NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ - Pdf 63

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
1.1. Tầm quan trọng xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm và các hình thức xuất khẩu hàng hóa
1.1.1.1 Khái niệm
Trong chiến lược kinh doanh quốc tế,các doanh nghiệp cần phải
xác định dược những yếu tố quan trọng mang lại thành công cho chiến
lược của mình,một trong những yếu tố đó là cách thức xâm nhập thị
trường. Xuất khẩu được coi là một hình thức xâm nhập thị trường ít rủi
ro và chi phí thấp so với các hình thức khác.
Có thể hiểu xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh vượt ra khỏi
biên giới quốc gia,là hoạt động kinh doanh mang tính quốc tế.Đó chính
là việc bán hàng hóa , dịch vụ trong nước ra nước ngoài.
(Theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại việt nam 2005)
xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được
coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2 Các hình thức xuất khẩu hàng hóa.
Xuất khẩu trực tiếp: là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty
cho các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài.
Để thâm nhập thị trường quốc tế thông qua xuất khẩu trực tiếp các
Công ty thường sử dụng hai hình thức.
Đại diện bán hàng: Là hình thức bán hàng không mang danh nghĩa
của mình mà lấy danh nghĩa của người ủy thác nhằm nhận lương và
một phần hoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hóa bán được. Trên thực tế,
đại diện bán hàng họat động như là nhân viên bán hàng của Công ty ở
thị trường nước ngoài. Công ty sẽ ký hợp đồng trực tiếp với khách hàng
ở thị trường nước đó.
Đại lý phân phối: Là người mua hàng hóa của Công ty để bán theo
kênh tIêu thụ ở khu vực mà công ty phân định. Công ty khống chế
phạm vi phân phối, kênh phân phối ở thị trường nước ngoài. Đại lý phân

in ấn… ).
Đại lí vận tải: Là các Công ty thực hiện dịch vụ thuê vận chuyển và
những hoạt động có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa như khai
báo hải quan, áp biểu thuế quan, thực hiện giao nhận và chuyên trở bảo
hiểm.
1.1.2 Sự cần thiết xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam
Việt Nam là một nước có thế mạnh về xuất khẩu những mặt hàng
nông sản,trong đó ngành công nghiệp đồ gỗ có những lợi thể lớn có thể
cạnh tranh trên thị trường quốc tế,góp phần không nhỏ vào tăng trưởng
của đất nước.Sản phẩm đồ gỗ cũng là mặt hàng đang có xu hướng gia
tăng cao với những đặc điểm sau đay.
Có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đạt mức khá cao lên tới 54%
trong giai đoạn 1994 – 1999, 7- 8%/năm trong những năm tới. Năm
2004, theo WTO, mức tiêu thụ toàn cầu về sản phẩm gỗ đạt con số kỷ
lục là 180 tỷ USD với tăng trưởng 8%. Nhưng theo Liên Hợp Quốc ngay
từ năm 2002, mức tiêu thụ đó thông qua nhập khẩu đã đạt được 200 tỷ
USD. Đây được gọi là cơ hội lớn đối với nhà xuất khẩu.
Đồ gỗ nội thất là mặt hàng tăng trưởng nóng trong những năm gần
đây. Năm 2003 tăng 18% so với 2002, tức là gấp 2,2 lần so với kim
ngạch của đồ gỗ thế giới, đạt giá trị kim ngạch 35 tỷ USD; năm 2004 lên
đến 33%; dự báo 2005 có thể đạt 35%.
Mua bán với quy mô lớn, mẫu mã, chủng loại sản phẩm rất đa dạng
với khoảng 12.000 dạng khác nhau, ngày càng độc đáo và hấp dẫn, từ
sản phẩm gỗ nguyên thô tới tinh chế.
Các thị trường giao dịch chính là Mỹ, EU, Nhật Bản (chiếm tới 70% kim
ngạch buôn bán gỗ toàn cầu). Mỹ, EU, Nhật Bản chuyển dịch nhanh từ những nước
xuất khẩu gỗ hàng đầu thế giới thành trung tâm nhập khẩu thế giới. Cơ hội cho xuất
khẩu đồ gỗ ở Việt Nam rất lớn.
1.1.3. Vai trò của xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Từ năm 2002-2007, sản phẩm gỗ

chiếm nguồn lao động nhiều nhất hiện nay.Theo Sở Thương mại - Du
lịch, tổng số lao động trong ngành chế biến gỗ hiện nay lên đến 90.000,
bình quân hàng năm lượng lao động cần cho ngành chế biến gỗ lên đến
10.000 - 12.000 lao động.
Bình Định là cũng một trong 4 tỉnh, thành có hoạt động chế biến gỗ
mạnh nhất nước .các cơ sở chế biến gỗ xuất khẩu đã thu hút khoảng
18.000 lao động ở các địa phương với mức thu nhập bình quân 1,6 triệu
đồng/người/tháng.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đễn xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam
Xuất khẩu đồ gỗ có tốc độ tăng trưởng cao nhưng bị đánh giá là
thiếu bền vững,kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng giá trị gia tăng trong
xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ chưa cao do nhiều yếu tố tác động.
1.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường trong nước
Đồ gỗ là mặt hành xuất khẩu còn mới do đó năng lực cung ứng sản
phẩm gỗ cho xuất khẩu còn hạn chế phụ thuộc vào quy mô của doanh
nghiệp,trình độ công nghệ sản xuất chế biến, trình độ tổ chức, quản lý
kinh doanh và tay nghề của đội ngũ lao động đặc biệt phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu.
1.2.1.1 Nguồn nguyên liệu đầu vào phụ thuộc vào nhập khẩu
Thực tế nguyên liệu gỗ ở Việt Nam không đủ đáp ứng cho nhu cầu
chế biến gỗ xuất khẩu. Từ sau 2001 với mục đích bảo vệ nguồn rừng tự
nhiên của quốc gia, Chính phủ đã khống chế sản lượng gỗ khai thác và
không thay đổi qua các năm là 300.000m3/năm.Bởi vậy, nguồn chính
cung cấp gỗ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ ở Việt Nam là
80% nhập khẩu từ nước ngoài.
Theo tính toán của bộ công thương,hàng năm Việt Nam phải nhập
khẩu khoảng 250.000 đến 300.000 m3 gỗ từ các nước lân cận,trong 3
năm trở lại đây(2005-2007) thì cứ xuất khẩu được 2USD đồ gỗ thì
doanh nghiệp phải bỏ ra 1USD để nhập khẩu gỗ nguyên liệu.Mặc dù
trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ lên tới 2,8 tỷ

nghiệp trong nước nói chung, các doanh nghiệp chế biến gỗ nói riêng.
Năm 2008 nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh bị hạn chế do Chính
phủ thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát và do sự thay đổi bất
thường của thị trường thế giới.
Những tháng đầu năm 2008, các doanh nghiệp chế biến gỗ gặp trở
ngại rất lớn trong việc tiếp cận vốn vay từ ngân hàng, đặc biệt là ngoại
tệ, trong khi lãi xuất cho vay tiền VNĐ cao và thời hạn vay chưa phù hợp
với thực tế sản xuất xuất khẩu sản phẩm gỗ. Mặt khác, một số doanh
nghiệp có khả năng tự huy động vốn thì các doanh nghiệp không thể
mua ngoại tệ bằng đồng USD từ ngân hàng để nhập nguyên liệu. Một
số doanh nghiệp đã buộc phải mua USD trên thị trường tự do và chấp
nhận chịu thiệt do chênh lệch tỷ giá.
Các doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu rất thấp chỉ vào khoảng trên
dưới 20%, trong khi đó nợ phải trả đến 70%. Phần lớn tài sản dưới
dạng vốn lưu động là nguyên vật liệu dự trữ và thành phẩm trong kho
chờ xuất bán hoặc sản phẩm đã giao nhưng chưa thu được tiền.
Khoảng 300 doanh nghiệp FDI có quy mô lớn, tạo ra kim ngạch xuất
khẩu chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của cả nước,
còn lại hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước có quy mô nhỏ
và vừa. Trong những năm qua, số lượng các cơ sở chế biến gỗ tăng lên
không nhiều mà chủ yếu tăng công suất thiết kế.
1.2.1.3 Lực lượng lao động của ngành công nghiệp đồ gỗ
Nhân lực là vấn đề lớn của ngành gỗ, việc thiếu cả công nhân lành
nghề cùng cán bộ quản lý khiến cho hiệu quả sản xuất không cao, năng
suất lao động thấp.
Với quy mô khoảng 170.000 lao động trong 2000 nhà máy chế biến
gỗ với tỷ lệ lao động có trình độ đại học chỉ chiếm 3%, công nhân kỹ
thuật gần 30%, số còn lại gần 70% chủ yếu là lao động phổ thông. Với
yêu cầu thực tế hiện nay thì nhu cầu về nguồn nhân lực là rất lớn cả ở
bậc công nhân, kỹ sư. Theo tính toán của các chuyên gia, tuỳ theo quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status