Thực trạng tín dụng trung và dài hạn tại sở giao dịch I ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 63

Thực trạng tín dụng trung và dài hạn tại sở giao dịch I ngân hàng đầu tư và
phát triển việt nam
2.1 Một số nét về sở giao dịch I ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển :
Lịch sử hình thành và phát triển của sở I NHĐT&PTVN gắn liền với lịch sử
ra đời và phát triển của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam. Có thể chia quá
trình trên thành 3 giai đoạn như sau:
Giai đoạn I: Từ năm 1957 đến 1990, đây là giai đoạn hình thành và phát triển
của ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam. Ngày 26 tháng 4 năm 1957, thủ tường
chính phủ ký nghị định số 177/TTG về việc thành lập ngân hàng kiến thiết Việt
nam trực thuộc Bộ tài chính thay thế cho vụ cấp phát vốn kiến thiết cơ bản. Thời
kỳ này ngân hàng làm nhiệm vụ chủ yếu là quản lý và cấp phát vốn do nhà nước
cấp cấp cho kiến thiết, xây dựng cơ bản, nhằm thực hiện các kế hoạch phát triển
kinh tế và và hỗ trợ công cuộc chiến đấu, bảo vệ tổ quốc. Từ năm 1957 đến năm
1981, ngân hàng trực thuộc Bộ tài chính. Thời điểm này, hoạt động của ngân hàng
nặng về kiểm soát và thanh toán các công trình xây dựng cơ bản hơn là cho vay,
nặng về quản lý vốn trước và trong khi cấp phát vốn, coi nhẹ quản lý sau khi cấp
phát vốn. Ngân hàng hầu hết là cấp phát vốn của nhà nước mà không có những
hoạt động nhận tiền gửi của khách và cho vay.
Ngày 24 tháng 6 năm 1981, hội đồng chính phủ ra quyết định số 259/CP về
việc chuyển ngân hàng kiến thiết Việt nam trực thuộc bộ tài chính thành ngân hàng
Đầu tư và xây dựng Việt Nam trực thuộc ngân hàng nhà nước Việt nam, với quyết
định này ngân hàng được tổ chức như một doanh nghiệp quốc doanh, nhiệm vụ của
ngân hàng là thu hút và quản lý các nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ bản
các công trình không do ngân sách cấp hoặc không đủ vốn tự có, đại lý thanh toán
và và kiểm soát các công trình thuộc diện ngân sách đầu tư. Ngân hàng vẫn chưa
thực hiện nhiệm vụ kinh doanh .
Ngày 14 tháng 11 năm 1990 chủ tịch hội đồng bộ trưởng ra quyết định thành
lập ngân hàng đầu tư và phát triển thay cho tên gọi cũ là ngân hàng Đầu tư và xây
dựng cơ bản trước đây. Bây giờ, ngân hàng có chức năng huy động vốn trung và
dài hạn trong và ngoài nước và nhận vốn từ ngân sách nhà nước cho vay các dự án

- Phòng giao dịch trung tâm Tràng Tiền Plaza 24 Hai Bà Trưng_Hà Nội
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của sở I NHĐT&PTVN

Ban giám đốc bao gồm một giám đốc và ba phó giám đốc phụ trách các lĩnh
vực khác nhau của sở.
Ban giám
đốc
Phòng
Giao
Dịch
Quản

Khách
Hàng
Phòng
Tín
dụng
Phòng
Hành
Chính
Kho
Quỹ
Phòng
Nguồn
Vốn
Kinh
Doanh
Kiểm
Tra
Kiểm

đảm hiệu quả, an toàn của đồng vốn. Đảm nhận việc tư vấn cho khách hàng trong
hoạt động tín dụng và uỷ thác đầu tư theo các quy định. Tổ chức lập kế hoạch hàng
tháng, quý, năm cho phòng mình đồng thời cùng với các phòng ban khác lập kế
hoạch hoạt động cho sở. Tổ chức thực hiện công tác khách hàng thường xuyên:
nắm bắt nhu cầu, phục vụ nhu cầu khách hàng, khai thác tiềm năng của khách hàng
truyền thống đồng thời tìm kiếm thu hút thêm khách hàng mới không ngừng mở
rộng khách hàng của ngân hàng. Trên cơ sở những thông tin nhận được về khách
hàng, về xu hướng nhu cầu của khách ..vv phòng tín dụng sẽ tham mưu, góp ý
kiến cho các phòng ban, cho những nhà lãnh đạo của ngân hàng nắm bắt được
thông tin mới và có thể thay đổi một số yếu tố cho phù hợp với môi trường.
- Phòng nguồn vốn kinh doanh :
Một trong số những hoạt động quan trọng của ngân hàng là huy động vốn để
cho vay, nhiệm vụ này thuộc về phòng nguồn vốn. Phòng nguồn vốn thực hiện các
hoạt động thu hút vốn từ nhiều nguồn khác nhau như từ dân cư, từ các tổ chức kinh
tế ..vv, thông qua các hình thức tiền gửi đa dạng như kỳ hạn khác nhau, lãi suất
khác nhau, bằng các loại tiền nội tệ và ngoại tệ, trả lãi trước và trả lãi khi đến
hạn ..vv. Bên cạnh đó phòng nguồn vốn cũng thực hiện mua bán chuyển đổi ngoại
tệ và các nghiệp vụ ngân hàng đối ngoại khác theo quy định của tổng giám đốc. Tổ
chức công tác thẩm định kinh tế kỹ thuật và tư vấn theo yêu cầu. Tổng hợp thông
tin và báo cáo thống kê phòng ngừa rủi ro, phục vụ công tác điều hành của ngành
và của sở.
- Phòng tài chính kế toán :
Phòng này làm nhiệm vụ ghi chép lại, thực hiện hạch toán kế toán để phản
ánh đầy đủ, chính xác, kịp thởi mọi hoạt động kinh doanh và các nghiệp vụ phát
sinh tại sở. Lập các bảng báo cáo tài chính, báo cáo kế toán với cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền theo những quy định hiện hành và cung cấp số liệu báo
cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của ban lãnh đạo ngân hàng đầu tư trung
ương và ban giám đốc sở I. Trực tiếp thực hiện việc cung ứng một số sản phẩm cuả
ngân hàng cho khách hàng như dịch vụ chuyển tiền nhanh, dịch vụ trả lương, dịch
vụ thanh toán không dùng tiền mặt ..vv.

thương mại, nó quyết định sự thành công của ngân hàng. Sở I NHĐT&PTVN đã
xác định tạo vốn là khâu mở đầu, tạo ra khả năng vốn vững chắc cả về VND và
ngoại tệ, coi vốn trong nước là quyết định vốn nước ngoài là quan trọng.
Với phương châm đó sở I NHĐT&PTVN đã thực hiện đa dạng hoá nguồn vốn
bằng nhiều hình thức và kênh huy động khác nhau từ mọi nguồn vốn trong nước và
ngoài nước. Ngân hàng đã mở rộng phạm vi huy động vốn, đa dạng các hình thức
huy động như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đa dạng các loại kỳ hạn, đa dạng hoá
lãi suất .. nhằm thu hút vốn tối đa phục vụ nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế.
Nhờ áp dụng nhiều chính sách đa dạng nói trên, trong vài năm qua vốn huy
động của sở I NHĐT&PTVN đã có những chuyển biến tích cực, cơ cấu nguồn vốn
cũng có sự thay đổi theo chiều hướng thuận lợi.
Bảng1: Bảng nguồn vốn trong giai đoạn 2000 - 2002
Đơn vị: Tỷ đồng
Các chỉ tiêu 2000 2001 2002
1. Tiền gửi các loại.
1.1 Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
1.2 Tiền gửi của dân cư
2. Các khoản vay
3. Vốn uỷ thác tài trợ phát triển
4. Vốn vay nước ngoài cho ĐT&PT
5. Phát hành kỳ phíếu, trái phiếu
6. Vốn và các quỹ
7. Tài sản nợ khác
2.825
1.921
904
614
1.842
1.722
737

thác tài trợ cho phát triển cũng tăng nhanh năm 2000 là 1.842, năm 2001 là 1.980
tỷ đồng, năm 2002 là 2.291 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng
nguồn vốn, điều này thể hiện khả năng tiếp cần và thu hút các nguồn vốn phục vụ
cho phát triển của ngân hàng càng ngày càng có nhiều tiến bộ.
Về cơ cấu vốn nội tệ và ngoại tệ, trong năm 2002 là tương đối hợp lý, nguồn
vốn huy động đã góp phần tích cực đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn đảm bảo đủ vốn
phục vụ giải ngân các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, đảm bảo khả năng thanh
toán.
Biểu đồ1: Cơ cấu nguồn vốn của sở I
Tính đến ngày 31/12/2002
Huy động vốn của ngân hàng thông qua phát hành trái phiếu năm 2000 là 737 tỷ
đồng, năm 2001 là 1.218 tỷ đồng, năm 2002 là 844 tỷ đồng
Điểm đáng chú ý là cơ cấu vốn từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế và người
dân có sự biến đổi rõ rệt và theo chiều hướng tốt cụ thể là vốn huy động từ người
dân tăng lên rất nhanh cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối. Năm 2000 cơ cấu giữa
vốn huy động từ dân cư và vốn huy động từ các tổ chức kinh tế lần lượt là 904 tỷ
đồng tương ứng với 32%và 1.921 tỷ đồng tương ứng với 68% tổng vốn từ dân và
từ doanh nghiệp, năm 2001 con số này là 1.645 tỷ ứng với 36% và 2.924 tỷ đồng
ứng với 62%, năm 2002 con số này rất đáng chú ý, nó là 3.818 tỷ đồng ứng với
49% và 3.972 ứng với 51%. Sự biến đổi mạnh mẽ cơ cấu nói trên cho thấy người
dẫn đã ngày càng tín nhiệm ngân hàng, ngày càng gửi nhiều tiền vào ngân hàng, là
dấu hiệu tốt cho sở I NHĐT&PTVN có thể có nhiều vốn hơn đáp ứng ngày càng
tốt cho nhu cầu vốn phục vụ đầu tư và phát triển.
Biểu đồ 2: Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn qua các năm
Giai đoạn 2000 - 2002
* Năm 2000 :12.285
1.Tiền gửi các loại chiếm 41%.
2.Các khoản vay chiếm 15,5%.
3. Vốn và quỹ chiếm 21,5%.
4.Vốn uỷ thác chiếm 12,05%.

Trong công tác sử dụng vốn, ngân hàng chú ý đa dạng hoá các hình thức sử
dụng như: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn phục vụ đầu tư phát triển,
bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn đầu tư, cho vay uỷ thác tài trợ phát triển,
góp vốn liên doanh, các loại hình đầu tư vốn khác.
Trong những năm qua Sở I đã chứng tỏ sự tiến bộ vượt bậc và không ngừng
tăng trưởng, Tổng tài sản của ngân hàng đạt tốc độ tăng trưởng cao qua các năm.
Năm 2000 tổng tài sản của ngân hàng là 12.285 tỷ đồng, năm 2001 là 15.230 tỷ
đồng tăng 24,7% so với năm 2000, năm 2002 là 19.000 tỷ đồng tăng 24% so với
năm 2001, đây là mức tăng trưởng cao cả về số tương đối và số tuyệt đối. Sự tăng
trưởng hàng năm với tốc độ cao thể hiện sức phát triển vượt bậc của ngân hàng.
Nhìn vào bảng tổng kết nói trên ta thấy :
Dư nợ tín dụng không ngừng tăng trưởng qua các năm. Năm 2000 tổng dư nợ
( bao gồm cho vay các loại và cho vay uỷ thác tài trợ đầu tư ) của ngân hàng là
10.004 tỷ đồng, năm 2001 là 11.812 tỷ đồng tăng 1.808 tỷ tương ứng với 18% so
với năm 2000, năm 2002 là 15.033 tỷ đồng tăng 3.221 tỷ đồng ứng với 27% so với
năm 2001.
Bảng 2: Bảng sử dụng vốn của sở I NHĐT&PTVN
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
1. Các khoản dự trữ kinh doanh
2. Cho vay các loại
2.1 Cho vay trung và dài hạn
2.2 Cho vay ngắn hạn
1.769
8.206
4.945
3.261
2.663
9.899
5.861

các khách hàng có số dư tiền gửi lớn tại ngân hàng. Cụ thể số dư tín dụng ngắn
hạn của ngân hàngkhông ngừng tăng qua các năm, năm 2000 là 3.261 tỷ đồng, năm
2001 là 4.038 tỷ đồng tăng 777 tỷ ứng với tăng 23,8% so với năm 2000, năm 2002
là 5.063 tỷ đồng tăng 1.802 tỷ đồng ứng với 55,2% so với năm 2000.
Đối với tín dụng trung và dài hạn: Ngân hàng luôn xác định lấy khách hàng
làm trung tâm, coi hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng là hiệu
quả của các khoản tín dụng ngân hàng. Trên quan điểm đó ngân hàng đã tích cực
đa phương hoá khách hàng trên cơ sở duy trì và phát triển khách hàng truyền
thống, đồng thời mở rộng khách hàng mới một cách có chọn lọc.
Dư nợ tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng trong ba năm thường tăng,
năm 2000 là 4.945 tỷ đồng, năm 2001 là 5.861 tỷ đồng, năm 2002 là 7.791 tỷ đồng.
Về chính sách tín dụng của ngân hàng: Với phương châm đa dạng hoá các sản
phẩm, đa dạng hoá đầu tư, nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và phân tán rủi ro,
ngân hàng sử dụng vốn tạo ra nhiều loại tài sản khác nhau trong đó coi tín dụng
đầu tư phát triển, tín dụng thi công xây lắp, cung ứng vật tư thiết bị, vật liệu xây
dựng là mặt trận hàng đầu, đồng thời coi trọng việc mở rộng có chọn lọc các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng và dịch vụ phi ngân hàng khác trong đó chú trọng cho vay
khép kín, kết hợp đồng tài trợ và bảo lãnh dưới các hình thức khác nhau.
Biểu đồ 5 : Cơ cấu tài sản của ngân hàng giai đoạn 2000- 2002
Ngân hàng đã tập trung vốn cho các dự án trọng điểm, hiệu quả cao theo các mục
tiêu hiện đại hoá, mở rộng tín dụng đối với các thành phần kinh tế.
Vốn đầu tư đã tập trung cho các chương trình kinh tế, dự án trọng điểm của
nền kinh tế như: vật liệu xây dựng, điện lực, mía đường, dệt may, đánh bắt cá xa
bờ.
Sang năm 2001, mặc dù tình hình kinh tế đất nước và khu vực có nhiều khó
khăn thiên tai, khủng hoảng tài chính tiền tệ, nhưng hoạt động của ngân hàng vẫn
tăng trưởng góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế, ổn định tiền tệ, kiềm chế
lạm phát. Qua đây ta càng thấy vai trò của ngân hàng trong phát triển và ổn định
kinh tế.
Ngân hàng không ngừng dịch chuyển cơ cấu các hoạt động, mở rộng và nâng

Về công tác kế toán kho quỹ : Thanh toán trong nước với doanh số rất lớn đạt
100.986 tỷ đồng qua nhiều kênh thanh toán như thanh toán bù trừ, thanh toán tập
trung, thanh toán liên ngân hàng ... thu nhập từ dịch vụ thanh toán trong nước đạt
trên 3 tỷ đồng .
Thực hiện tốt công tác quyết toán năm 2002, đảm bảo nhanh chóng, kịp thời,
chính xác.
Dịch vụ chuyển tiền kiều hối ngày càng phát triển, số tiền chuyển từ nước
ngoài về cho nhân thân ở Việt nam ngày một tăng lên, đặc biệt là dịch vụ chuyển

Trích đoạn Rủi ro của các khoản tín dụng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status