MỘT SỐ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU THỰC TẾ XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI CỦA TRUNG QUỐC - Pdf 63

MỘT SỐ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ VIỆC NGHIÊN
CỨU THỰC TẾ XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI CỦA
TRUNG QUỐC
I. Thực trạng xâm nhập thị trường châu Phi của Việt Nam
Châu Phi là một lục địa rộng lớn gồm 54 quốc gia, có tổng diện tích trên 30
triệu km2 (đứng sau Châu á và Châu Mỹ), dân số hơn 813 triệu (khoảng 13% dân số
thế giới), dự báo đến năm 2010 sẽ đạt 1 tỷ người. Quan hệ thương mại Việt Nam –
Châu Phi được khởi đầu từ những năm 1990. Qua thực tế 17 năm (1990-2007) phát
triển, quan hệ thương mại Việt Nam – Châu Phi đã có bước phát triển khá nhanh
trong những năm qua. Điều đó được thể hiện rõ thông qua những nét khái quát dưới
đây:
1. Quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Phi được phát triển trên nền tảng quan
hệ chính trị gắn bó truyền thống
Xét trên quan hệ chính trị, ngoại giao thì Việt Nam và các quốc gia châu Phi
đã có truyền thống tốt đẹp và luôn được duy trì, phát triển bất chấp mọi biến động.
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Việt Nam đã trở thành biểu
tượng cho đấu tranh độc lập của các quốc gia châu Phi. Công cuộc đổi mới đất nước
từ năm 1986 đến nay ở nước ta được các nước châu Phi đánh giá cao và nhiều nước
châu Phi muốn học hỏi kinh nghiệm, áp dụng mô hình. Trên cơ sở quan hệ chính trị,
ngoại giao gắn bó, quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam và các nước châu Phi phát
triển mạnh mẽ. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 48 trong tổng
số 54 quốc gia châu Phi. Việt Nam đã ký kết hiệp định khung về hợp tác kinh tế,
thương mại, khoa học kỹ thuật với 19 quốc gia châu Phi. Việt Nam cũng đã thành lập
ủy ban liên Chính phủ với các nước: Angieri, Angola, Ai Cập, Mali, Tuynidi và Nam
Phi. Việt Nam đã ký hiệp định thương mại song phương với 15 quốc gia châu Phi.
Thương vụ Việt Nam đã đặt ở 5 nước là Ai Cập, Angieri, Nam Phi, Marốc, Nigieria.
Qua các hiệp định thương mại, Việt Nam và 12 nước châu Phi đã thoả thuận dành
cho nhau quy chế tối huệ quốc. Như vậy, quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế giữa
Việt Nam và các quốc gia châu Phi trong thời gian qua phát triển tốt đẹp. Điều này
phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra trên thế giới và tạo môi
trường thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa Việt Nam và châu Phi.

Giá
trị
Tăng
trưởng (%)
Giá trị Tăng
trưởng (%)
1991 15,5 - 13,3 - 2,2
1995 45,9 199,6 38,1 191,5 7,8 251,6
2000 190,1 107,6 142,7 103,6 47,4 121,5
2001 217,7 114,5 173,4 121,5 44,3 -6,5
2002 190,1 -12,7 130,1 -24,9 60,0 135,4
2003 349,9 184,0 214,1 164,6 135,8 226,3
2004 597,9 170,9 412,5 192,7 185,4 226,3
2005 909,5 152,1 650,0 157,6 259,5 139,9
(Nguồn: Thống kê Tổng cục Hải quan 2004-2005)
3. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi được mở rộng
Từ năm 1996 Việt Nam thực hiện quan hệ buôn bán 2 chiều với nhiều quốc
gia châu Phi. Đặc biệt từ năm 2000 đến nay thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam ở châu Phi đã phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Việt Nam đã phát triển thị
trường châu Phi chủ yếu từ 2 hướng: thứ nhất, từ Bắc Phi thông qua thị trường Ai
Cập, Libi và thứ hai, từ Cộng hoà Nam Phi để thâm nhập các quốc gia Nam Phi và
Trung Phi. Nam Phi và Ai Cập cũng là 2 thị trường lớn nhất của Việt Nam ở châu
Phi. Năm 1991, thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam ở châu Phi chỉ có 3 nước,
đến nay Việt Nam đã có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá với 49 quốc gia châu Phi.
Từ năm 2003 thị trường châu Phi đã được Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam
chú ý quan tâm nhiều nhất từ trước tới nay. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng có
những nỗ lực trong việc thăm dò, khai phá thị trường châu Phi. Ngoài việc tháp tùng
các đoàn lãnh đạo cấp cao, một số doanh nghiệp đã tích cực tổ chức các đoàn đi khảo
sát thị trường, đặc biệt tại Nam Phi, Ai Cập, các nước Tây Phi...
4. Mặt hàng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và châu Phi có thay đổi nhiều trong

5 Nigieria 47,8
Sản phẩm cao su, điện-điện tử, đồ
nhựa
(Nguồn: Thống kê Tổng cục Hải quan 2004-2005)
5. Phương thức xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các quốc gia châu Phi còn sơ
khai
Hầu hết các phương thức xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Châu Phi còn
mang tính sơ khai, điều đó thể hiện rõ nét qua một số điểm chính sau đây:
4
4
+ Xuất khẩu qua trung gian là phương thức mà phần lớn các doanh nghiệp
Việt Nam đã và đang áp dụng đối với các quốc gia châu Phi. Phương thức này thích
hợp với thời kỳ đầu khai phá thị trường châu Phi. Nó cũng hạn chế được một số rủi
ro trong thanh toán của các doanh nghiệp Việt Nam.
+ Xuất khẩu trực tiếp: Hình thức trực tiếp hàng đổi hàng được tiến hành với
các nước mà độ rủi ro trong thanh toán cao, chính trị bất ổn. Đối với một số quốc gia
châu Phi khá phát triển như Nam Phi, Ai Cập và các quốc gia mà Việt Nam đã có
thương vụ, có hệ thống ngân hàng tương đối phát triển và khả năng tài chính dồi
dào... Các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng phương thức mở L/C.
+ Một số Công ty của Việt Nam đã mở văn phòng đại diện, chi nhánh thương
mại để thâm nhập thị trường như Công ty TNHH Phi Việt, Công ty cổ phần Việt
Trang (Viettranmex), Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Happroximex), Tổng Công
ty phát triển Công nghệ và Du lịch (Newtatco), Công ty Tổng hợp Sài Gòn
(Incomex)...
3
Một số Việt kiều ở châu Phi đã liên kết với các Công ty trong nước và ở
nước sở tại để đầu tư sản xuất. Một số doanh nghiệp Việt Nam có ý định đầu tư xây
dựng khu chế biến, xây dựng nhà máy của Việt Nam ở một số quốc gia châu Phi, như
Công ty T&T dự kiến xây dựng nhà máy lắp ráp xe máy ở châu Phi.
6. Quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Phi còn nhiều hạn chế và gặp không ít

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng quan, những thuận lợi cho xuất khẩu hàng
hoá sang thị trường châu Phi là cơ bản, những khó khăn nêu trên chỉ là nhất thời ảnh
hưởng không lớn và ngày càng ít đi khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO). Tuy vậy, nó cũng đòi hỏi Chính phủ và các doanh nghiệp phải nỗ lực
hơn nữa, tìm ra các giải pháp hữu hiệu, trong đó có vấn đề then chốt nhất là phải
bằng mọi cách nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm nhằm duy trì, phát triển thị
trường xuất khẩu và thu được hiệu quả xuất khẩu tối đa.
6
6
II. Một số bài học cho Việt Nam về giải pháp phát triển quan hệ thương
mại Việt Nam – Châu Phi từ thực tế xâm nhập thị trường Châu Phi của
Trung Quốc
1. Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam - Châu Phi
Qua thực tiễn 18 năm phát triển các quan hệ thương mại, xuất phát từ tiềm
năng của Việt Nam và các quốc gia châu Phi, chúng ta có thể dự báo về sự phát triển
mạnh mẽ của quan hệ này trong tương lai. Tình hình thế giới, khu vực đã và đang
thay đổi nhanh chóng, nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra
những yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của các bên tham gia quan hệ thương mại. Quan hệ
thương mại Việt Nam – Châu Phi phát triển theo những hướng cơ bản sau đây:
• Việt Nam và châu Phi cần tiến tới một khuôn khổ hợp tác đa phương dài hạn. Thúc
đẩy các quan hệ các hợp tác trong khuôn khổ các diễn đàn, khối liên kết.
• Thúc đẩy và mở rộng quan hệ thương mại song phương và đa phương theo nhiều cấp
độ khác nhau. Tăng cường hiệu quả và khả năng cạnh tranh, liên kết giữa các doanh
nghiệp.
• Hoàn thiện và điều chỉnh các hiệp định thương mại song phương đã ký để phù hợp
với điều kiện mới. Tiếp tục đàm phán để ký hiệp định thương mại giữa Việt Nam với
các đối tác đàm phán thương mại để 2 bên được hưởng quy chế tối huệ quốc.
• Ưu tiên phát triển các quan hệ đầu tư thương mại. Khuyến khích các hình thức hợp tác,
liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam – Châu Phi.
• Thực hiện chính sách mở cửa thị trường cho nhau. Phát triển các quan hệ hợp tác

hóa, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng
nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng, tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản
phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ..., thì thị
trường Châu Phi phải tiếp tục được coi trọng như một thị thị trường xuất khẩu tiềm
năng của Việt Nam. Theo tinh thần đó, Việt Nam đã cho thấy rõ năng lực của mình
trong quan hệ với thị trường này, khi mà buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Châu
Phi năm 2005 đã đạt 870,3 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 660,3 triệu
USD. Kết quả này đã rất gần với mục tiêu chính phủ đặt ra cho năm 2010: phấn đấu
8
8
đạt kim ngạch thương mại 1 tỷ USD (trong đó xuất khẩu đạt 600 – 650 triệu USD)
trên thị trường Châu Phi. Do vậy, nhiều khả năng Việt Nam sẽ vượt mức kế hoạch đề
ra cho công tác xuất nhập khẩu vào thị trường này.
Điều này báo hiệu triển vọng phát triển thương mại to lớn giữa Việt Nam và
Châu Phi, đồng thời cũng đòi hỏi Chính phủ phải có những định hướng phát triển
mới trên thị trường Châu Phi trong tương lai. Theo đó, Chính phủ sẽ đề ra một chiến
lược phát triển kinh tế - thương mại với Châu Phi xa hơn nữa đến năm 2020, tập
trung chủ yếu vào các vấn đề: nguyên tắc và mục tiêu khi phát triển thị trường Châu
Phi, các biện pháp và chính sách cụ thể, các phương tiện để thực hiện chính sách
cũng như các bước thực hiện chiến lược đó. Trong chiến lược xuất nhập khẩu này,
Chính phủ cần tiếp tục dành ưu tiên cao cho hoạt động xuất khẩu. Điều này hoàn
toàn phù hợp với một xu thế tất yếu hiện nay là Chính phủ các nước (kể cả nước phát
triển và đang phát triển) đều khuyến khích và ủng hộ mạnh mẽ chính sách khuyến
khích và phát triển xuất khẩu. Song trong chiến lược dài hạn này, cần xây dựng và
thực hiện có hệ thống các chính sách quan trọng như chính sách thị trường, chính
sách mặt hàng, hệ thống các biện pháp hỗ trợ như bộ máy hỗ trợ tại chỗ, tín dụng
xuất khẩu, thông tin thị trường, hỗ trợ nghiên cứu, hỗ trợ đặt văn phòng đại diện, hỗ
trợ chi phí thuê kho ngoại quan... để tạo được một nền tảng lâu dài và bền vững cho
hoạt động trao đổi và hợp tác thương mại cả về số lượng lẫn chất lượng.
Trong chiến lược mậu dịch dài hạn với thị trường Châu Phi, Chính phủ nên

định về Hợp tác ngân hàng, Hiệp định hợp tác nông nghiệp. Hiện nay Việt Nam đã
ký tổng số 19 Hiệp định Thương mại với các nước Châu Phi gồm Ghinê (1961),
Manta (1977), Ghi nê xích đạo (1977), Ănggôla (1978), Lyby (1983), Angiêri (1994),
Tuynizi (1994), Ai Cập(1994), Nam Phi (2000), Zimbabuê (2001), Tanzania (2001),
Nigêria (2001), Ma rốc (2001), Cônggô (2002), Namibia (2003), Môzămbich (2003),
Xênêgan, Xu đăng, Bênanh, Ghanna... trong đó hầu như toàn bộ các hiệp định đều có
điều khoản dành cho nhau quy chế Tối huệ quốc và các ưu đãi thuế quan. Đây là
hành lang pháp lý cơ bản để các doanh nghiệp xúc tiến các hoạt động thương mại.
10
10
Tuy nhiên trong tương lai cần tăng cường thúc đẩy quan hệ ngoại giao và quan
hệ kinh tế thương mại; chú trọng đàm phán song phương, đa phương để ký kết các
hiệp định, hợp đồng, biên bản ghi nhớ; từ đó cụ thể hoá bằng những văn bản thi hành
và những quy chế rõ ràng để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển quan hệ thương
mại với từng nước. Trước mắt cần rà soát lại việc thực hiện các hiệp định đã ký kết,
hoàn tất Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
với Ai Cập, Nam Phi, Ma rốc, Ănggôla...; tiếp tục đẩy nhanh việc ký kết các hiệp
định thương mại với các nước Châu Phi còn lại nhằm tạo điều và mở rộng hơn nữa
hoạt động giao lưu thương mại, mở đường cho sản phẩm Việt Nam xâm nhập sâu
rộng vào thị trường Châu Phi.
b. Tăng cường mạng lưới cơ quan ngoại giao, đại diện thương mại ở nước
ngoài.
Đến nay ở Châu Phi, Việt Nam đã có 6 cơ quan đại diện ngoại giao thường trú
đặt tại các nước Ai Cập, Angiêria, Lybi, Ănggôla, Nam Phi, Tanzania và 5 thương
vụ tại Nam Phi, Angiêri, Ai Cập, Marốc, Nigiêria nhằm tạo cầu nối cho các doanh
nghiệp hoạt động. Mạng lưới các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam đã có mặt ở
các khu vực Tây Phi, Nam Phi và Bắc Phi. Riêng đối với khu vực Đông Phi, Việt
Nam vẫn chưa đặt được thương vụ. Điều đó cho thấy, lực lượng đại diện thương mại
còn quá thiếu. Thêm vào đó, chế độ hoạt động kiêm nhiệm, tình trạng thiếu kinh phí
và nhân lực cũng là những trở ngại không nhỏ đối với chủ trương thúc đẩy thêm một

có vốn đầu tư nước ngoài được phép xuất khẩu những mặt hàng không nêu trong giấy
phép đầu tư của mình và các doanh nghiệp trong nước được quyền trực tiếp xuất
khẩu sản phẩm của mình mà không cần giấy phép xuất nhập khẩu.
* Thực hiện quy định thuế ưu đãi có xét đến điều kiện cụ thể và không vi
phạm quy tắc WTO
Cho tới nay thời điểm trở thành thành viên WTO, cơ chế hoàn thuế chỉ áp
dụng đối với thuế nhập khẩu đầu vào của các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường
xa xôi như Châu Phi. Những nhà xuất khẩu qua trung gian (xuất khẩu gián tiếp)
không được hưởng chế độ này. Song thực tế cho thấy có tới 60 – 80% doanh nghiệp
xuất khẩu sang thị trường Châu Phi là thông qua đối tác thứ ba. Con số này cao hơn
rất nhiều so với 40% doanh nghiệp xuất khẩu gián tiếp sang các thị trường khu vực
khác. Bởi lẽ hiện nay, xuất khẩu qua trung gian là con đường mà phần lớn các doanh
12
12
nghiệp Việt nam áp dụng để thâm nhập thị trường Châu Phi. Hình thức này thích hợp
với thời kỳ khai phá thị trường khi quy mô xuất khẩu của các doanh nghiệp còn nhỏ,
các mặt hàng xuất khẩu còn phân tán. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phải dựa vào
doanh nghiệp nhà nước để xuất khẩu hàng hoá sang Châu Phi. Tuy nhiên, cơ chế
hoàn thuế xuất khẩu quá chung chung này đã không khuyến khích các doanh nghiệp
xuất khẩu mua các yếu tố đầu vào được sản xuất trong nước. Vả lại đến nay, việc trở
thành thành viên chính thức WTO cũng không cho phép Việt Nam thực hiện quy
định hoàn thuế nhập khẩu đối với đầu vào. Vì vậy, để khuýên khích doanh nghiệp
xuất khẩu mạnh sang thị trường Châu Phi trong điều kiện các kênh trao đổi thương
mại chưa thông suốt như hiện nay, chính phủ cần mở rộng cơ chế hỗ trợ doanh
nghiệp bằng những hình thức thíêt thực hơn, không vi phạm quy tắc WTO, như hỗ
trợ các hoạt động xúc tiến thương mại ở những nước Châu Phi trọng điểm: tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia triển lãm, hội chợ tại thị trường này...
Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Châu Phi cần được
hưởng những ưu đãi về thuế theo đúng quy định hiện hành. Trước đây, biện pháp
khuyến khích xuất khẩu thông qua thuế thường được thực hiện dưới hai phương thức

trường trọng điểm này phải được đầu tư hơn nữa về trang thiết bị làm việc. Đầu tư
phát triển nguồn nhân lực là công việc cần thiết và phải được tiến hành thường
xuyên. Do vậy, các cán bộ phục vụ cho công tác xúc tiến thương mại không chỉ đơn
thuần được trang bị các kiến thức đầy đủ và cơ bản về thị trường, mà cần được đào
tạo đi đào tạo thực tế tại các thị trường đó thông qua hình thức trao đổi và hợp tác
chuyên gia; được cập nhật thông tin, kiến thức qua các lớp hoặc các chương trình bổ
trợ định kỳ được phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Một điều cần được quan tâm đặc biệt đối với công tác đào tạo nhân lực cho thị
trường Châu Phi là việc trang bị tiếng ả rập cho cán bộ thương vụ, đủ khả năng đưa
các thông tin thị từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt và ngược lại, để có thể bảo đảm:
- Các thông tin về thị trường nước ngoài cần cho doanh nghiệp Việt Nam
được cung cấp một cách hệ thống, chính xác và cập nhật;
- Nội dung các tài liệu từ phía doanh nghiệp Việt Nam được chuyển sang cho
đối tác nước ngoài phải được soạn thảo trọng tâm, trọng điểm, phân biệt rõ đối
14
14
tượng đọc, đối tượng trình bày chuyên nghiệp nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý của
các khách hàng Châu Phi.
Để nâng cao hiệu quả của công tác nhân lực của doanh nghiệp, Chính phủ cần
nhanh chóng ban hành văn bản quy định về chế độ thuế và mở rộng quyền quyết định
của chức danh tổng giám đốc, linh hồn của một đơn vị kinh doanh sản xuất. Ngoài ra,
Chính phủ cần có chính sách khuyến khích các tu nghiệp sinh Việt Nam ở nước ngoài
trở về nước làm việc. Với những kiến thức tiên tiến, phong phú và những bài học
kinh nghiệm được tiếp nhận từ quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc tại các
nước, lực lượng này sẽ có những đóng góp tích cực vào việc nâng cao năng lực sản
xuất của các doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trường được xem là còn khá mới mẻ đối với Việt Nam này.
2.1.4. Cung cấp thông tin thị trường Châu Phi
Cung cấp thông tin là một biện pháp không thể thiếu mà chỉ Nhà nước mới có
khả năng thực hiện thông qua các Bộ, ngành trung ương, qua các ban, ngành ở địa

đến đường lối, chiến lược, chính sách phát triển vĩ mô, môi trường pháp lý, động thái
thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp,... nhằm cung cấp cho những nhà hoạch
định chính sách trong và ngoài nước những cơ sở xác tín để phân tích, đánh giá và có
những đề xuất mang tính khoa học, thiết thực và kịp thời cho các cơ quan chức năng
của Nhà nước. Ngoài việc giúp đảm bảo định hướng đúng cho Nhà nước và các cơ
quan quản lý nhà nước nghiên cứu cụ thể thị trường Châu Phi, thông tin còn tạo điều
kiện cần thiết để thúc đẩy thực thi chính sách khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng.
Vì vậy, cần tiến hành nghiên cứu thường xuyên và chi tiết thị trường từng nước, bao
gồm những đặc điểm chung và riêng về từng khía cạnh cụ thể, như: Điều kiện địa lý
tự nhiên, điều kiện chính trị và văn hoá xã hội, dân số và phân bổ dân số, sức mua,
thói quen tiêu dùng, tình hình kinh tế thương mại, liên kết kinh tế khu vực và quốc tế,
đối thủ cạnh tranh, hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, phương thức thanh toán...
Bên cạnh đó, phải có những nhận định, đánh giá và dự báo tác động của từng yếu tố
liên quan đến thương mại của từng nước đối với Việt Nam. Ngoài khả năng tự triển
khai hoạt động nghiên cứu của từng doanh nghiệp, Nhà nước với điều kiện và khả
năng thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn thông qua hệ thống các cơ quan đại diện ở nước
16
16

Trích đoạn Khi tập trung cho xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu phi trước hết cần nâng cao năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm xuất khẩu tiêu biểu
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status