của BH TNDS để
người dân hiểu và chấp hành là việc làm thường xuyên không chỉ riêng các
DNBH mà còn có sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành và cả hệ thống
chính trị. Đi đôi với công tác tuyên truyền, giải thích thì việc kiểm tra chấp hành
mua bảo hiểm của chủ xe của các ngành chức năng, đặc biệt là cảnh sát giao
thông cũng góp phần đáng kể vào số lượng xe tham gia bảo hiểm.
1.2. Một số nội dung chính của BH TNDS của chủ xe cơ giới đối với người
thứ ba
1.2.1. Đối tượng bảo hiểm
Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là phần trách nhiệm được xác định
bằng tiền theo quy định của luật pháp và sự phán quyết của tòa án quyết
định chủ xe phải gánh chịu do lưu hành xe của mình gây tai nạn cho người thứ
ba.
Người thứ ba thực chất là phía nạn nhân trong các vụ tai nạn, là những
người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn gây ra. Người thứ ba có thể
là một người, có thể là nhiều người hoặc đường sá, hoa màu, nhà cửa, hành lý…
Tuy nhiên, luật kinh doanh bảo hiểm của các nước đều quy định một số trường
hợp sau đây không được coi là người thứ ba:
- Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe và lái xe.
- Thân nhân của chủ xe và lái xe như: cha, mẹ, vợ, chồng, con cái…
- Hành khách, những người có mặt trên xe.
- Tư trang, tài sản, hành lý của những người nêu trên.
nhằm mục đích hạn chế và phòng tránh trục lợi bảo hiểm.
Với khái niệm nêu trên, đối tượng bảo hiểm ở đây là TNDS của chủ xe đối
với thiệt hại về thân thể và tài sản của người thứ ba do xe cơ giới gây ra trong
TNGT. Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước, chỉ khi nào việc
lưu hành xe gây tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba thì
đối tượng này mới được xác định cụ thể. Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ
xe đối với người thứ ba bao gồm:
mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.
- Thiệt hại với những tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.
- Chiến tranh và các nguyên nhân tương tự như chiến tranh.
- Thiệt hại với những tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, tiền, các
loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.
1.2.3. Phí bảo hiểm
Phi bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện. Người tham gia bảo hiểm
đóng phí BH TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượng đầu
phương tiện của mình. Mặt khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về
độ lớn có xác suất gây ra tai nạn khác nhau nên phí bảo hiểm được tính riêng
cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện).
Tại Việt Nam, quy tắc bảo hiểm mới (theo QĐ 23/2007) quy định thời hạn
bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tối thiểu là
một năm. Điều đó đồng nghĩa với việc DNBH sẽ không bán bảo hiểm ngắn hạn.
Do đó, phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện
(tính theo năm) là:
P = f + d
Trong đó: P: Phí bảo hiểm/đầu phương tiện
f: Phí thuần
d: Phụ phí (được quy định là tỷ lệ phần trăm nhất định so với
tổng phí bảo hiểm)
Phí thuần được xác định theo công thức:
∑
∑
−
−
=
n
i
i
Mức trách nhiệm về tài sản: 50 triệu đồng/tài sản/vụ.
Ngoài mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc như quy định trên, chủ xe cơ
giới có thể tự nguyện tham gia BH TNDS chủ xe theo các mức trách nhiệm bảo
hiểm cao hơn. Trong trường hợp này thì hình thức bảo hiểm là bắt buộc còn
mức trách nhiệm bảo hiểm mà chủ xe tham gia là tự nguyện. Các chủ xe cơ giới
là người nước ngoài, các công ty liên doanh thường tham gia BH TNDS chủ xe
với mức trách nhiệm cao. Ví dụ:
VD1. Về người: 5,000.00 USD /vụ
Về tài sản: 20,000.00 USD/vụ
Tối đa: Tổng mức trách nhiệm 400,000.00 USD/vụ
VD2. Về người: 10,000.00 USD /vụ
Về tài sản: 50,000.00 USD/vụ
Tối đa: Tổng mức trách nhiệm 400,000.00 USD/vụ
Khi xe bị tai nạn, chủ xe, lái xe hoặc những người thân trong gia đình của
họ phải kịp thời thông báo cho công ty bảo hiểm biết để giải quyết. Trong quá
trình chờ giám định viên đến để giám định thì chủ xe cơ giới cần thực hiện các
biện pháp nhằm hạn chế tối đa thiệt hại gia tăng. Nếu vụ tai nạn liên quan đến
sức khỏe của người thứ ba thì chủ xe cần nhanh chóng cứu chữa người bị nạn,
hạn chế thiệt hại phát sinh. Ngoài ra, người bị hại cũng cần phối hợp với chủ xe,
giữ nguyên hiện trường vụ tai nạn, tạo điều điện tốt nhất cho nhân viên bảo
hiểm đến giám định.
Khi nhận được thông báo, nhà bảo hiểm phải cử nhân viên hoặc người ủy
quyền, tổ chức giám định, thông thường khi giám định phải có cảnh sát giao
thông hoặc chính quyền địa phương chứng kiến để xác định thực tế lỗi của chủ
xe và người thứ ba. Sau đó, công ty bảo hiểm sẽ tiến hành lập biên bản giám
định. Dựa trên các giấy tờ mà chủ xe cung cấp cùng với biên bản giám định của
giám định viên, công ty bảo hiểm sẽ tiến hành bồi thường cho chủ xe gây tai
nạn.
1.3. Công tác giám định - bồi thường nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ
giới đối với người thứ ba
việc chậm trễ phải được thể hiện trong biên bản giám định.
Mọi tổn thất về tài sản thuộc trách nhiệm bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo
hiểm tiến hành giám định thiệt hại (trừ khi có thoả thuận khác) với sự chứng
kiến của chủ xe cơ giới, người thứ ba hoặc người đại diện hợp pháp của các bên
có liên quan để xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại do tai nạn gây ra.
Quá trình giám định phải có mặt và ký xác nhận của chủ xe, chủ tài sản bị
thiệt hại hoặc người có trách nhiệm được ủy quyền quản lý sử dụng. Trường
hợp chủ xe cơ giới không thống nhất về nguyên nhân và mức độ thiệt hại do
doanh nghiệp bảo hiểm xác định, hai bên sẽ thoả thuận chọn giám định viên kỹ
thuật chuyên nghiệp thực hiện việc giám định. Kết luận của giám định viên kỹ
thuật chuyên nghiệp là căn cứ để xác định thiệt hại. Trường hợp kết luận của
giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp khác với kết luận của giám định viên
bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu chi phí giám định. Trường hợp kết
luận của giám định viên kỹ thuật chuyên nghiệp trùng với kết luận của giám
định viên bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải chịu chi phí giám định…
Trong trường hợp đặc biệt, nếu công ty bảo hiểm không thực hiện được
việc lập biên bản giám định thì có thể căn cứ vào biên bản của các cơ quan chức
năng, căn cứ vào ảnh chụp, các hiện vật thu được, khai báo của chủ xe và cơ
quan điều tra, thẩm định của công ty (khi cần thiết).
Mục tiêu của việc giám định nhằm:
Thực hiện công tác giám định tốt sẽ giúp công ty bảo hiểm xác định tai nạn
và nguyên nhân tai nạn, từ đó xác định trách nhiệm của bảo hiểm.
Đánh giá, xác định thiệt hại cho việc bồi thường được chính xác và nhanh
chóng.
Ngoài ra còn giúp cho việc tổng hợp nguyên nhân TNGT để có biện pháp
phòng ngừa.
* Yêu cầu của biên bản giám định
Biên bản giám định phải được giám định viên thể hiện một cách đầy đủ, tỷ
mỉ và chi tiết những thiệt hại do tai nạn. Ngoài ra nó phải phản ánh một cách
trung thực và khách quan nhất về vụ tai nạn.