TÌNH HÌNH CHO VAY TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lịch sử hình thành.
Từ tháng 7/1988, Ngân hàng Công thương Việt Nam đã chính thức trở thành
một tổ chức kinh doanh với chức năng tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng.
Thời gian đầu Ngân hàng Công thương Việt Nam thực hiện mô hình ba cấp: Cấp
trung ương, cấp tỉnh thành phố, cấp quận huyện. Đây quả là một mô hình kồng
kềnh, phức tạp. Theo mô hình đó ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng trực
thuộc hạch toán chung, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Ngân hàng Công thương Hà
Nội. Ngay từ khi ra đời, hoạt động ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng vẫn
mang tính bao cấp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, hệ số sử dụng vốn thấp,
thua lỗ liên miên. Cụ thể năm 1992 tổng nguồn vốn huy động bình quân là: 168
tỷ đồng, tổng dư nợ bình quân đạt 12%, hệ số sử dụng vốn chỉ đạt 12% là quá
thấp, Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng lỗ trầm trọng, cả năm lỗ 46 tỷ đồng,
ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của cán bộ công nhân viên.
Sau quyết định số 93/NHCT - TCCB của tổng giám đốc Ngân hàng Công
thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt nam đã đổi mới cơ chế quản lý
từ Ngân hàng ba cấp sang Ngân hàng hai cấp (Ngân hàng hội sở - các chi nhánh
trực thuộc). Lúc này ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng là một chi nhánh trực
thuộc của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Đồng thời với việc đổi mới cơ chế
quản lý là sự đổi mới của các chỉ tiêu quản lý và điều hành kinh doanh. Trước kia
Ngân hàng công thương Việt Nam quản lý và điều hành với chỉ tiêu: Nguồn vốn
huy động, dư nợ, doanh thu, chi phí... thì lúc này có thêm hệ thống chỉ tiêu mới
là: nộp vốn điều hoà, thu nghập, lợi nhuận hạch toán gắn với thu nhập và kết quả
hoạt động kinh doanh của chi nhánh...
2. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng
Chi nhánh ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng là Chi nhánh khá lớn mạnh
với số lượng cán bộ công nhân viên hơn 300 người, trong đó hơn 60% có trình độ
cao đẳng, đại học và trên đại học. Về cơ cấu tổ chức: Ngoài một giám đốc và 4
phó giám đốc Ngân hàng còn có 8 phòng chức năng
a. Tình hình huy động vốn.
Nhìn chung nguồn vốn huy động Chi nhánh tăng đều qua các năm 1996, 1997,
1998
Ngân hàng, mở rộng mạnh lưới giao dịch tăng cường mối quan hệ với khách
hành. Cụ thể như sau:
Về nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế: Trong thời gian qua Chi nhánh đã
không ngừng tăng cường công tác tiếp thị, thực hiện tốt chiến lược khách hàng để
thu hút và giữ vững các doanh nghiệp có số lượng tiền gửi lớn nhằm không
ngừng tăng cường nguồn tiền này cả VND và ngoại tệ bảo đảm nguồn này tăng
đều qua các năm.
Về nguồn tiền gửi tiết kiệm: Đây là nguồn quan trọng nhất trong các nguồn
của Ngân hàng và thường chiếm tỷ trọng cao
Cân đối của tổng nguồn so với sử dụng cho vay tại cơ sở, ở Ngân hàng công
thương Hai Bà Trưng thường thuộc loại thừa vốn cho nên có khả năng tham gia
vào hoạt động điều hoà và cân đối vốn trong toàn hệ thống Ngân hàng Công
thương.
b.Tình hình sử dụng vốn của ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng
Hình thức sử dụng vốn của ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng khá phong
phú và đa dạng bao gồm: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn, tín dụng
thuê mua và liên doanh , cho vay tài trợ uỷ thác... Để nâng cao hiệu quả tín dụng,
Ngân hàng đã không ngừng tăng cường trách nhiệm khi phát tiền vay để thu hồi
đúng thời hạn, hạn chế nợ quá hạn...
Ngân hàng đã áp dụng cơ chế cho vay linh hoạt, đầu tư khách hàng đúng hướng
cụ thể như:
Ngân hàng đã lựa chọn những khách hàng sản xuất kinh doanh có uy tín, có
khả năng tài chính vững mạnh, lựa chọn những ngành, những mặt hàng mũi
nhọn, các công trình trọng điểm của Nhà Nước.
Ngân hàng ưu tiên đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
Mở rộng địa bàn hoạt động không chỉ trong quận Ba Đình mà còn tới các
khách hàng ở các vùng khác.
(tr đ)
%
Tổng dư nợ 489580 100 555998 100 551735 100 113.5 99.2
Dư nợ NH 408923 83.5 455634 81.9 443144 80.3 111.4 97.2
+QD 394230 80.5 450502 81.0 437973 79.4 114.2 97.2
+NQD 14693 3.0 5132 0.9 5171 0.9 35.0 100.7
Dư nợ
TDH
80657 16.5 100364 18.1 108591 19.7 124.4 108.1
+QD 64805 13.2 87557 15.7 99346 18.0 135.1 113.5
+NQD 15852 3.3 12807 2.4 9245 1.7 80.8 78.2
Chú thích:
( QD : kinh tế quốc doanh
NQD: kinh tế ngoài quốc doanh)
Ngoài các hoạt động tín dụng, Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng còn
thực hiện nhiều hoạt động đầu tư khác như: Tín dụng thuê mua và liên doanh, cho
vay tài trợ uỷ thác của các tổ chức tín dụng nước ngoài như: Ngân hàng tái thiết
và phát triển Đức.. . Đã được ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng triển khai
kịp thời theo hợp đồng đã ký kết. Cuối năm 1998 dư nợ tín dụng Đài Loan là:
12460 tr đồng, cho vay EU, Việt Đức là: 155 tr đ
Tuy còn một số hạn chế song những kết quả trên đây đã chứng tỏ rằng Ngân
hàng công thương Hai Bà Trưng đã và đang phát triển trên mọi lĩnh vực, mọi
phương diện. Không ngừng tăng trưởng nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, chiến lược phát triển kinh tế của đảng và Nhà Nước.
II. TÌNH HÌNH CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG.
1. Tình hình cho vay trung và dài hạn.
Trong những năm qua ( kể từ năm 1996 -1998 ) cho vay và đầu tư của chi
nhánh đã bám sát được mục tiêu chung của Ngân Hàng Công Thương Việt Nam
và phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trên địa bàn. Với quan điểm
dựng các cỏ sở hạ tầng cho đất nước, đầu tư năng lực sản suất cho các doanh
nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá, tăng doanh số hàng suất khẩu trong các
doanh nghiệp doanh nghiệp thuộc nghành chế biến...
Nếu xem xét tình hình cho vay trung và dài hạn theo VND và ngoại tệ ta
thấy: Dư nợ ngoại tệ chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng dư nợ cho vay
trung dài hạn. Trong năm 1996 tỷ lệ cho vay trung và dài hạn bằng ngoại tệ
chiếm: 60% tổng cho vay trung và dài hạn và bằng 37.2% tổng dư nợ bằng ngoại
tệ (cả ngắn hạn và trung dài hạn). Sang năm 1997 dư nợ cho vay trung dài hạn
bằn ngoại tệ đạt 47361 triệu đồng và chỉ bằng 97.7% so với năm 1996 và chiếm
tỷ trọng 47.2% trên tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn (bằng 45.2% tổng dư nợ
cho vay bằng ngoại tệ của chi nhánh).Trong năm 1998 tổng dư nợ cho vay trung
và dài hạn bằng ngoại tệ tiếp tục giảm sút, tính đến 31/12/1998 dư nợ trung dài
hạn bằng ngoại tệ là: 400897 triệu đồng và bằng 84.6% so với cùng kỳ năm
1997. Và tỷ trọng trên tổng dư nợ trung dài hạn cũng giảm so với năm 1997 (năm
1998 chỉ đạt 36.9%). Sở dĩ có tình trạnh giảm sút đối với cho vay trung dài hạn
bằng ngoại tệ là vì vào cuối năm 1997, đầu năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam á dẫn đến sự phá giá của hàng loạt đồng tiền
trong khu vực trong đó có đồng VND. Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, dẫn đến tình
trạng các doanh nghiệp không muốn vay băng ngoại tệ (chủ yếu là bằng đồng
USD) bởi vì nếu vay bằng ngoại tệ trong điều kiện không ổn định nói trên thì các
doanh nghiệp chịu rủi ro về tỷ giá (mặc dù lãi suất cho vay bằng ngoại tệ thường
nhỏ hơn đối với lãi suất cho vay bằng VND khoảng 7.5% / năm đối với USD).
Một nguyên nhân nữa dẫn đến tình trạng trên là do sự điều chỉnh lãi suất cho vay
bằng ngoại tệ tăng (theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là “từng bước điều
chỉnh lãi suất cho vay VND bằng với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ”).
Cũng như tình hình chung của cho vay trung dài hạn thì cho vay bằng ngoại
tệ trung dài hạn cũng chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp quốc doanh và
thường chiếm tỷ trọng khá cao. Trong năm 1996tỷ lệ này là: 83.3%, năm 1997 là:
84.3% Và năm 1998 là 84.2%.
Nếu phân chia tình hình cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng công thương
31/12/1996 31/12/1997 31/12/1998
Số tiền
(tr đ)
Tỷ trọng
(%)
SốTiền
(tr đ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(tr đ)
Tỷ trọng
(%)
Tổng 80657 100.0 100306 100.0 108591 100.0
-QD 64805 80.3 87557 87.3 99396 91.5
-NQN 15852 19.7 12807 12.7 9245 8.5
Qua biểu 5: “Chi tiết về cho vay trung dài hạn theo các thành phần kinh tế”
Ta thấy các ngành có quan hệ vay vốn trung dài hạn tại ngân hàng công thương
Hai Bà Trưng chủ yếu là các ngành xây dựng, ngành giao thông vận tải, ngành
công nghiệp chế biến, khách sạn nhà hàng... Sở dĩ có đặc trưng như vậy một phần
là do địa bàn quận Hai Bà Trưng chủ yếu tập trung các tổng công ty, các doanh
nghiệp hoạt động theo các lĩnh vực trên là chủ yếu. Còn lại một số ngành khác
như ngành lâm nghiệp, mặc dù tổng công ty Vi Na cà phê là một trong những
khách hàng lớn nhất của Ngân hàng với mức dư nợ thường xuyên khoảnh 100 tỷ
đồng nhưng lại không có nhu cầu vay vốn trung dài hạn mà chỉ vay vốn ngắn
hạn. Có thể còn do nhiều yếu tố mà Ngân hàng và khách hàng còn chưa gặp nhau
trong việc cho vay trung và dài hạn nhưng qua phân tích ta thấy tình hình cho vay
trung và dài hạn tại chi nhánh là rất đa dạng và phong phú.
Để nghiên cứu kỹ hơn về tình hình cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng
công thương Hai Bà Trưng ta tiến hành phân tích quan hệ cho vay trung dài hạn
hoạch quy hoạch tổng thể đến năm 2010. Tính đến nay chỉ còn ba doanh nghiệp
còn dư nợ trên tài khoản đó là: Tổng công ty xây dựng Hà Nội dư nợ:450 triệu
đồng, Công ty xây dựng số 1 dư nợ: 787 triệu đồng, công ty xây dựng số 4 dư nợ:
1575 triệu đồng.
+Ngành công nghiệp: Năm 1996 dư nợ 10320 triệu đồng chiếm13%, năm
1997 dư nợ: 39806 triệu đồng tăng 3.85 lần so với năm 1996 và chiếm:39.6%,đến
năm 1998 doanh nghiệp đạt 53680 triệu đồng tăng 1.34 lần so với năm 1997 và
chiếm tỷ trọng 49.4%. Như vậy ta thấy có một sự tăng trưởng đáng kể trong dư
nợ cho vay trung và dài hạn trung dài hạn đối với ngành công nghiệp, sự tăng
trưởng trên là do trong thời gian qua ngân hàng công thương Hai Bà Trưng đã
chú trọng đến việc đầu tư cho các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế
biến hàng xuất khẩu như: Công ty may Chiến Thắng, công ty gốm Hữu Hưng...
Để đầu tư mua sắm các trang thiết bị sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trường và nước ngoài đối với các mặt hàng xuất
khẩu.
*Về quan hệ giữa cho vay và thu nợ: Xem xét cụ thể biểu 7: “Tình hình cho
vay và thu nợ trung dài hạn tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng” ta thấy:
Trong năm 1996 doanh số cho vay trung dài hạn đạt: 58320 triệu đồng, trong đó
kinh tế quốc doanh chiếm 97.9%. doanh số thu nợ trung dài hạn trong năm đạt:
37664 triệu đồng và cũng như cho vay thu nợ trung dài hạn chỉ tập trung vào khu
vực kinh tế quốc doanh. Sang năm 1997mặc dù dư nợ trung dài hạn tăng nhưng
doanh số cho vay và thu nợ bị giảm cụ thể: Doanh số cho vay trung dài hạn chỉ
bằng 94% so với năm 1997, doanh số thu nợ chỉ bằng 92% so với năm 1997. Tuy
nhiên tính đến năm 1998 thì tình hình lại có chuyển biến ngược lại:Doanh số cho
vay trung và dài hạn58057 triệu đồng tăng 6% so với năm 1997, doanh số thu nợ
trung dài hạn đạt 49706 triệu đồng tăng 43% so với 1997. Trong đó cũng chủ yếu
là cho vay và thu nợ đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Qua phân tích trên đây
ta thấy mặc dù có giảm về doanh số cho vay và thu nợ trong năm 1997 nhưng
sang năm 1998 lại tăng chứng tỏ tình hình cho vay và thu nợ của chi nhánh đang
phát triển theo chiều hướng tốt. Nhìn chung doanh số cho vay và thu nợ trong các
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Qua phân tích trên đây ta thấy trên thực tế nợ quá hạn khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh có giảm nhưng thực chất lại là do doanh số cho vay của khu vực này
giảm. Chính vì vậy nếu so sánh tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của kinh tế ngoài
quốc doanh thì ta thấy tỷ lệ này không hề giảm thậm chí còn tăng và tỷ lệ này còn
quá cao. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thu hẹp
cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của ngân hàng công thương
Hai Bà Trưng.
Vấn đề đặt ra cho chi nhánh trong thời gian tới không những phải nâng dần
doanh số cho vay với khu vực ngoài quốc doanh mà còn phải hạ thấp dần tỷ trọng
nợ quá hạn của khu vực này tạo ra sự cân bằng giữa các thành phần kinh tế trong
việc đầu tư tín dụng của chi nhánh.
Khu vực kinh tế quốc doanh tuy rằng tỷ trọng nợ quá hạn so với tổng dư nợ
thấp nhưng mức dư nợ nợ quá hạn không phải là nhỏ cụ thể như sau: Vào thời
điểm cuối năm 1997nợ quá hạn là: 13703 triệu đồng, sang năm 1998 vào những
tháng đầu năm mức dư nợ quá hạn có tăng nhưng lai giảm vào những tháng cuối
năm và đến 31/12/1998 tổng dư nợ quá hạn đối với khu vực kinh tế quốc doanh
là:12052 triệu đồng chiếm tỷ trọng 2.24% trên tổng dư nợ khu vực quốc doanh,
đến 31/03/1999 còn tiếp tục giảm và chỉ còn: 7084 triệu đồng chiếm tỷ trọng
1.3% trên tổng dư nợ khu vực kinh tế quốc doanh. Nhìn chung các doanh nghiệp
quốc doanh có tình hình tài chính lành mạnh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tuy nhiên các doanh nghiệp này thường vay với số tiền lớn nên khi gặp rủi ro bất
khả kháng thì dư nợ quá hạn của kinh tế quốc doanh sẽ làm tăng nhanh chóng dư
nợ quá hạn của toàn chi nhánh.
BIỂU PHÂN TÍCH NỢ QUÁ HẠN THEO KỲ HẠN NỢ TẠI NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG
Chỉ tiêu 12/1998 01/1999 02/1999 03/1999
Tổng dư nợ 551735 531909 563808 558480
-Trong đó NQH (tr đ) 15268 11454 9759 10145
-Tỷ lệ (%) 2.76 2.15 1.73 1.80