THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI - Pdf 63

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Ở KHU VỰC ĐBSCL
2.1. Sự cần thiết khách quan hình thành BHTG Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trong công cuộc đổi mới đất nước, hòa cùng với công cuộc trọng đại lịch
sử đất nước, hệ thống ngân hàng nhà nước đã tiến hành đổi mới từ những năm
1988. Trong giai đoạn này, ngành tài chính ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn,
trong bối cảnh lạm phát tăng phi mã, nhiều Hợp tác xã (HTX) tín dụng đã bị phá
sản, dẫn đến mất lòng tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng hết sức nghiêm
trọng, khắp nơi trên toàn quốc, người dân gửi tiền vào các HTX tín dụng bị đóng
cửa do phản ứng dây chuyền, không có khả năng thanh toán tiền gửi cho công
chúng được. Trong bối cảnh này nhiệm vụ của Ngân hàng nhà nước là cấp thiết,
trước mắt phải kìm chế lạm phát, củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ
thống ngân hàng quốc gia.
Qua những vụ đổ vỡ tín dụng, mang tính hệ thống dây chuyền trong thập
niên 80, Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhận ra rằng cần phải có một tổ chức đứng
ra nhằm thực hiện chức năng bảo vệ người gửi tiền vì những quyền lợi hợp pháp
của họ và giúp những TCTD rút lui khỏi thị trường kinh doanh tiền tệ một cách an
toàn mà không làm ảnh hưởng đến sự hoạt động lành mạnh của các ngân hàng
khác, đó chính là lý do mà tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Deposit Insurance
of VietNam) ra đời, là tổ chức tài chính nhà nước được thành lập theo Quyết định
số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền
gửi và sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng, đánh dấu một bước
tiến trong quá trình cải cách cũng như hội nhập quốc tế đối với ngành tiền tệ quốc
gia.
Ngành bảo hiểm tiền gửi trước đây đã có Công ty Bảo Việt đã triển khai
nghiệp vụ này theo Quyết định số 390/QĐ-TTg, ngày 27/07/1993 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành về Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của QTDND đối với khoản
tiền gửi có kỳ hạn, được ban hành. Theo quyết định này Bảo Việt đã triển khai

Chi nhánh khu vực
tại TP. HCM
Chi nhánh khu vực ĐBSCL
tại TP. Cần Thơ
Chi nhánh khu vực
Nam trung bộ & TN
tại Khánh Hòa
Chi nhánh khu vực
Đông Bắc bộ
tại Hải Phòng
Chi nhánh khu vực
Hà Nội
Chi nhánh khu vực
Bắc trung bộ
tại Nghệ An
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN ĐIỀU HÀNH
BAN KIỂM SOÁT
BAN THƯ KÝ
HĐQT
Nhiệm vụ chính của BHTG Việt Nam là:
- Nghiên cứu tình hình kinh tế, chính trị, xã hội liên quan đến hoạt động ngân
hàng.
- Giám sát, kiểm tra việc chấp hành những qui định về BHTG, các hoạt động
ngân hàng của các tổ chức tham gia BHTG.
- Hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham gia BHTG.
- Bảo toàn và phát triển vốn của BHTG Việt Nam.
- Chi trả tiền gửi được bảo hiểm, tham gia hội đồng thanh lý tài sản tại các tổ
chức được BHTG chi trả.
- Tuyên truyền hoạt động BHTG đến công chúng.

2.2.1. Đối với NHTM và các tổ chức phi ngân hàng
- Hoạt động của BHTG Việt Nam góp phần củng cố và tăng cường uy tín của các
NHTM và các tổ chức phi ngân hàng..
Thời gian qua nhiều hoạt động của BHTG Việt Nam đã thực sự góp phần
củng cố niềm tin của khách hàng đối với hệ thống NHTM và các tổ chức phi ngân
hàng, hoạt động kiểm tra tại các tổ chức này, bằng những kiến nghị nhằm ngăn
ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng mà đặc biệt là các QTDND cơ sở. Công tác
chi trả tiền gửi được bảo hiểm tại các tổ chức bị chấm dứt hoạt động làm củng cố
niềm tin cho công chúng đối với hệ thống ngân hàng là hết sức quan trọng, từ khi
ra đời đến nay BHTG Việt Nam đã tiến hành chi trả tiền gửi được bảo hiểm tại các
QTDND cơ sở, những người gửi tiền đã thực sự tin tưởng vào chính sách của Đảng
và điều họ quan tâm nhất là tiền gửi được Chính phủ trả lại tiền của họ. Như chúng
ta đã biết, dư âm của sự đổ vỡ hàng loạt các HTX tín dụng hồi thập niên 80 với
hơn 8.000 HTX tín dụng bị đổ vỡ hàng loạt người gửi tiền đã không được nhận lại
tiền hoặc không nhận đủ được số tiền của mình gửi tại các HTX tín dụng do các tổ
chức này bị mất khả năng chi trả. Khi đó, không một tổ chức nào đứng ra bảo vệ
họ nên niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng bị suy giảm nghiêm
trọng, vẫn còn để lại nhiều bài học cay đắng. Ngày nay nhờ có chính sách chi trả
tiền gửi kịp thời của BHTG Việt Nam, đã làm cho hiện tượng rút tiền gửi ồ ạt từ
các tổ chức nhận tiền gửi khác đã không xảy ra. Tính đến nay, BHTG Việt Nam đã
thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 1.517 người gửi tiền tại 35 QTDND
cơ sở ở 12 tỉnh, thành phố với số tiền là gần 18 tỷ đồng, với thời gian hoạt động
vừa qua con số chi trả tiền gửi được bảo hiểm còn khiêm tốn nhưng tác dụng của
nó đối với sự ổn định về mặt chính trị cũng như tạo niềm tin thật vững chắc vào hệ
thống NHTM là rất lớn, trong đó có phần đóng góp của BHTG Việt Nam.
- Hoạt động BHTG Việt Nam góp phần củng cố hoạt động ngân hàng ở
Việt Nam.
Theo nguyên lý chung hoạt động của ngành bảo hiểm là lấy thu từ số
đông để bù đắp rủi ro cho số ít, trong thời gian qua BHTG Việt Nam đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các ngân hàng có qui mô nhỏ và hệ thống QTDND hoạt động

2.2.2. Đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay hòa cùng sự chuyển biến chung
của nền kinh tế trong giai đoạn hội nhập, nông thôn Việt Nam chuyển biến mạnh
mẽ trong việc phát triển một nền nông nghiệp bảo đảm an ninh lương thực và xuất
khẩu, lượng vốn chu chuyển trong lĩnh vực này đòi hỏi ngày một lớn. Thực tế hiện
nay Tổ chức tín dụng ở đây cụ thể là các Ngân hàng thương mại chưa thể đáp ứng
đủ nhu cầu về vốn cho phát triển sản xuất, do chiến lược kinh doanh của họ đã bỏ
qua những phân khúc của thị trường này, việc khai thác và đầu tư tín dụng cho sản
xuất chủ yếu do Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) đảm
trách, nhưng không đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Từ đó việc thành lập hệ
thống Quỹ tín dụng nhân dân là một trong những giải pháp nhằm đáp ứng với yêu
cầu đòi hỏi thực tiễn ở nông thôn.
Là loại hình tín dụng hợp tác hoạt động trong lĩnh vực Tiền tệ – Tín dụng,
dịch vụ Ngân hàng chủ yếu ở nông thôn nhưng mục tiêu hoạt động của QTDND là
nhằm huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ, tương trợ cộng đồng, vì sự
phát triển bền vững của các thành viên là chủ yếu. Có thể nói do quy mô tổ chức,
địa bàn hoạt động gắn liền với dân cư, giao dịch thuận tiện nên chỉ trong thời gian
ngắn mô hình QTDND được cấp uỷ Đảng, Chính quyền và nhân dân ở nhiều địa
phương ủng hộ và quan tâm phát triển, vì vậy đã mở ra một kênh chuyển tải vốn
mới, đa dạng hoá các hình thức hoạt động tín dụng, từng bước góp phần xóa bỏ
hụi, tệ cho vay nặng lãi ở địa bàn nông thôn.
Xuất phát điểm tài chính của các QTDND là rất nhỏ, mô hình hoạt động
QTDND ở Việt Nam non trẻ nhưng đã thể hiện được tính tích cực của loại hình
ngân hàng “mini” này, vai trò của QTDND không những tương trợ cộng đồng mà
còn góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội đối với địa phương. Theo thống kê
hiện nay cả nước có 913 QTDND (chưa tính Quỹ Trung ương và 24 Chi nhánh)
hoạt động với tổng nguồn vốn gần 7.000 tỷ đồng, tính trung bình là 7,6 tỷ
đồng/Quỹ, thu hút trên 1 triệu thành viên. Theo tính toán ở thị trường nông thôn
với địa bàn của 1 xã thì lượng vốn như vậy sẽ có ý nghĩa hết sức to lớn, tạo thêm
nguồn lực mạnh mẽ hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

- Quy định phải tham gia thanh lý tài sản tại đơn vị được BHTG Việt
Nam chi trả tiền gửi được bảo hiểm;
- Quy định được nhận lại tiền chi trả từ nguồn thanh lý tài sản của đơn vị
được BHTG Việt Nam chi trả theo trật tự ưu tiên được qui định;
Trong thực tế ba vấn đề nói trên chưa được các văn bản pháp qui thể hiện
một cách rõ ràng và thống nhất.
Vấn đề qui định tư cách chủ nợ khi BHTG Việt Nam chi trả tiền gửi: tại
Nghị định 89/1999/NĐ-CP qui định “khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản chấm dứt hoạt động và tổ chức đó mất
khả năng thanh toán, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm chi trả tiền gửi được
bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi...”. Tại điều 20
của Nghị định này qui định “trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá
sản, thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi trở thành chủ nợ đối với tổ chức tham gia bảo
hiểm tiền gửi đó với số tiền mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã chi trả cho người gửi
tiền”. Thực tế trong lĩnh vực ngân hàng có nhiều đơn vị bị cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hoạt động, do mất khả năng thanh toán, thì
không có nghĩa là tổ chức đó bị phá sản. Tính đến 30/01/2008, BHTG Việt Nam đã
chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 35 đơn vị bị mất khả năng chi trả và bị chấm
dứt hoạt động nhưng việc xác định tư cách chủ nợ của BHTG Việt Nam thật sự
không rõ ràng, mặt khác các đơn vị này vẫn không phải là tổ chức tuyên bố bị phá
sản.
Vấn đề qui định vị trí của BHTG Việt Nam trong hội đồng thanh lý:
Trong thời gian mới đi vào hoạt động, đến ngày 31/03/2003, BHTG Việt
Nam đã chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 30 tổ chức tham gia BHTG, tuy nhiên ở
giai đoạn này thì BHTG Việt Nam không hề tham gia vào quá trình thanh lý của
những tổ chức này. Trong khi đó theo qui định tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP và
Thông tư số 03/2000/TT-NHNN5, khi BHTG Việt Nam chi trả tiền gửi cho tổ chức
tham gia BHTG bị mất khả năng chi trả thì BHTG Việt Nam sẽ trở thành chủ nợ và
được quyền tham gia quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo
qui định của Luật phá sản, điều này trái với cách thức và thông lệ BHTG trên thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status