PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG - Pdf 63

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
HUYỆN BÌNH MINH
 
4.1. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
4.1.1. Đánh giá chung cơ cấu nguồn vốn.
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển chung của nền kinh tế thì việc tạo
lập vốn cho ngân hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thương mại. Vốn không những giúp cho ngân hàng tổ chức
được mọi hoạt động kinh doanh, mà còn góp phần quan trọng trong việc đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát
triển của nền kinh tế nói chung. Nguồn vốn hoạt động của ngân hàng tăng trưởng
vừa tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng đầu tư tín dụng vừa đáp ứng nhu cầu
vay vốn của các thành phần kinh tế và dân cư.
Đối với Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh nguồn vốn
hoạt động bao gồm vốn huy động và vốn điều chuyển từ Hội sở. Trong 3 năm
2004-2006, kinh tế Tỉnh Vĩnh Long nói chung và huyện Bình Minh nói riêng có sự
tăng trưởng nhanh tạo điều kiện thuận lợi trong công tác huy động vốn của chi
nhánh thể hiện qua bảng số liệu sau:
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 1 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 2 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 3 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng

Hình 3: Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh
Bình Minh qua 3 năm 2004-2006
Qua biều đồ ta thấy được nguồn vốn của Ngân hàng liên tục tăng, đến cuối
năm 2006 tổng nguồn vốn của chi nhánh đạt tới 85.042 triệu đồng. Sự tăng của
tổng nguồn vốn là do vốn huy động và vốn điều chuyển không ngừng tăng lên.
Mặc dù vốn huy động tăng qua các năm nhưng nó vẫn chiếm tỷ trọng thấp (dưới
24%) trong cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng. Trong 3 năm qua, kinh tế tăng
trưởng khá, đời sống văn hóa xã hội của các tầng lớp dân cư đi vào ổn định và dần

đương nhiên. Dưới đây là tình hình huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng Phát
triển nhà ĐBSCL huyện Bình Minh trong 3 năm vừa qua.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 5 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 6 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Hình 4: Tình hình huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL
huyện Bình Minh.
Xác định huy động vốn từ nền kinh tế phục vụ cho vay là nhiệm vụ chính, với các
biện pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, cuối năm 2006 vốn huy động của Ngân
hàng Phát triển nhà chi nhánh Bình Minh đạt 20.200 triệu đồng tăng 34,7% so với năm
2005. Trong đó vốn huy động từ dân cư là chủ yếu chiếm trên 60% tổng vốn huy động.
Đặc biệt vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư tăng nhanh 36% năm
2006.
Đạt được kết quả như trên là do trong những năm qua Ngân hàng không ngừng quảng
bá công tác huy động vốn, đa dạng hóa sản phẩm, thực hiện chính sách khuyến mãi như
tặng thưởng đối với khách hàng có mức tiền gửi cao, hậu mãi như tặng quà cho khách hàng
lớn vào dịp lễ, tết…, thái độ phục vụ văn minh, lịch sự, xử lý nhanh và chính xác các
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 7 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
chứng từ, rút ngắn thủ tục gửi tiền tạo sự thân thiện và thoải mái cho khách hàng khi đến
giao dịch nên giữ chân được khách hàng cũ cũng như thu hút thêm khách hàng mới.
Đối với Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL chi nhánh Bình Minh vốn huy động bao
gồm: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm và kỳ phiếu. Nhìn chung, các chỉ
tiêu này đều tăng về số tuyệt đối.
- Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản mục tiền gửi chiếm tỷ trọng cao trên vốn huy động
(trên 60%). Năm 2005 số tiền tiết kiệm huy động là 9.500 triệu đồng tăng gần 32% so với
năm 2004. Đến năm 2006 là 20.200 triệu đồng tăng 28% so với năm 2005. Nguyên nhân
tiền gửi tiết kiệm tăng là do Ngân hàng đa dạng các hình thức huy động với những loại tiền
gửi và thời hạn khác nhau, với mức ưu đãi khác nhau nên thu hút khách hàng. Mặt khác, do
Bình Minh là một huyện nông thôn nên người dân sau khi đã trừ những khoản chi tiêu
hàng ngày số tiền thừa ra họ gửi có kỳ hạn để hưởng lãi. Bên cạnh đó, năm 2005 kinh tế
tăng trưởng khá nên các đối tượng có thu nhập không ổn định: trúng số, mua bán bất động

4.2. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG QUA 3 NĂM GẦN ĐÂY
4.2.1. Phân tích doanh số cho vay
Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì việc tạo lập nguồn vốn là vấn đề quan trọng
hàng đầu. Khi huy động được vốn để có thể tạo ra lợi nhuận, hoàn trả tiền gốc và lãi cho
khách hàng đồng thời bù đắp chi phí kinh doanh, ngân hàng thương mại phải tiến hành
kinh doanh dưới hình thức sử dụng vốn huy động được mà chủ yếu là cấp tín dụng. Hoạt
động cho vay không những có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với nền kinh
tế bởi vì nó bổ sung nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất. Do vậy,
hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng, để có thể ngăn ngừa và giảm thiểu
rủi ro ngân hàng cần có quy trình tín dụng chặt chẽ.
4.2.1.1. Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế.
Trong những năm qua, chi nhánh Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL huyện Bình Minh
đã không ngừng tìm kiếm khách hàng mới và giải quyết kịp thời nhu cầu vay vốn hợp lý
cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân đã làm cho doanh số cho vay năm sau cao
hơn năm trước thể hiện qua bảng số liệu sau:
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 9 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 10 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 11 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Nhìn chung, doanh số cho vay tăng liên tục qua 3 năm 2004-2006. Doanh số cho vay
năm 2005 đạt 57.520 triệu đồng tăng 1.150 triệu đồng so với năm 2004 tương đương với
tốc độ tăng 2%. Đến năm 2006 con số này lên đến 80.492 triệu đồng tăng 22.972 triệu
đồng tức tăng gần 40% so với năm 2005. Do trong thời gian này Ngân hàng luôn bám sát
mục tiêu phát triển kinh tế của Tỉnh trên cơ sở các chương trình tín dụng đã được xây dựng
tập trung cho vay những ngành trọng điểm, ưu tiên cho vay đối với các doanh nghiệp có
qui mô vừa và nhỏ, các cơ sở, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Ngoài ra, chi
nhánh còn mở rộng đối tượng cho vay nên số lượng khách hàng đến vay vốn ngày càng
nhiều làm tăng doanh số cho vay của Ngân hàng qua các năm.
Trong 3 năm qua chi nhánh luôn mở rộng quan hệ tín dụng đối với thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, cá thể hộ gia
đình. Trong đó, doanh số cho vay đối với cá thể hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn (>80%)

và vốn cố định của các đơn vị. Trong 3 năm qua đạt được kết quả như sau:
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Ngân 13 SVTH: Phan Thị Ngọc Đăng
Đối với tín dụng ngắn hạn: đây là loại tín dụng chiếm tỷ trọng cao (trên 70%) so với
tổng doanh số cho vay và tăng qua các năm. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắn
hạn năm 2005 mới chỉ đạt 9,9% đến năm 2006 con số này đã tăng lên đáng kể 53,2%.
Nguyên nhân của sự tăng này là do 2 nhân tố:
Đối với Ngân hàng do nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu từ huy động ngắn
hạn, cho vay ngắn hạn ít rủi ro hơn so với cho vay trung và dài hạn đồng thời cán bộ tín
dụng cũng dễ dàng trong việc lập phương án cho vay.
Đối với khách hàng là các cơ sở sản xuất mục đích vay để bổ sung vốn lưu động, còn
khách hàng là cá nhân mục đích vay là trồng trọt, chăn nuôi…do vậy mà chu kỳ vốn ngắn,
hơn nữa vay ngắn hạn lãi suất thấp nên thu hút được khách hàng.
Ngược lại với tín dụng ngắn hạn, tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn trong ba năm qua
chỉ đạt con số khiêm tốn dưới 30%. Sự tăng trưởng của loại tín dụng này cũng không ổn
định qua các năm. Năm 2005 doanh số cho vay giảm 2.741 triệu đồng hay giảm 16 % so
với năm 2004. Sang năm 2006 có sự tăng trưởng trở lại tăng 20 triệu đồng hay tăng 0,1%.
Do các khoản cho vay trung và dài hạn có thời gian thu hồi vốn lâu, lại có độ rủi ro lớn.
Mặt khác, do tài sản thế chấp của khách hàng đa số là bằng khoán đất, tài sản không đủ
làm đảm bảo để cho vay, do đó rất khó làm phương án để cho vay trung và dài hạn. Chính
vì vậy mà Ngân hàng rất thận trọng trong công tác thẩm định và xét duyệt cho vay.
Bảng số liệu còn cho ta thấy tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn gấp khoảng 3 lần so
với tỷ trọng cho vay trung và dài hạn năm 2004 và 2005. Sang năm 2006 thì con số này lên
đến 4,5 lần. Nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn,
nhưng từ những năm 1970 trở lại đây các ngân hàng đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp
và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn
trong tổng số dư nợ của ngân hàng. Tuy nhiên tâm lý của khách hàng kể cả chính quyền địa
phương cũng đã quen với chức năng của ngân hàng thương mại quốc doanh đóng trên địa
bàn. Do đó việc cho vay theo các chương trình, dự án lớn thuộc Ngân hàng đầu tư và phát
triển. Hơn nữa, sau khi ra đời quỹ đầu tư và phát triển cho doanh nghiệp vay các dự án lớn,
chương trình của chính phủ…có thời hạn trung và dài hạn, với lãi suất ưu đãi chỉ bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status