KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á BÀI HỌC CHO VIỆT
NAM
I. CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA TRUNG QUỐC
1. Chất lượng tăng trưởng về kinh tế
1.1. Kết quả sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế
Là nước có nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc đã có những bước tiến dài
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội kể từ khi bắt đầu tiến hành việc cải cách mở cửa nền kinh tế vào năm 1979.
Qua 25 năm đổi mới, kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng và đã đạt được nhiều kết quả to lớn trong sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng như xây dựng được một nền tảng xã hội vững chắc, thể chế chính trị ổn định,
đảm bảo sự tăng trưởng có chất lượng.
Trung Quốc hiện đứng trong số 10 nước có GDP lớn nhất thế giới, đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong lịch
sử loài người. Trong thập kỷ 1980, mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc đạt 10,1%, sang
thập kỷ 1990, mức tăng này còn cao hơn, đạt 10,3%. Từ năm 2001 đến nay GDP của Trung Quốc vẫn liên tục đạt
mức cao, cụ thể năm 2001 đạt 7,3%; năm 2002 đạt 8,3%; năm 2003 đạt 9,3%; năm 2004 đạt 9,5%; năm 2005 đạt
9,2% và dự đoán năm 2006 đạt khoảng 8,8%.
Năm 1995, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là 2653 USD, rút ngắn khoảng cách so với GDP bình
quân đầu người của Châu Âu xuống còn 5,3 lần, so với Mỹ còn 8,8 lần, so với Nhật Bản tăng lên bằng 7,4 lần, so
với GDP bình quân đầu người trên thế giới giảm từ 4,2 lần năm 1952 còn có 2 lần.
Mức tăng trưởng cao mà Trung Quốc đạt được trong suốt 25 năm qua chính là kết quả của sự đổi mới trong tư
duy của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đã mạnh dạn và kiên quyết thực hiện các chính sách
đổi mới kinh tế, đưa nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Các chính
sách kinh tế vĩ mô liên tục được thay đổi theo hướng ngày càng nới lỏng sự kiểm soát của Chính phủ đối với thị
trường, bắt đầu từ khu vực nông nghiệp, sau đó mở rộng sang khu vực công nghiệp và cuối cùng là khu vực dịch vụ.
Thay đổi căn bản và sâu sắc nhất để hướng về một nền kinh tế tự do và thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ hơn chính là
việc sửa đổi Hiến pháp năm 2004. Tất cả những sự thay đổi này đã tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân, bộ phận đóng
vai trò chủ chốt trong nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ.
Đóng góp trước tiên về tăng trưởng nền kinh tế của Trung Quốc phải kể đến thành quả của quá trình chuyển đổi
trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành. Đồng thời với việc đi sâu cải cách, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện điều
chỉnh mang tính chiến lược đối với cơ cấu kinh tế, lấy cơ cấu ngành làm trọng tâm, coi cơ cấu ngành có tác dụng
quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng cao
và bền vững của nền kinh tế.
thức tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc. Phương châm đặt ra đối với Trung Quốc từ những năm đầu thập kỷ 1990 là:
chú trọng phát triển ngành nghề thứ nhất, điều chỉnh và nâng cao ngành nghề thứ hai, tích cực phát triển ngành nghề
thứ ba. Phát triển ngành nghề thứ nhất, đặc biệt là nông nghiệp được coi là chiến lược cơ sở của Trung Quốc vì sản
xuất lương thực liên quan đến sự tồn vong, đến tương lai của Trung Quốc. Phát triển ngành nghề thứ ba giúp thúc
đẩy thị trường phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất, giúp ngành nghề thứ nhất và thứ hai phát triển.
Nhờ những thay đổi trong cơ cấu ngành đã tạo tiền đề thúc đẩy thương mại Trung Quốc phát triển và trở thành
động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là kể từ sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc tăng lên hàng năm. Tốc
độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu của Trung Quốc trong giai đoạn 2001 – 2005 luôn được duy trì ở mức trên 20%. Cụ
thể, năm 2001, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 509,67 tỷ USD, năm 2002, 620,79 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm
2001, năm 2003 đạt 851,21 tỷ USD, tăng 37,1% so với năm 2002, năm 2004 đạt 1155,28 tỷ USD, đến năm 2005 con
số này đã đạt hơn 1.421 tỷ USD. Với tốc độ tăng trưởng cao liên tục như vậy cho thấy, mô hình tăng trưởng ngoại
thương của Trung Quốc đã có những thay đổi sâu sắc.
Mức tăng trưởng cao đạt được còn là kết quả của những yếu tố trong tổng cầu. Tỷ lệ tiết kiệm cao dẫn đến tỷ lệ
tích lũy và mức đầu tư cao. Tỷ lệ dự trữ trong nước cao thể hiện qua lượng tiền gửi trong nước tăng hàng năm, trong
đó tiền gửi tiết kiệm của nhân dân thành thị và nông thôn chiếm 2/3 trong GDP. Thời gian qua, Trung Quốc đã rất
thành công trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nguồn vốn này đã tăng
nhanh chóng, từ 4,4 tỷ USD năm 1991 lên 53,3 tỷ USD năm 2003; 60,6 tỷ USD năm 2004 rồi 60,33 tỷ USD năm
2005, đưa Trung Quốc lên vị trí dẫn đầu thế giới về tiếp nhận FDI. Chính hai nhân tố này đã khiến cho Trung Quốc
duy trì tốc độ tăng trưởng cao và thúc đẩy quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế của Trung Quốc.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc chấp nhận mức lạm phát cao 11 -15%/năm, trong giai đoạn năm
1994 – 2001, để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số với tăng mức cung tiền thêm lên tới 59.223,82 tỷ NDT, tương
đương 701 tỷ USD. Tuy nhiên, chính sách này không đảm bảo bền vững, theo đánh giá của WEF, điều này thể hiện
những yếu kém về thể chế; sự trì trệ trong các điều chỉnh cải cách tài chính; tỉ lệ công nghệ mới đưa vào nền kinh tế
thấp và tỷ lệ lao động trình độ cao còn thấp. Hiện nay, tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc đã được kiềm chế ở mức thấp,
song tăng trưởng vẫn còn thể hiện những bất cập nghiêm trọng. Điển hình đó là sự tăng trưởng nền kinh tế quá cao
lại do sự đầu tư quá nhiều vào bất động sản; tình trạng vay tín dụng quá lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng;... gây ra tình
trạng tăng trưởng ảo và lạm phát là điều tất yếu sẽ xảy ra.
Biểu đồ 5: Biến động lạm phát của Trung Quốc
(1990 – 2003)
9
5
1
9
9
6
1
9
9
7
1
9
9
8
1
9
9
9
2
0
0
0
2
0
0
1
2
0
0
2
Thứ hai, sự cải thiện trong cơ cấu vốn. Sự cải thiện này được thấy ở việc chuyển sang phụ thuộc nhiều hơn vào
máy móc thiết bị nhập khẩu – có chất lượng cao hơn với giá rẻ hơn.
Thứ ba, đầu tư phát triển khoa học - công nghệ. Tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc luôn đi liền với sự phát triển
của lĩnh vực khoa học - công nghệ. Tổng mức kinh phí chi cho hoạt động khoa học toàn quốc năm 1999 là 125 tỷ
NDT. Năm 2000, tỷ trọng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D)/GDP của Trung Quốc đạt 1,0%
(tương đương với khoảng 89,6 tỷ NDT, tăng 17,9% so với năm trước), vượt lên đứng hàng đầu trong các nước phát
triển. Sự phát triển của khoa học - công nghệ đã góp phần không nhỏ trong việc tăng năng suất lao động xã hội, thúc
đẩy sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào sản xuất, tăng tỷ trọng đóng góp của TFP trong mức tăng trưởng GDP.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nhanh ở Trung Quốc lại không dẫn đến việc năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
được nâng cao. Ngược lại, trong những năm gần đây, theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF – World
Economic Forum), vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh của Trung Quốc liên tục tụt bậc. Nếu như năm 2002, xếp
hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Trung Quốc là 33 trên tổng số 80 nước được xếp hạng, thì đến năm 2003
đã tụt 11 bậc xuống vị trí thứ 44, năm 2004 là 46 và năm 2005 là 49. Trong đó, chỉ số môi trường vĩ mô có sự suy
giảm mạnh nhất từ vị trí rất cao (thứ 8) năm 2002 xuống vị trí thứ 24 năm 2004 và 33 năm 2005. Điều này xuất phát
từ thực tế là trong vòng 2 - 3 năm qua, Trung Quốc đang áp dụng các biện pháp để kiềm chế, kiểm soát sự tăng
trưởng quá nóng, cũng như do cầu tăng mạnh đã thúc đẩy lạm phát gia tăng.
2. Hiệu lực quản lý nhà nước của Trung Quốc
2.1. Các chính sách vĩ mô
2.1.1. Chính sách tài khóa
Trong điều hành bằng các chính sách kinh tế vĩ mô, Trung Quốc chú trọng sử dụng chính sách tài khóa, coi đây
là động lực tiên phong thúc đẩy kinh tế tăng trưởng một cách bền vững. Trong suốt gần 30 năm qua, Trung Quốc đã
kiên trì thực hiện chính sách chi tiêu NSNN hết sức thận trọng, kiểm soát chặt chẽ thâm hụt NSNN, tạo môi trường
kinh tế vĩ mô ổn định, thuận lợi cho kinh tế tăng tốc lâu dài. Từ 1978 đến nay, Trung Quốc kiên quyết không phát
hành tiền cho chi tiêu và bù đắp thâm hụt NSNN trong trường hợp thu NSNN không đủ cho chi tiêu của Chính phủ.
Thay vào đó, tích cực thi hành chính sách động viên (chính sách thu) và chính sách chi NSNN đúng đắn, nhờ vậy
mà kinh tế nước này đã được thúc đẩy tăng tốc với nhịp độ cao chưa từng thấy. Độ ổn định và cân bằng NSNN của
Trung Quốc chỉ dao động trên dưới 0,9% GDP, vào loại vững chắc nhất thế giới.
Cùng với đó là các chính sách điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu chi NSNN, bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế –
xã hội. Tỷ lệ đầu tư vào các dự án sản xuất giảm dần cho thấy Nhà nước đã chủ động rút dần khỏi hoạt động sản
xuất kinh doanh thuần túy vốn có trong kinh tế kế hoạch để tập trung cho chức năng hoạch định chính sách, điều
Những vấn đề còn tồn tại
Theo đánh giá của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, bên cạnh những thành tựu trong cải cách NSNN của
Trung Quốc, vẫn còn nhiều vấn đề tiếp tục phải cải cách, điều chỉnh, mà tựu trung lại là:
- Do NSTW eo hẹp nên Chính phủ không thể lập ra được các chương trình tầm cỡ nhằm hỗ trợ các vùng khó
khăn, nghèo và kém phát triển, dẫn đến tình trạng Trung Quốc trở thành một trong ba nước bị mất cân đối lớn nhất
trên thế giới.
- Việc xây dựng quỹ ngân sách bổ sung và quỹ ngoài ngân sách (ước tính chiếm 12% GDP) đang có những điều
bất cập. Phát sinh tình trạng nhiều địa phương tìm cách chuyển các khoản thu trong ngân sách sang quỹ ngoài ngân
sách để tránh phải phân chia với TW.
Cuối những năm 1990 và bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, chính sách tài khóa của Trung Quốc tuy đã
có những thay đổi đáng kể và thu được kết quả tích cực, song không phải không có vấn đề còn tồn tại. Mức độ nợ
của tài chính nhà nước tăng nhanh, từ 20% năm 1995, lên 29,7% năm 1998 và 30,6% năm 1999; đối với NSTW thì
tỷ trọng nợ gia tăng còn cao hơn, năm 1994 là trên 50%; năm 1998 đạt 71,1%. Tỷ lệ trả nợ từ NSNN cũng tăng
mạnh, tỷ lệ trả nợ của NSNN và NSTW năm 1995 tương ứng là 14,1% và 27,1% thì tới năm 1998 hai chỉ số này đã
là 23,8% và 48,1%.
- Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá mức vào đầu tư của Nhà nước, đầu tư của xã hội tuy được khôi phục
nhưng với tốc độ chậm và yếu, đe dọa cơ sở tăng trưởng bền vững trong tương lai. Nếu thời kỳ 1993 - 1997 đầu tư
mới tăng của xã hội chỉ phụ thuộc khoảng 40 - 45% đầu tư nhà nước thì năm 1999 chỉ số này đã là 90%
2.1.2. Chính sách tiền tệ
Cung ứng tiền tệ
Trong những năm qua, với mục tiêu theo đuổi một mức lạm phát thấp và ổn định, Trung Quốc kiên trì thực hiện
điều tiết mức cung tiền hẹp.
Năm 1993, mức cung tiền tăng lên đột ngột (khoảng 35%), dẫn đến tỷ lệ lạm phát ở Trung Quốc tăng lên 24%. Liên
tục các năm sau đó, Chính phủ phải áp dụng các biện pháp giảm mạnh mức tăng cung tiền M2, năm 1994, 1995 tương
ứng mức cung tiền chỉ tăng thêm 261,61 tỷ NDT và 183,53 tỷ USD. Trong những năm khủng hoảng tiền tệ châu Á, chính
việc thắt chặt mức cung tiền tệ, tốc độ tăng giữ mức xấp xỉ 15% trong năm 1998, 1999 đã giúp Trung Quốc hạn chế tối đa
tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng này. Lượng cung tiền giảm thấp nhất vào năm 2000 (tăng khoảng 12%). Song
giai đoạn này lượng cung tiền biến động đột ngột, năm 2001, lượng M2 tăng lên, tăng trưởng tiền tệ lên trên 18%; năm
2002 lại giảm xuống chưa đến 17%; năm 2003 cung ứng tiền tệ lại tăng mạnh, với tốc độ tăng là 20%.
Biểu đồ 6: Biến động lượng tiền mở rộng M2
Chính sách lãi suất
Chính sách lãi suất của Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, trở thành một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế một
cách hữu hiệu, đặc biệt từ giai đoạn khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á đến nay.
Thúc đẩy cải cách theo hướng thị trường hóa lãi suất, xây dựng chế độ lãi suất thị trường lấy lãi suất của Ngân hàng
Nhân dân làm cơ sở, điều chỉnh theo lãi suất thị trường, lấy quan hệ cung cầu quyết định lãi suất tiền gửi. Từ tháng 1 đến
tháng 12 năm 1998, Trung Quốc liên tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền cho vay và tiền gửi ngân hàng bằng NDT. Kết quả của
chính sách này đã tạo điều kiện cho Trung Quốc giảm được 263 tỷ NDT nợ lãi của các doanh nghiệp. Đồng thời đây cũng
là biện pháp kích thích sản xuất, tiêu dùng và tăng lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần ổn định tiền tệ. Cùng với việc
điều chỉnh lãi suất đồng nội tệ, Trung Quốc cũng đã liên tục hạ lãi suất đối với đồng ngoại tệ, từ mức 5%/năm vào tháng 5
năm 1998 xuống còn 3,75%/năm vào tháng 12/ 1998. Chính sách hạ lãi suất ngoại tệ đã giúp cho hệ thống ngân hàng
Trung Quốc vượt qua được khó khăn do ứ đọng vốn ngoại tệ gây ra. Mặt khác, Chính phủ Trung Quốc còn thực hiện các
biện pháp cải cách tài chính khác, như chính sách thuế, chính sách chi tiêu vay nợ, chính sách chỉnh đốn trật tự tài chính.
Tín dụng ngân hàng
Trong những năm vừa qua, tại Trung Quốc, tình trạng các khoản vay ngân hàng tăng nhanh, kéo theo nợ xấu của
ngân hàng gia tăng là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế nước này.
Cụ thể, trong giai đoạn 1998 - 2002, số dư các khoản vay tăng trung bình hàng năm là 1,1 – 1,9 nghìn tỷ NDT; năm
2003 tăng đột ngột 3 nghìn tỷ NDT, tương đương 24% GDP; chỉ tính riêng trong nửa đầu năm 2006, lượng cho vay
tăng mới đã là 1.783,4 tỷ NDT, đạt hơn 70% kế hoạch cả năm. Sự bùng nổ tín dụng gần đây khiến cho hệ thống
ngân hàng Trung Quốc đang phải đối diện với nhiều yếu tố rủi ro mà nghiêm trọng là tỷ lệ nợ xấu đã lên đến 30%
nợ vay. Nguyên nhân là do cơ cấu cho vay bất hợp lý, các khoản cho vay trung dài hạn chủ yếu đầu tư vào xây dựng
cơ bản, đầu tư bất động sản, khoản vay tiêu dùng cá nhân tăng chậm. Thêm vào đó, việc ngân hàng thả nổi cho vay
tín dụng, khiến đầu tư tài sản cố định tăng trở lại, đầu tư chậm và khó thu hồi gia tăng. Tính đến cuối quý I/2006, số
dư nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng trong nước là 1.312,47 tỷ NDT, trong đó tỷ lệ nợ xấu là 8,25%, số dư nợ xấu
tổn thất (khó đòi) là 480,82 tỷ NDT, chiếm 36,6% tổng số dư nợ xấu.
Để giải quyết tình trạng nợ xấu tại các ngân hàng, đặc biệt ở các ngân hàng quốc doanh, Nhà nước lại luôn tìm
cách “cứu trợ” tài chính cho các ngân hàng này và coi đây là một biện pháp hữu hiệu để điều tiết thị trường (năm
2003, đã bổ sung vốn cho hai ngân hàng thương mại quốc doanh 45 tỷ USD từ dự trữ ngoại hối), dẫn đến sự thiếu
lành mạnh trong thị trường tài chính, cản trở hoạt động hiệu quả của toàn hệ thống ngân hàng, gây thiệt hại cho nền
kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu mở cửa, Trung Quốc cần khắc phục “điểm yếu” này vì một hệ thống tài chính tiền tệ ổn
định là điều kiện tiên quyết giúp nền kinh tế tránh được những cú sốc từ bên ngoài khi hội nhập sâu hơn vào nền
trong năm 2005. Đồng thời dự trữ cao sẽ đảm bảo một cơ cấu nợ nước ngoài hợp lý, hiện nay, dự trữ Trung Quốc
nhiều hơn 10 lần so với tổng các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn của nước này. Lượng dự trữ ngoại hối lớn có thể
giúp Trung Quốc cứu trợ tài chính cho hệ thống ngân hàng khi cần thiết nhằm ổn định thị trường tài chính.
2.2. Công tác phòng chống tham nhũng tại Trung Quốc
Tuy chỉ số nhận biết tham nhũng (CPI) của Trung Quốc không cao, đạt 3,4 điểm (2004), song Trung Quốc được
đánh giá là một trong những nước đã có những cố gắng và thành công bước đầu trong công tác phòng, chống tham
nhũng.
- Chú trọng công tác giáo dục con người. Trung Quốc xác định giáo dục đạo đức cho công chức và xây dựng đội
ngũ công chức trong sạch liêm khiết là biện pháp quan trọng đầu tiên để hạn chế tham nhũng. Đảng Cộng sản và
Nhà nước Trung Quốc đã ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính
trong Đảng và Nhà nước. Đồng thời tiến hành tuyên truyền, giáo dục cho người dân nhận diện được các hành vi
tham nhũng, có thái độ căm ghét và tinh thần kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tạo ra môi trường xã hội
chống tham nhũng. Giáo dục chống tham nhũng được thực hiện trên qui mô “toàn Đảng” và “toàn xã hội”, kể cả ở
trẻ em. Chương trình giáo dục chống tham nhũng ở cấp tiểu học và trung học được đưa vào giảng dạy đầu tiên tại
Hàng Châu từ năm 2005, sau đó lan rộng ra các tỉnh thành khác như Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiên Tân, Hồ Bắc...
- Thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động mua sắm tài sản công của Nhà nước. Trung Quốc
thành lập 4 trung tâm giao dịch quốc gia để thực hiện các hoạt động đấu thầu xây dựng, mua bán đất đai, mua sắm
tài sản công...
- Ban hành các quy định làm cho công chức không có cơ hội lợi dụng vị trí công tác của mình nhằm thu lợi cá
nhân gây thiệt hại đến lợi ích chung. Trung Quốc quy định: cán bộ khi làm chức vụ lãnh đạo hoặc nghỉ hưu, thì trong
vòng 3 năm sau đó, không được kinh doanh ở những lĩnh vực có liên quan đến công việc trước đây mình phụ trách;
vợ (hoặc chồng), con cán bộ lãnh đạo không được kinh doanh ở các lĩnh vực do chồng (hoặc vợ), cha mẹ mình quản
lý. Từ năm 1997, Trung Quốc đã giải tán các cơ sở kinh doanh trong công an, quân đội, hải quan và cơ quan chấp
pháp, nhằm tránh lợi dụng quyền chức để tham nhũng.
- Quy định những điều công chức không được làm. Trung Quốc có Luật Giám sát hành chính để giám sát công chức
và đề ra “90 điều cấm” đối với cán bộ đảng viên. Ngày 31/12/2003, Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành Điều lệ
Giám sát nội bộ và Điều lệ Xử lý kỷ luật của Đảng, trong đó xác định đối tượng giám sát trọng điểm là cơ quan lãnh
đạo và cán bộ lãnh đạo các cấp, đặc biệt là người phụ trách của ban lãnh đạo.
- Quy định về việc kê khai tài sản của công chức. Tại Trung Quốc, mỗi năm 2 lần công chức phải kê khai tài sản.
Cán bộ lãnh đạo phải kê khai rõ các khoản như: tiền tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, đồ dùng có giá trị trên 10.000
. Đến giữa thế kỷ XXI, dân số tăng lên khoảng 1,7 - 1,8 tỷ người, lượng nước bình quân đầu người
sẽ chỉ còn trên dưới 1600m
3
.
Song có một điều đáng mừng là, dù ô nhiễm nước nhưng ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ của người dân Trung
Quốc nhìn chung được hạn chế bởi việc sử dụng rộng rãi nước uống sạch và các biện pháp vệ sinh. Các bệnh có liên
quan tới nước nói chung chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số bệnh tật và dịch bệnh. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm
ngày càng trầm trọng đã làm tăng chi phí của việc cấp nước sạch nói riêng và chi phí bảo vệ môi trường nói chung.
Tính tổng thể chi phí kinh tế do ô nhiễm nước và không khí ở Trung Quốc ước tính trung bình chiếm tới 38%
GDP/năm. Theo tính toán của các chuyên gia Trung Quốc, với mức độ ô nhiễm hiện nay, quốc gia này sẽ phải chi
khoảng 450 tỷ USD cho việc làm sạch môi trường. Đó là chưa kể Chính phủ có thể sẽ phải chi ra hàng tỷ USD về y
tế để đối phó với các loại bệnh tật do ô nhiễm gây ra.
Mối lo ngại lớn hơn trước tình trạng ô nhiễm nước ở Trung Quốc là làm căng thẳng thêm tình trạng thiếu nước.
Nước bị ô nhiễm theo dòng chảy lan sang các nguồn nước sạch, làm tình trạng khan hiếm nước sạch ngày càng tăng
lên. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước sạch sử dụng cho sản xuất nông nghiệp cũng phổ biến. Năm 1993,
khoảng 8% đất nông nghiệp phải dùng nguồn nước ô nhiễm, gây thất thu khoảng 1 triệu tấn ngũ cốc.
Đất canh tác đang bị khủng hoảng. Đất canh tác bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ bằng 32% bình quân
đầu người của thế giới. Trung Quốc chỉ chiếm 7% diện tích canh tác của thế giới nhưng lại phải nuôi sống 22% dân
số thế giới. Tuy nhiên, điều này chưa phản ánh thực chất nguy cơ đất canh tác của Trung Quốc mà khủng hoảng đất
canh tác của Trung Quốc trước hết thể hiện ở chỗ hầu như không có tài nguyên đất bổ sung. Sự giảm diện tích đất
canh tác trong thế kỷ XXI của Trung Quốc được dự báo là sẽ gia tăng. Miền bắc Trung Quốc là nơi có khá nhiều đất
canh tác nhưng do thiếu nước nên khó phát huy tiềm năng sản xuất, trong khi điều kiện khí hậu miền Nam khá tốt
nhưng diện tích đất trồng trọt lại rất ít. Trong 28 năm, từ 1957 đến 1985, dù thường xuyên được bổ sung đất khai
hoang, đất canh tác vẫn giảm bình quân hàng năm 530.000 ha; đến năm 2000 dù đã khống chế chặt chẽ nhưng dự
tính vẫn mất mỗi năm 230.000 ha đất để dành cho xây dựng, do thiên tai và sự điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp cũng
làm giảm 130.000 ha đất canh tác. Dự tính đến năm 2100, Trung Quốc có khả năng sẽ chỉ còn lại 80 triệu ha đất
canh tác. Khi đó dân số đã lên 2 tỷ và bình quân đầu người sẽ chỉ còn 0,04 ha. Tình trạng thiếu đất canh tác nghiêm
trọng khiến cho người dân phải đổ về các thành phố hoặc khai phá đất đồi rừng hoặc thảo nguyên, từ đó làm cho
môi trường sinh thái đô thị, nông thôn tiếp tục xấu đi và khó bền vững.
Mưa axít ngày càng nghiêm trọng. Cơ cấu năng lượng chủ yếu lấy từ than của Trung Quốc chính là một nguyên
các ngành công nghiệp có triển vọng như viễn thông nhằm hạn chế các hoạt động kinh doanh gây lãng phí năng
lượng và nguồn tài nguyên khác. Chính phủ đã quyết định chuyển dịch đầu tư kinh tế từ khu vực Nhà nước sang cho
khu vực tư nhân gánh chịu song song với việc kiểm soát môi trường chặt chẽ hơn. Chính phủ thắt chặt việc thi hành
luật song song với vấn đề bảo vệ môi trường: Những doanh nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng và gây ô nhiễm sẽ bị
đóng cửa, doanh nghiệp và cá nhân gây ô nhiễm nặng nề sẽ bị phạt (Trong năm 2005, gần 30.000 vụ vi phạm môi
trường bị điều tra và trừng phạt trong đó 2.609 doanh nghiệp buộc phải ngưng hoạt động hoặc đóng cửa); thực hiện
các dự án lớn nhằm giải quyết ô nhiễm môi trường, đặc biệt là xử lý từng bước ô nhiễm nước, không khí và đất.
4. Phúc lợi xã hội, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo
4.1. Phúc lợi xã hội
Liên tục trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã vươn lên vị trí hàng đầu thế giới về tỷ lệ tăng trưởng cao, kéo theo
đó là sự phát triển về mọi mặt đời sống xã hội của nước này. Thông qua các chương trình hỗ trợ của Chính phủ, cuộc
sống của người dân Trung Quốc đã được nâng cao cả về lượng và chất. Giá trị HDI của Trung Quốc liên tục được
cải thiện. Năm 2003 chỉ số HDI là 0,755 tương ứng với vị trí 85/177 trong bảng xếp hạng HDI. Chỉ số HDI tăng lên
do giá trị các chỉ số thành phần (chỉ số giáo dục, chỉ số tuổi thọ và chỉ số kinh tế) đều có sự cải thiện đáng kể.
Năm 1995, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là 2.653 USD, rút ngắn khoảng cách so với GDP bình
quân đầu người của châu Âu xuống còn 5,3 lần, so với Mỹ còn 8,8 lần, so với Nhật Bản bằng 7,4 lần, so với GDP
bình quân đầu người trên thế giới giảm từ 4,2 lần năm 1952 xuống còn có 2 lần. Thu nhập bình quân đầu người tăng
lên đã giúp làm tăng giá trị chỉ số kinh tế trong điểm số HDI của Trung Quốc.
Chỉ số giáo dục của Trung Quốc được cải thiện nhờ tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn vốn con người - một
nhiệm vụ được chính phủ Trung Quốc đang hết sức coi trọng. Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh cơ cấu giáo dục
theo hướng tăng cường giáo dục cơ sở, trước mắt về cơ bản xóa bỏ nạn mù chữ. Nhờ vậy mà tỷ lệ phổ cập giáo dục
tiểu học của Trung Quốc đạt 94,6% vào năm 2004 và tỷ lệ biết chữ của người lớn là 91% (Theo Báo cáo giám sát
giáo dục toàn cầu 2005 của UNESCO).
Hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt ở các thành phố của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể. Năm 1999, Trung
Quốc đã chi khoảng 554 triệu USD về việc đảm bảo cuộc sống cơ bản cho người nghèo đô thị, đây là mức chi lớn
nhất từ trước đến nay về vấn đề này. Cho đến đầu năm 2002 đã có khoảng 13 triệu trong gần 20 triệu người nghèo
ở các đô thị Trung Quốc được hưởng trợ cấp từ chương trình này, đa số những người thất nghiệp, cán bộ hưu trí và
các gia đình có thu nhập thấp, tăng 76% so với năm trước. Hệ thống này cho đến nay đã được thực hiện ở các khu
đô thị nghèo ở Bắc Kinh, Giang Tô, Triết Giang và Quảng Đông.
Từ giữa những năm 1990, chế độ lương hưu và bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc đã có sự thay đổi cơ bản, bảo
Hiện nay, dân số Trung Quốc là hơn 1,3 tỷ người và có thể lên đến 1,5 tỷ người vào năm 2050. Để giảm tỷ lệ
tăng dân số, Trung Quốc đã ban hành chính sách “Mỗi gia đình chỉ có 1 con” nhằm hạn chế sinh đẻ. Chính sách này
có nhiều đóng góp tích cực, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế xã hội trong những thập
kỷ qua, nhưng đến nay, Trung Quốc đang phải đối mặt với tình trạng mất cân đối giữa nam và nữ trầm trọng. Bởi lẽ
vì chỉ được phép sinh 1 con nên người Trung Quốc luôn tìm cách để sinh con trai và theo dự báo, đến năm 2020,
Trung Quốc sẽ có khoảng 40 triệu đàn ông cô đơn. Một vấn đề nan giải nữa mà Trung Quốc đang phải đối mặt đó là
hiện nước này có số dân cao tuổi đông nhất thế giới. Theo tờ China Daily, hiện nay Trung Quốc có 94 triệu người
trên 65 tuổi, chiếm 7% dân số. Trong vòng 50 năm nữa, con số này sẽ vượt quá ngưỡng 400 triệu người và sẽ chiếm
tới 24% dân số. Mất cân đối nam – nữ và sự già đi nhanh chóng của tháp dân số Trung Quốc đang đặt ra những
thách thức đó, đòi hỏi Trung Quốc phải tìm được lối thoát cho chính sách dân số gắn với sự phát triển kinh tế - xã
hội bền vững của đất nước.
4.3. Xóa đói giảm nghèo
1 Sử dụng tư liệu bài viết “Những vấn đề nan giải trong phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc hiện
nay”, Thông tin chọn lọc phục vụ lãnh đạo, số 5 – tháng 3/2006, Viện Khoa học tài chính.
2 Báo cáo phân tích thu nhập của nông dân Trung Quốc của Vương Mẫn Quý, Trung tâm phát triển
Quốc vụ Viện Trung Quốc.
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc, xóa đói giảm nghèo là một mục tiêu ưu tiên. Từ đầu
những năm 1990, Trung Quốc đã đưa ra nhiều giải pháp tích cực để giải quyết vấn đề đói nghèo của dân cư. Năm
1994, Trung Quốc đề ra “Kế họach 8-7” nghĩa là trong vòng 8 năm thực hiện xóa nghèo cho 70 triệu người. Tháng 9
năm 1996, Hội nghị công tác đẩy mạnh chống đói nghèo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu rõ “Dù
nhiệm vụ gian khổ như thế nào, thì mục tiêu cuối thể kỷ này phải giải quyết vấn đề ăn no mặc ấm cho những người
nghèo khổ ở nông thôn nước ta cũng không được thay đổi”. Kết quả công tác chống đói nghèo của Trung Quốc đã
có những thành công nhất định.
Theo kết quả điều tra hàng năm của Tổng cục Thống kê Trung Quốc đều tiến hành các nghiên cứu ngân sách của
các gia đình nông dân, với chuẩn nghèo của quốc gia là thu nhập bình quân đầu người ít hơn 4,1 NDT/ngày (0,5
USD), cho thấy tình trạng nghèo đói của Trung Quốc đã được cải thiện qua các năm. Năm 1995 có 56,6%, năm
2000 là 32,1%, năm 2001 là 30,2%, năm 2002 là 28,3%, năm 2003 là 26,5% số hộ nghèo. Đối chiếu với chuẩn
nghèo quốc tế, mức thu nhập đầu người thấp hơn 8,2 NDT/ngày (ít hơn 1 USD/ngày) thì tỷ lệ hộ nghèo năm 1990 là
hơn 90%, năm 2000 là gần 74,9%, năm 2001 là 72,4%, năm 2002 là 69,8%, năm 2003 là 66,9% các hộ dân nông
thôn.