LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA MỘT SỐ NƯỚC SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC - Pdf 67

LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU KINH NGHIỆM
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA MỘT SỐ NƯỚC SANG
THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
1.1 . Lý luận về xuất khẩu hàng hoá
1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu
- Trên thực tế, các lĩnh vực sản xuất ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhịp
nhàng cùng với sự phát triển của xã hội. Mỗi quốc gia trên thế giới đã tự sản xuất
được khối lượng hàng hoá lớn, phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu
dùng các sản phẩm mới của con người là một nhân tố quan trọng kích thích việc
buôn bán, trao đổi hàng hoá, các sản phẩm của các quốc gia. Hoạt động này có từ
rất sớm, đó chính là tiền thân của hoạt động xuất- nhập khẩu. Vậy xuất khẩu hàng
hoá, dịch vụ là gi?
- Xuất khẩu là một hoạt động đưa hàng hoá- dịch vụ từ quốc gia này sang
quốc gia khác để bán. Đây là một hoạt động xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường nước
ngoài một cách hiệu quả và phù hợp với sự phát triển kinh tế của các quốc gia có
lợi thế so sánh về một hay nhiều sẩn phẩm nào đó.
- Tham gia vào hoạt động xuất khẩu này bao gồm các cá nhân, doanh
nghiệp, tổ chức và chính phủ của các quốc gia. Đây là những chủ thể không thể
thiếu của một nền kinh tế.
- Để xuất khẩu hàng hoá sang một quốc gia khác, các nhà xuất khẩu cần tìm
hiểu, nắm vững nhu cẩu, thị hiếu, phong cách tiêu dùng của thị trường nước nhập
khẩu. Thông thường nước nhập khẩu có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm có uy tín,
thương hiệu, đa dạng về mẫu mã, chủng loại, an toàn cho sức khoẻ của người tiêu
dùng. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, đời sống con người ngày một được nâng
cao, hơn lúc nào hết, nhu cầu tiêu thụ những loại hàng hoá có uy tín, thương hiệu,
có xuất sứ rõ ràng, tuân theo những quy định về an toàn vệ sinh,…của người tiêu
dùng ở nước nhập khẩu nói riêng, trên thế giới nói chung là rất lớn. Vì vậy, đứng ở
góc độ nước xuất khẩu, nhà xuất khẩu Việt Nam cần có những chiến lược, sách
lược phù hợp để tăng cường xuất khẩu hàng hoá ra thị trường quốc tế nhất là khi
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO.
- Để xuất khẩu cần có những kênh riêng, đó là hoạt động xuất khẩu. Hoạt

+ Giúp người bán không bị chia sẻ lợi nhuận.
+ Giúp xây dựng các chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp.
- Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp:
+ Chi phí tiếp thị ở thị trường nước ngoài cao cho nên những doanh nghiệp
có quy mô nhỏ, ít vốn thì nên xuất khẩu uỷ thác có lợi hơn.
+ Kinh doanh xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi phải có những cán bộ có nghiệp vụ
kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi: không những giỏi về giao dịch đàm phán mà còn
phải am hiểu và có kinh nghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán
quốc tế thông thạo, có như vậy thì mới đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xuất
khẩu trực tiếp có hiệu quả. Đây vừa là một yêu cầu đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh xuất khẩu trực tiếp lại vừa thể hiện điểm yếu của đa số các doanh nghiệp
Việt Nam khi tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế này.
- Cách thức tiến hành xuất khẩu trực tiếp:
Để tiến hành xuất khẩu trực tiếp cần:
+ Nghiên cứu thị trường, thương nhân.
+ Đánh giá hiệu quả của thương vụ kinh doanh thông qua việc xác định các
tỷ giá xuất khẩu và tỷ giá nhập khẩu. Chỉ thực hiện kinh doanh khi tỷ giá xuất khẩu
nhỏ hơn tỷ giá hối đoái.
+ Tổ chức các giao dịch đàm phán qua các hình thức: thư tín hỏi hàng, báo
giá, chào hàng, hoàn giá…hoặc gặp gỡ trực tiếp để đàm phán, thoả thuận, ký kết
hợp đồng.
+ Thực hiện ký kết hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu.
+ Tổ chức thực hiện hợp đồng mà hai bên đã ký.
1.1.2.2. Hình thức xuất khẩu gián tiếp
- Khái niệm: Hình thức xuất khẩu gián tiếp hay giao dịch qua trung gian là
hình thức mua bán quốc tế được thực hiện khi nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ
ba. Người này được hưởng một khoản tiền nhất định.
- Các trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là các đại lý, môi giới.
+ Đại lý là người hoặc một công ty uỷ thác cho người khác, công ty khác
thực hiện mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như quảng cáo, vận tải

lượng hàng hoá đem trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Ở đây, mục đích của
xuất khẩu không nhằm thu ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị
tương đương.
- Hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu:
+ Hàng đổi hàng: hai bên trao đổi hàng hoá có giá trị tương nhau, việc giao
hàng diễn ra đồng thời.
+ Trao đổi bù trừ: hai bên trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở ghi giá trị hàng
giao, đến cuối kỳ hạn hai bên mới so sánh đối chiếu giữa giá trị hàng giao và hàng
nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như vậy mà còn số dư thì tiền đó sẽ được giữ lại
để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ và những khoản chi tiêu của bên chủ tại
nước bị nợ.
- Dù tiến hành theo hình thức nào các bên cũng phải tôn trọng nguyên tắc
cân bằng. Nguyên tắc này được thể hiện:
+ Cân bằng về mặt hàng: hàng quý đổi lấy hàng quý, hàng ế thừa đổi lấy
hàng ế thừa
+ Cân bằng giá cả: cùng tính cao hơn hay thấp hơn giá cả quốc tế.
+ Cân bằng điều kiện giao dịch: cùng giao FOB cảng đi hay cùng giao CIF
cảng đến
+ Cân bằng về tổng giá trị hàng hoá mà các bên giao cho nhau.
1.1.2.4. Gia công quốc tế
- Khái niệm: gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu
trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ
liệu hay bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công
trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Sau
khi các sản phẩm được làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia
công và nhận một khoản tiền gọi là phí gia công.
- Ưu điểm của gia công xuất khẩu:
+ Thị trường tiêu thụ sẵn có, không phải lo chi phí cho hoạt động bán sản
phẩm đầu ra.
+ Vốn đầu tư cho sản xuất là nhỏ.

xuất khẩu hàng hoá sang nước thứ hai, nước thứ hai có vai trò là một trung gian vì
thế rủi ro lúc này được san sẻ.
- Nhược điểm là lợi nhuận mà các nhà xuất khẩu thu được thấp do các chi
phí về dịch vụ vận tải, bến bãi…là tương đối lớn.
1.1.2.6. Xuất khẩu tại chỗ
- Xuất khẩu tại chỗ là hình thức bán hàng cho nước ngoài ngay trên lãnh thổ
nước mình.
- Ưu điểm: do bán hàng hoá ngay trên lãnh thổ nước mình cho nên các nhà
xuất khẩu tại chỗ ít gặp rủi ro về chính trị, pháp luật, vận chuyển…Do đó tiết kiệm
được chi phí giao dịch, vận chuyển.
- Nhược điểm: số lượng hàng hoá bán được không lớn do mảng thị trường
này chỉ gồm những người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước xuất khẩu
tiêu thụ.
Tóm lại, mỗi một hình thức xuất khẩu đều mang lại những hiệu quả cũng
như những hạn chế, khó khăn nhất định. Vì vậy, đứng ở góc độ nhà xuất khẩu, Việt
Nam cần có những chiến lược, định hướng lựa chọn phù hợp với sự phát triển kinh
tế, khả năng, năng lực của Việt Nam để thu được hiệu quả kinh tế cao nhất góp
phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
1.1.3. Các bước tiến hành xuất khẩu
1.1.3.1. Nghiên cứu và tiếp cận thị trường
- Trên thực tế, trong sân chơi thương mại quốc tế ngày càng diễn ra sự cạnh
tranh gay gắt, khốc liệt. Bước vào giai đoạn toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế, hiện
đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu, các doanh nghiệp, các nhà xuất khẩu Việt
Nam nói riêng cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng thị trường trước khi quyết
định xuất khẩu hàng hoá của nước mình. Những thông tin về thị trường là tiền đề
cho chiến lược kinh doanh của các nước xuất khẩu. Bởi lẽ khai thác được những
thông tin này chính là biết được môi trường, nhu cầu, thị hiếu, thói quen tiêu dùng
của khách hàng, để từ đó biết được cần xuất khẩu mặt hàng gì? đối tượng xuất
khẩu nào? ở đâu? đối thủ cạnh tranh là ai?
- Sau khi thu thập, xử lý thông tin do thị trường cung cấp, các nhà xuất khẩu

quan, thủ tục thanh toán…chính là thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Trong quá trình
thực hiện hợp đồng cần chú ý đến các điều khoản mà hai bên đã ký kết để tránh,
giảm tranh chấp ngoại thương cho cả hai bên, từ đó hợp dồng sẽ được thực hiện
một cách nhanh chóng và mang lại hiệu quả.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu
Quá trình xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó có những yếu tố cơ bản sau đây:
1.1.4.1. Yếu tố kinh tế
- Thị trường cần có sức mua, cũng như cần có người mua. Sự thay đổi của
các yếu tố như thu nhập, chi phí sinh hoạt, lãi suất và kết cấu tiết kiệm của một
quốc gia có tác động tức thời đến thương trường cho nên các nhà quản trị cần hiểu
rõ những khuynh hướng chính yếu diễn ra các vấn đề này. Một yếu tố cơ bản để
phản ánh bề rộng của thị trường tiềm năng đó là dân số mà quan trọng hơn nữa là
họ phải nghiên cứu, so sánh tốc độ của GNP tăng so với tốc độ tăng dân số để dự
đoán khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường của quốc gia mình. Theo đó, các nhà
nghiên cứu cần phải nghiên cứu mức phân bố theo tuổi, đặc tính phân phối thu
nhập ở đó.
- Một trong những yếu tố khác chính là đặc điểm khác nhau của các nền
kinh tế. Chẳng hạn như quốc gia mà nền kinh tế còn chưa phát triển thì việc nghĩ
đến hoạt động xuất khẩu là ít, còn một quốc gia có nền kinh tế mở cửa, đang trong
quá trình CNH- HĐH có chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu thì kim ngạch xuất
khẩu sẽ chiếm phần nhiều trong tổng sản phẩm quốc nội của nước đó. Bởi lẽ, với
chiến lược này cơ hội kinh doanh cho các công ty, các nhà xuất khẩu là rất lớn.
Cũng với chiến lược đó việc dự báo những biến động kinh tế, các hoạt động xúc
tiến của cơ quan quản lý nhà nước đã giúp các nhà xuất khẩu vượt qua những khó
khăn mà thị trường mới mang lại.
1.1.4.2. Môi trường văn hoá- xã hội
- Con người thường lớn lên từ một môi trường xã hội nhất định nào đó. Đó
là cái nôi hình thành những nhân cách, những niềm tin cơ bản, những tiêu chuẩn và
cả những giá trị tiêu chuẩn của họ. Văn hoá- xã hội là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn

nhập thị trường sao cho tạo được mức giá cạnh tranh nhất.
- Công cụ phi thuế quan: Đây cũng là một công cụ để khuyến khích hay hạn
chế xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Công cụ này bao gồm:
+ Hạn ngạch: do nhà nước đặt ra nhằm quy định số lượng hàng hoá cao nhất
của một mặt hàng hay một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu
từ một quốc gia trong một thời gian nhất định. Đây là công cụ nhằm hạn chế hàng
hoá xuất khẩu thâm nhập từ thị trường bên ngoài vào thị trường nội địa của một
quốc gia.
+ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là biện pháp mà một quốc gia đưa ra nhằm
hạn chế lượng hàng hoá của một nước thâm nhập vào quốc gia của mình một cách
tự nguyện, nếu không thực hiện sự tự nguyện này thì quốc gia xuất khẩu sẽ có thể
bị quốc gia nhập khẩu áp dụng các biện pháp trả đũa.
+ Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: bao gồm những quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm, các quy tắc xuất xứ, nhãn mác sinh thái của hàng hoá, các quy
định về an toàn và các chế độ của người lao động…Những tiêu chuẩn này đã và
đang dần dần thay thế cho các công cụ hành chính như thuế quan, hạn ngạch, nó
được coi như một công cụ bảo hộ các nhà sản xuất trong nước một cách tinh vi vì
nó không vi phạm các thông lệ quốc tế. Do đó các nhà xuất khẩu cần nắm vững
được những quy định này để đảm bảo các sản phẩm mà mình xuất khẩu tuân thủ
một cách chặt chẽ yêu cầu nước nhập khẩu đặt ra để tránh những rủi ro đáng tiếc
gây tổn thất cho doanh nghiệp của mình.
+ Ngoài ra các nước nhập khẩu còn áp dụng các công cụ khác như biện
pháp trả đũa, các quy định về chống bán phá giá, các công cụ trên thị trường tiền
tệ…Tất cả những công cụ đó đều mang đến cho các nhà xuất khẩu những rủi ro
khi thực hiện các thương vụ kinh doanh. Chính vì vậy các nhà xuất khẩu cần tỉnh
táo và sáng suốt để lựa chọn cho mình một thị trường, một đối tác xuất khẩu tiềm
năng.
1.1.4.5. Yếu tố cạnh tranh
- Thị trường mục tiêu nước ngoài ít và hiếm khi là một không gian thuần
khiết cho mọi sự hiện diện thương mại. Các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu nội

- Khi kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng cao, điều đó đồng nghĩa với
việc sức cạnh tranh của hàng hoá của quốc gia xuất khẩu là lớn. Chính điều đó đưa
nền kinh tế vào vận hành trong một vòng quay ổn định và bền vững hơn. Vì khi
các nước xuất khẩu được nhiều hàng hoá có sức cạnh tranh cao là khi mà họ tận
dụng và phân bổ được tối đa nguồn lực, lợi thế so sánh của họ với các nước khác.
Quá trình đó là bước đệm để cho tất cả các nước đặc biệt là các nước đang phát
triển nhanh chóng bước vào quá trình CNH- HĐH đất nước.
1.1.5.2. Xuất khẩu hàng hoá tạo ra nguồn thu ngoại tệ, nguồn vốn chủ yếu cho việc
nhập khẩu công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho quá trình
CNH- HĐH đất nước
- Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kích thích nền kinh tế phát triển, nó góp
phần tăng nguồn vốn tích luỹ, tăng thu ngoại tệ, tăng tổng thu nhập quốc dân, tăng
mức sống của dân cư. Không chỉ thế, ngoại tệ và số vốn mà nền kinh tế tích luỹ
được qua xuất khẩu sẽ được dùng để mua máy móc, nguyên vật liệu, thây đổi các
công nghệ cũ, lạc hậu đáp ứng nhu cầu thiết yếu của CNH- HĐH đất nước.
1.1.5.3. Xuất khẩu hàng hoá là nhân tố tác động tích cực đến việc dịch chuyển cơ
cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất sản phẩm
- Các ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác
phát triển thuận lợi. Chẳng hạn khi phát triển ngành dệt may phát triển thì sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho ngành xuất khẩu nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm.
Sự phát triển của ngành chế biến thực phẩm phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của
ngành công nghiệ chế tạo ra các máy móc, thiết bị phục vụ nó.
- Xuất khẩu là nhân tố mở rộng thị trường tiêu thụ, nhờ đó mà các ngành sản
xuất có thể phát triển và ổn định.
- Xuất khẩu tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngành sản
xuất, tìm kiếm được đối tác cung cấp nguồn đầu vào phục vụ cho sản xuất nội địa.
- Xuất khẩu là phương tiện tạo ra nguồn vốn và công nghệ từ thế giới vào
nội địa nước xuất khẩu nhằm hiện đại hoá nền kinh tế, mở ra một năng lực sản
xuất mới.
- Xuất khẩu là cầu nối để đưa hàng hoá nội địa ra cạnh tranh với hàng hoá

cao. Hơn thế nữa, kim ngạch cao và trị giá của hàng hoá đem xuất khẩu là lớn thì
điều đó càng chứng tỏ chiến lược hướng về xuất khẩu của quốc gia đó.
+ Thứ hai, tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu. Hoạt động xuất
khẩu của một nước là hiệu quả khi kim ngạch xuất khẩu của nước đó liên tục tăng
qua các năm, hoặc duy trì được một sự gia tăng ổn định qua các năm và các thời
kỳ. Sự tăng giảm không đều và bất thường trong kim ngạch xuất khẩu là dấu hiệu
cho biết những tồn tại trong hoạt động này, hay hoạt động xuất khẩu không đạt
được hiệu quả như mong muốn.
+ Thứ ba, sự cân bằng trong cán cân thương mại hay trong xuất khẩu và
nhập khẩu. Một nước có kim ngạch xuất khẩu lớn hơn kim ngạch nhập khẩu là
nước xuất siêu, thu được nhiều ngoại tệ cũng như đạt được hiệu quả trong hoạt
động xuất khẩu. Ngược lại, một nước mà nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu thì nước
đó là nước nhập siêu. Khi đạt được sự cân bằng trong thương mại quốc tế thì hiệu
quả của hoạt động xuất khẩu là rất tốt. Bởi lẽ khi đó cả hai hoạt động này đều đáp
ứng được mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của các nước.
+ Thứ bốn, thông qua cơ cấu mặt hàng xuất khẩu ta cũng có thể đánh giá
được hiệu quả của hoạt động xuất khẩu của một nước. Khi các hàng hoá xuất khẩu
là những hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao, khoa học kỹ thuật được áp dụng
để sản xuất ra những hàng hoá đó là hiện đại thì một điều tất nhiên là hàng hoá đó
sẽ mang lại nguồn thu lớn cho nước xuất khẩu nếu đó là hàng hoá mà con người ưa
chuộng. Bên cạnh đó, các hàng hoá dưới dạng thô, chỉ sơ chế, chưa qua chế biến
thường giá trị rất thấp, hơn nữa nó còn là mầm mống làm cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên của nước xuất khẩu, giảm và mất dần khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên
thị trường quốc tế. Qua cơ cấu mặt hàng xuất khẩu này ta có thể thấy được trình độ
phát triển của các quốc gia. Rõ ràng những quốc gia phát triển, có khoa học kỹ
thuật hiện đại, nguồn vốn khổng lồ, nguồn nhân lực trình độ cao, thì sẽ sản xuất ra
những sản phẩm công nghệ cao, hiện đại theo kịp sự phát triển cũng như nhu cầu
của con người. Còn những nước đang và kém phát triển, trình độ lạc hậu, khan
hiếm vốn, song lại có tài nguyên thiên nhiên thì điều tất nhiên là họ sẽ xuất khẩu
những hàng hoá có nguồn gốc từ thiên nhiên, chỉ qua sơ chế, thậm chí là sản phẩm

chúng dễ dàng hơn. Do vậy, xét trên một chừng mực nào đó, hiện tượng chuyên
môn hoá dựa trên lợi thế so sánh đã nảy sinh.

Trích đoạn Quy định về nhập khẩu của Trung Quốc Thực hiện như nội dung của Nghị định thư khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã cam kết từng bước hạ thấp mức thuế nhập khẩu hàng hoá và đến năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status