CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CHÂU Á
I. CÁC XU THẾ NỔI BẬT TRÊN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CHÂU Á HIỆN
NAY
1. Hệ thống bán lẻ hiện đại dần thay thế các cửa hàng truyền thống
1.1 Thay đổi trong hành vi tiêu dùng của người dân châu Á
Sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại xuất phát từ những thay đổi sâu sắc
trong xã hội các quốc gia châu Á.
Thứ nhất, thu nhập trung bình của châu lục này đã tăng lên một cách đáng kể
kéo theo sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu và thượng lưu với số lượng ngày càng lớn.
Thứ hai, và cũng là nguyên nhân quan trọng hơn cả chính là sự thay đổi về vai
trò của người phụ nữ trong xã hội. Nếu những năm đầu của thế kỷ 20, tỷ lệ phụ nữ tham
gia vào lực lượng lao động trên cả châu Á chưa đến 20% thì trong thập kỷ đầu của thế
kỷ 21, số lượng phụ nữ làm việc đã xấp xỉ số lượng nam giới. Ở một số nước Đông Á
như Hàn Quốc, Đài Loan, … trung bình tỷ lệ nữ giới trên nam giới trong lực lượng lao
động là khoảng 91-93/100. Chính vì sự thay đổi mang tính cách mạng đó, xu hướng
tiêu dùng trong xã hội châu Á cũng thay đổi mạnh mẽ. Khi ngày càng nhiều phụ nữ đi
làm, họ có khuynh hướng tiết kiệm thời gian mua sắm và nấu nướng của mình. Do vậy,
những thực phẩm đã qua chế biến ngày càng trở nên phổ biến.
Bên cạnh đó, việc sử dụng rộng rãi của tủ lạnh và các dụng cụ điện tử hiện đại
khác trong gia đình cho phép người dân có thể đi chợ hàng tuần, thay vì hàng ngày như
thời kỳ trước đây. Hơn nữa, do sự phát triển của các phương tiện cá nhân và hệ thống
đường xá, cơ sở hạ tầng được xây dựng và nâng cấp đã tạo điều kiện cho người tiêu
dùng, đặc biệt là phụ nữ có thể lựa chọn mua sắm ở các khu vực xa trung tâm với số
lượng hàng hóa mua sắm lớn hơn nhiều lần.
Theo các bản nghiên cứu thị trường của Nielsen được tiến hành vào năm 2008
và 2009, người dân ở hầu hết các đô thị lớn của các quốc gia châu Á thường đi mua
hàng ở các đại siêu thị trung bình hai đến ba lần/tháng. Mục đích mua sắm của họ
thường phục vụ cho việc dự trữ thực phẩm, mua lương thực sử dụng hàng ngày hay các
đồ dùng, sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Theo Nielsen 2009, Hàn Quốc nơi 96% dân cư
thành thị đến siêu thị mua sắm hàng tháng giữ tỷ lệ cao nhất so với các quốc gia châu Á
lẻ truyền thống. Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2009, theo Nielsen 2009,số lượng các
cửa hàng bán lẻ hàng tiêu dùng truyền thống trên khắp châu Á chỉ tăng 1% lên khoảng
hơn 12.3 triệu. Số lượng các cửa hàng bán lẻ hiện đại tăng đến 16% trong năm 2009.
Tốc độ tăng trưởng về số lượng chuỗi cửa hàng bán lẻ truyền thống và hiện đại ở một
số quốc gia được thể hiện trong bảng sau:
QUỐC GIA
HỆ THỐNG
BÁN LẺ
TRUYỀN
THỐNG
HỆ THỐNG
BÁN LẺ
HIỆN ĐẠI
Hàn Quốc -10 +7
Đài Loan -9,5 0
Trung Quốc -4 +13
Ấn Độ +5 +18
Singapore -6 +1
Malaysia +3 +5
Bảng II.1: Tốc độ tăng trưởng số lượng các cửa hàng bán lẻ (%) 2007 –
2008Nguồn: Nielsen 2009
Thị phần hệ thống bán lẻ hiện đại giành được cũng không ngừng tăng lên. Tính
đến hết năm 2007, hệ thống bán lẻ hiện đại đã giành thị phần lớn hơn các loại hình bán
lẻ truyền thống. Cụ thể ở một số nước châu Á: ở Hàn Quốc, thị phần của hệ thống bán
lẻ truyền thống giảm xuống từ 15.9% trong năm 2008 xuống chỉ còn 13.9% năm 2009
trong khi đó ở Đài Loan, hệ thống này chỉ nắm giữ hơn 6% thị phần. Biểu đồ sau cho
thấy sự thay đổi về thị phần của hai mô hình bán lẻ truyền thống và hiện đại trên khắp
châu Á nói chung.
Biểu đồ II.1: Thị phần (%) của hệ thống bán lẻ truyền thống và hiện đại ở Châu
Á (trừ Nhật Bản)
trọng hơn đến thị trường Đông Nam Á đầy tiềm năng. Khu vực này được coi là một
trong những khu vực năng động nhất trong châu lục và nhanh chóng phục hồi sau
khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới là Wal-mart
hiện đã lên kế hoạch xâm nhập thị trường này trong khoảng thời gian 5 năm tới.
2.2 Lợi thế của các tập đoàn lớn từ Âu, Mỹ
2.2.1 Tài chính
Các tập đoàn bán lẻ lớn nhất của thế giới hiện diện trên thị trường châu Á đều có
lợi thế vượt trội về vốn. Chỉ tính riêng 4 đại gia đứng đầu danh sách 250 nhà bán lẻ toàn
cầu là Wal-mart, Carrefour, Metro và Tesco đã có tổng doanh thu vào khoảng gần 730
tỷ đô la trong năm 2008 với lợi nhuận thuần khoảng 20,6 tỷ đô. Chỉ riêng Wal-mart đã
có doanh thu bán lẻ năm 2008 là hơn 407 tỷ đô la. Trong khi đó, tập đoàn bán lẻ AS
Watson của Hồng Kông là tập đoàn bán lẻ đứng đầu châu Á xét về quy mô doanh số
thu được từ hoạt động bán lẻ cũng chỉ đạt 15 tỷ đô la (Deloitte 2010, tr.13). Bên cạnh
lợi thế vượt trội về mặt tài chính, các tập đoàn bán lẻ toàn cầu này còn sở hữu hàng
chục năm kinh nghiệm hoạt động trên thị trường quốc tế. Đây là điểm mà phần lớn nhà
bán lẻ châu Á chưa có được.
Tài chính và kinh nghiệm là những lợi thế cạnh tranh ban đầu mà những đại gia
bán lẻ trên thế giới sở hữu khi thâm nhập vào thị trường châu Á. Nguồn vốn khổng lồ là
điều kiện ban đầu giúp các tập đoàn bán lẻ này xây dựng các chiến lược thôn tính các
thị trường châu Á. Tiềm lực tài chính hùng hậu cho phép những tập đoàn này có thể xác
định thua lỗ từ 5 đến 7 năm, thậm chí là 10 năm khi bắt đầu hoạt động ở một thị trường
mới. Bên cạnh đó, nguồn vốn khổng lồ giúp các tập đoàn này có thể đầu tư lớn vào các
hoạt động marketing xúc tiến bán hàng, đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao do
có khả năng chi trả những mức lương hết sức cạnh tranh và xây dựng các chương trình
chăm sóc khách hàng thực sự hấp dẫn. Nguồn lực tài chính còn cho phép các tập đoàn
bán lẻ này ứng dụng những công nghệ quản lý hàng đầu, tăng hiệu quả hoạt động. Công
nghệ hiện đại chính là lợi thế vượt trội thứ hai giúp các tập đoàn này thành công trên thị
trường châu Á.
2.2.2 Công nghệ
Công nghệ, cùng với kinh nghiệm quản lý tiên tiến chính là bí quyết dẫn đến
đặt món hàng đó.
2.3 Sự hiện diện của một số tập đoàn bán lẻ Âu Mỹ lớn nhất tại châu Á
1 Carrefour
Người khổng lồ đến từ Pháp Carrefour là tập đoàn bán lẻ phương Tây đầu tiên
thâm nhập thị trường châu Á. Vào năm 1989, tập đoàn này đã bắt tay với một công ty
cổ phần của Đài Loan là Uni President Enterprises Corporation. Sau khi gặt hái được
những kinh nghiệm từ các hoạt động kinh doanh ở thị trường Đài Loan, Carrefour
nhanh chóng mở rộng phạm vi sang các quốc gia châu Á khác, bao gồm các quốc gia
tiểu vương quốc Ả Rập và một số nước Nam Á như Pakistan(Wikipedia 2010).
Năm 2007 đánh dấu một cột mốc trong lịch sử phát triển của đại gia bán lẻ lớn
thứ hai thế giới này ở châu Á khi tập đoàn cho ra đời 36 đại siêu thị ở châu lục này.
Tính riêng ở Trung Quốc con số đại siêu thị được xây dựng trong năm 2007 đã là 22.
Đây là số lượng lớn chưa từng thấy trong một năm(Wikipedia 2010).
Nhân tố dẫn đến thành công của nhà bán lẻ này khi mở rộng hoạt động sang các
nước khác nói chung và châu Á nói riêng chính là ở cách quản lý linh hoạt và đặc biệt
là việc phân cấp quản lý theo đó cho phép người lãnh đạo trên mỗi thị trường được toàn
quyền ra những quyết định liên quan tới việc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh sao cho
phù hợp với tập quán và truyền thống của từng thị trường cụ thể. Vì vậy, thành công
của Carrefour trên thị trường châu Á theo như quản lý tập đoàn này tổng kết là do họ đã
thích nghi được với tình hình đặc trưng của châu lục. Carrefour theo đuổi chiến lược
kinh doanh với các mô hình bán lẻ vô cùng phong phú, từ các đại siêu thị đến các cửa
hàng tiện ích. Bằng cách đa dạng hóa hệ thống cửa hàng bán lẻ của mình, Carrefour đã
tận dụng được tính kinh tế của chi phí bằng việc chia xẻ chi phí cho các hoạt động hậu
cần, marketing, nghiên cứu,… giữa các mô hình kinh doanh khác nhau.
2 Wal-mart
Tập đoàn bán lẻ có trụ sở đặt tại bang Arkansas(Hoa Kỳ) này là nhà bán lẻ lớn
nhất thế giới với doanh thu hàng năm lên tới 400 tỷ đô la Mỹ. Số lượng lao động làm
việc cho Wal-mart gần 2 triệu người (tính đến hết năm 2008), trong đó có đến 500.000
lao động ở các thị trường ngoài nước Mỹ. Thông qua hơn 2500 cửa hàng của mình ở
nước ngoài, Wal-mart phục vụ cho khoảng hơn 140 triệu khách hàng mỗi tuần(Wal-
được.
3 Tesco
Tesco là tập đoàn bán lẻ nằm trong top 5 nhà bán lẻ lớn nhất thế giới năm 2009
dựa trên doanh số bán lẻ đồng thời là nhà bán lẻ lớn nhất ở Anh Quốc.
Tesco bắt đầu xâm nhập thị trường châu Á vào cuối những năm 1980, hiện nay
tập đoàn này đã trở thành một trong những nhà bán lẻ phương Tây lớn nhất trên thị
trường châu lục này, là đối thủ cạnh tranh chính của Carrefour và Walmart. Sự phát
triển của Tesco ở châu Á có thể thấy qua một số biểu đồ sau:
Biểu đồ II.2: Số lượng các cơ sở bán lẻ và doanh thu của Tesco trên thị trường
châu Á 2000-2008
Nguồn: Tesco 2008, tr.17-21
Có thể thấy qua hai biểu đồ trên, quy mô hoạt động kinh doanh của Tesco ở châu
Á không ngừng tăng lên. Tesco hiện đã giành được lợi thế cạnh tranh trên hai thị trường
lớn nhất ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ. Để có được thành công trên thị trường
châu Á, Tesco đã theo đuổi chiến lược kinh doanh linh hoạt. Tập đoàn này không chỉ
tập trung vào hình thức đại siêu thị như ở khu vực Tây Âu mà còn đa dạng hóa các mô
hình kinh doanh khác, đặc biệt là các siêu thị, siêu thị nhỏ, cửa hàng tiện ích. Các hệ
thống trung tâm bán lẻ của Tesco như Home plus hay Homever đã trở nên phổ biến cả ở
các thành phố, trung tâm mua sắm mới và về cả vùng nông thôn.
Đặc biệt, sự thành công của Tesco nằm ở chiến lược kinh doanh lấy khách hàng
bản địa là trung tâm, đặc biệt chú ý việc đáp ứng những nhu cầu mới xuất hiện của
người dân châu Á. Điều khác biệt mà tập đoàn này đang cố gắng tạo dựng cho mình là
trở thành nhà bán lẻ đầu tiên phát hiện và tìm cách thỏa mãn thị hiếu khách hàng. Bên
cạnh đó, nhà bán lẻ này cũng ngày một chú trọng hơn vào các hoạt động vì lợi ích cộng
đồng, gây dựng được hình ảnh một công ty nước ngoài kinh doanh có trách nhiệm trên
mỗi thị trường mà Tesco có mặt.
3. Một số công ty bán lẻ gốc Châu Á không ngừng mở rộng phạm vi kinh doanh
vượt khỏi biên giới quốc gia, khu vực
Trong bảng xếp hạng những nhà bán lẻ lớn nhất thế giới hàng năm đều xuất hiện
những tên tuổi của các nhà bán lẻ châu Á. Những nhà bán lẻ châu Á này không những