LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Châu Á đang nổi lên là châu lục phát triển năng động nhất thế giới. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế của các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ luôn được
ghi nhận thuộc vào những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Sự vươn lên
mạnh mẽ của châu lục từng bị lãng quên này được thể hiện qua nhiều khía cạnh,
trong đó sự phát triển của thị trường bán lẻ là một trong những bức tranh rõ nét
nhất minh chứng cho thời kỳ đỉnh cao của châu Á. Thị trường châu Á trong thời
đại hiện nay không chỉ đi theo những xu thế đã được tạo dựng trên thế giới mà dần
thể hiện vị thế chủ động khi tạo ra những bước ngoặt trong lịch sử phát triển của
nền kinh tế toàn cầu.
Một trong những khuynh hướng nổi bật trong lĩnh vực thương mại toàn cầu
trong thế kỷ 20 chính là sự mở rộng lãnh địa kinh doanh của các tập đoàn bán lẻ ra
khỏi biên giới quốc gia. Và có thể nói rằng, sự kiện các tập đoàn bán lẻ hàng đầu
châu Âu và Bắc Mỹ đặt chân vào thị trường châu Á là một cột mốc trong lịch sử
thương mại thế giới. Thời kỳ trước những năm 1980, tầm ngắm của các nhà bán lẻ
châu Âu chỉ dừng lại ở các quốc gia châu Âu khác. Một số lượng nhỏ chỉ bắt đầu
chú ý đến thị trường Bắc Mỹ và thành công của họ ở khu vực này khá khiêm tốn.
Tương tự, sự xâm chiếm của các doanh nghiệp bán lẻ đến từ Mỹ hay Canada vào
thị trường Châu Âu không mang lại kết quả thành công như mong đợi. Chỉ đến khi
các tập đoàn bán lẻ ở hai châu lục phát triển nhất thế giới này bắt đầu tìm kiếm cơ
hội và tiến đến thị trường châu Á, khái niệm toàn cầu hóa khu vực bán lẻ mới thực
sự bước sang một trang mới.
Thị trường bán lẻ Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung. Đây là thị
trường luôn được đánh giá cao và thường xuyên nhận được những dự báo khả
quan về mức độ cũng như tốc độ phát triển trong thời gian tới. Tuy nhiên, thị
trường bán lẻ vẫn đang ở giai đoạn đầu phát triển. Vì vậy, thị trường bán lẻ Việt
Nam vẫn rất cần những định hướng phát triển chi tiết, hợp lý.
1
Xuất phát từ thực tế đó, em chọn đề tài: “Thực trạng thị trường bán lẻ
châu Á và những kiến nghị đối với Việt Nam”.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thị trường bán lẻ.
Chương 2: Thực trạng thị trường bán lẻ châu Á.
Chương 3: Thị trường bán lẻ Việt Nam và những kiến nghị nhằm phát triển
thị trường trong tương lai.
Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp, em đã nhận được sự hướng
dẫn nhiệt tình cũng như những ý kiến đóng góp vô cùng quý giá của Thạc sỹ
Nguyễn Thị Xuân Hường. Em xin gửi tới cô lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
nhất. Luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót do đề tài tương đối rộng
trong khi khuôn khổ của bài khóa luận lại hạn chế. Em rất mong nhận được sự
thông cảm và góp ý từ phía các thày cô và các bạn.
3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ
TRƯỜNG BÁN LẺ
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
1. Các khái niệm về bán lẻ
1.1 Thị trường bán lẻ
• Thị trường bán lẻ: được hiểu là thị trường trên đó người bán (cá nhân hay
các công ty, gọi chung là nhà bán lẻ) bán sản phẩm trực tiếp đến người mua (người
tiêu dùng cuối cùng).
• Dịch vụ bán lẻ: Theo tài liệu số MTN.GNS/W/120 được xây dựng trong
vòng đàm phán Urugoay dựa trên hệ thống phân loại sản phẩm của Liên Hợp
Quốc thì bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối. Dịch
vụ phân phối được quy định bao gồm:
Dịch vụ đại lý hoa hồng
Dịch vụ bán buôn
Dịch vụ nhượng quyền thương mại
Dịch vụ bán lẻ
1.2 Nhà bán lẻ
1.2.1 Nhà bán lẻ:
Nhà bán lẻ là người bán sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) đến khách
dùng miễn phí hay ở một tầm cao là cho khách hàng vay tiền để mua hàng của họ
Với tất cả chức năng trên của mình, nhà bán lẻ đã thực hiện được nhiệm vụ
quan trọng nhất là làm gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà khách hàng nhận
được.
Từ những khía cạnh đã phân tích ở trên, chúng ta có thể định nghĩa hoạt
động bán lẻ là hoạt động kinh doanh làm gia tăng giá trị đối với hàng hóa hay dịch
vụ bán cho người tiêu dùng vì mục đích sử dụng của cá nhân hay gia đình. Hoạt
5
động bán lẻ không chỉ diễn ra trong các cửa hàng mà còn bao gồm các hoạt động
bán hàng qua điện thoại, qua mạng Internet, các dịch vụ chăm sóc, làm đẹp, v.v.
2. Những đặc điểm của thị trường bán lẻ
Trên thị trường bán lẻ, hàng hóa được bán đến tay người tiêu dùng cuối
cùng. Người này mua hàng theo nhu cầu và sử dụng cho bản thân hay gia đình mà
không bán lại nhằm mục đích kinh doanh hay bất cứ mục đích sinh lời nào khác.
Đây được coi là đặc điểm cơ bản phân biệt thị trường bán lẻ với các thị trường
giao dịch hàng hóa khác.
Thị trường bán lẻ cung cấp hàng hóa với những chủng loại đa dạng, nhãn
hiệu và có thể phục vụ mọi đối tượng khách hàng sinh sống ở các vùng địa lý khác
nhau. Hàng hóa trên thị trường bán lẻ có thể được phân thành hai loại:
• Nhóm các sản phẩm lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa liên quan
(food sector), bao gồm: lương thực (gạo, ngũ cốc, bột mì,…); thực phẩm
(tươi sống hay đã qua chế biến); đồ uống (rượu, bia, nước giải khát); .v.v.
• Nhóm các sản phẩm phi thực phẩm (non-food sector), bao gồm: đồ điện tử
dân dụng hay gia dụng; hóa mỹ phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe hay sắc
đẹp; các sản phẩm thời trang: hàng dệt, may, da giày…; văn phòng phẩm;
sách báo; đồ chơi; máy tính và các phần mềm máy tính; .v.v.
3. Phân loại các loại hình thức bán lẻ trên thị trường
Cách phân chia cơ bản nhất và được sử dụng nhiều nhất khi phân tích hay
nghiên cứu thị trường bán lẻ là phân loại dựa vào mô hình kinh doanh. Theo đó thị
trường bán lẻ bao gồm hai hình thức kinh doanh chính:
Siêu thị được xây dựng trên mô hình người mua sắm tự phục vụ. Diện tích
sàn của các siêu thị nằm trong khoảng từ 5.000 đến 30.000 mét vuông. Số loại sản
7
phẩm bày bán vào khoảng 15.000. Khoảng hai phần ba các sản phẩm bày bán
trong siêu thị là lương thực, thực phẩm. Thông thường các siêu thị còn cung cấp
thêm quầy đồ ăn sẵn và hiệu bánh mỳ.
3.2.4 Cửa hàng tiện ích (convenience store)
Các cửa hàng tiện ích là các mô hình cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ. Diện tích
mỗi cửa hàng thường dưới 3000 mét vuông, số các mặt hàng bày bán dưới 5000
loại. Các cửa hàng này thường mở ở những nơi giao thông thuận lợi, tập trung dân
số, giờ hoạt động thường muộn hơn các loại hình khác. Sản phẩm bày bán chủ yếu
là các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày và giá cả thường cao hơn so với hàng hóa
trong siêu thị.
3.2.5 Cửa hàng giảm giá (discount store):
Là hệ thống các cửa hàng cho phép khách hàng tiếp cận với những chủng
loại hàng hóa giá rẻ, ở vị trí khá thuận lợi về giao thông. Đặc điểm của mô hình
kinh doanh này là chi phí mặt bằng thấp, số lượng nhân lực giới hạn, tiết kiệm đầu
tư vào marketing. Hàng hóa được trưng bày với số lượng khá đa dạng. Mỗi thời
điểm, cửa hàng sẽ giảm giá một số loại mặt hàng nhất định. Diện tích mỗi cửa
hàng loại này thường từ 300 đến 1000 mét vuông sản. Mô hình kinh doanh này có
thể được tìm thấy ở những khu vực cho thuê diện tích sàn với giá rẻ hay tầng hầm
của các trung tâm mua sắm lớn.
3.2.6 Cửa hàng mỹ phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp (drugstore)
Là các cửa hàng bán lẻ chuyên bán các loại thuốc (thường là thuốc bán
không cần kèm đơn thuốc) và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe như thực phẩm
chức năng,.. Ngoài ra, ở các cửa hàng loại này, người tiêu dùng có thể tìm thấy các
loại hàng hóa mỹ phẩm như dầu gội, sữa tắm, mỹ phẩm hay các sản phẩm làm
đẹp. Ở một số nơi, bánh kẹo và báo, tạp chí cũng được trưng bày để phục vụ
khách hàng.
• Ngoài ra còn có một số cách phân loại khác, như:
9
Trên thị trường bán lẻ, người bán và người mua có mối quan hệ trực tiếp.
Họ gặp gỡ và giao dịch với nhau. Nhờ đó, người bán lẻ thu được những thông tin
sơ cấp về khách hàng của mình. Nhà bán lẻ có cơ hội tìm hiểu và nghiên cứu
những nhu cầu của người tiêu dùng qua đó tìm cách đáp ứng được những nhu cầu
đó. Thông qua việc bán hàng đến người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán lẻ có thể thu
thập được những phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao
bì đóng gói,… Từ đó họ có thể truyền tải đến người sản xuất
Trong quá trình tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán lẻ
hoàn toàn có khả năng tìm hiểu những nhu cầu có thể xuất hiện trong tương lai và
giúp nhà sản xuất bắt kịp được những xu hướng thị trường để lên chiến lược mở
rộng sản xuất.
Ngược lại, nhà sản xuất cũng có thể thông qua thị trường bán lẻ để nghiên
cứu thái độ của thị trường khi đón nhận một sản phẩm hay kế hoạch sản xuất mới
trong tương lai.
Tóm lại, thông tin chính là chìa khóa dẫn đến thành công cho bất cứ doanh
nghiệp trong bất cứ ngành nào. Và nhờ vào những thông tin trên thị trường bán lẻ,
nhà sản xuất có thể điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cải tiến sản phẩm theo hướng
thỏa mãn tối đa thị hiếu người tiêu dùng. Người tiêu dùng, nhờ vào việc nghiên
cứu những biến động trên thị trường cũng có thể điều chỉnh hành vi mua sắm của
mình theo hướng có lợi nhất với chi phí thấp nhất và tiết kiệm được thời gian.
3. Thị trường bán lẻ phản ánh tình hình sản xuất, kinh doanh và mức sống của
người dân trong một quốc gia
Sự tồn tại của thị trường bán lẻ là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát
triển của các ngành sản xuất trong xã hội. Mục đích của bất cứ ngành sản xuất nào
là tạo ra sản phẩm và bán đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Do vậy, sự hoạt động
của thị trường bán lẻ tạo điều kiện cho các ngành sản xuất, kinh doanh tồn tại và
hoạt động bình thường.
10
10
số nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, … trung bình tỷ lệ nữ giới trên nam
giới trong lực lượng lao động là khoảng 91-93/100. Chính vì sự thay đổi mang tính
cách mạng đó, xu hướng tiêu dùng trong xã hội châu Á cũng thay đổi mạnh mẽ.
Khi ngày càng nhiều phụ nữ đi làm, họ có khuynh hướng tiết kiệm thời gian mua
sắm và nấu nướng của mình. Do vậy, những thực phẩm đã qua chế biến ngày càng
trở nên phổ biến.
Bên cạnh đó, việc sử dụng rộng rãi của tủ lạnh và các dụng cụ điện tử hiện
đại khác trong gia đình cho phép người dân có thể đi chợ hàng tuần, thay vì hàng
ngày như thời kỳ trước đây. Hơn nữa, do sự phát triển của các phương tiện cá nhân
và hệ thống đường xá, cơ sở hạ tầng được xây dựng và nâng cấp đã tạo điều kiện
cho người tiêu dùng, đặc biệt là phụ nữ có thể lựa chọn mua sắm ở các khu vực xa
trung tâm với số lượng hàng hóa mua sắm lớn hơn nhiều lần.
12
12
Theo các bản nghiên cứu thị trường của Nielsen được tiến hành vào năm
2008 và 2009, người dân ở hầu hết các đô thị lớn của các quốc gia châu Á thường
đi mua hàng ở các đại siêu thị trung bình hai đến ba lần/tháng. Mục đích mua sắm
của họ thường phục vụ cho việc dự trữ thực phẩm, mua lương thực sử dụng hàng
ngày hay các đồ dùng, sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Theo Nielsen 2009, Hàn
Quốc nơi 96% dân cư thành thị đến siêu thị mua sắm hàng tháng giữ tỷ lệ cao nhất
so với các quốc gia châu Á còn lại.
Một nguyên nhân khác tạo nên sự thay đổi trong thói quen mua sắm của
người châu Á xuất phát từ chính sự điều chỉnh của các mô hình bán lẻ hiện đại.
Người châu Á, khác với người phương Tây, vốn có thói quen sử dụng những thực
phẩm tươi sống nên mô hình bán lẻ truyền thống như chợ từ lâu đã trở thành một
phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân ở đây. Nhận thức được điều
đó, các siêu thị và đại siêu thị đã dần dần giới thiệu và xây dựng các quầy bán
hàng tươi sống như thịt gia súc, gia cầm, rau xanh để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng ở
châu lục này. Hiện nay, cũng theo Nielsen, tỷ lệ người dân Trung Quốc mua thực
phẩm tươi sống từ chuỗi các đại siêu thị đang đứng đầu toàn châu Á khi mô hình
THỐNG
HỆ THỐNG
BÁN LẺ
HIỆN ĐẠI
Hàn Quốc -10 +7
Đài Loan -9,5 0
Trung Quốc -4 +13
Ấn Độ +5 +18
Singapore -6 +1
Malaysia +3 +5
Bảng II.1: Tốc độ tăng trưởng số lượng các cửa hàng bán lẻ (%) 2007 – 2008
Nguồn: Nielsen 2009
Thị phần hệ thống bán lẻ hiện đại giành được cũng không ngừng tăng lên.
Tính đến hết năm 2007, hệ thống bán lẻ hiện đại đã giành thị phần lớn hơn các loại
hình bán lẻ truyền thống. Cụ thể ở một số nước châu Á: ở Hàn Quốc, thị phần của
hệ thống bán lẻ truyền thống giảm xuống từ 15.9% trong năm 2008 xuống chỉ còn
13.9% năm 2009 trong khi đó ở Đài Loan, hệ thống này chỉ nắm giữ hơn 6% thị
14
14
phần. Biểu đồ sau cho thấy sự thay đổi về thị phần của hai mô hình bán lẻ truyền
thống và hiện đại trên khắp châu Á nói chung.
Biểu đồ II.1: Thị phần (%) của hệ thống bán lẻ truyền thống và hiện đại ở
Châu Á (trừ Nhật Bản)
Nguồn: Nielsen 2009
2. Sự hiện diện và tầm ảnh hưởng của các tập đoàn bán lẻ hàng đầu Âu Mỹ ngày
càng lớn
2.1 Tình hình mở rộng của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu ra khắp châu Á
Châu Á vươn lên là khu vực phát triển nhanh nhất và năng động nhất thế
giới. Khu vực này ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài,
đặt biệt là các nền kinh tế được coi là những con rồng châu Á (Hàn Quốc,
2.2 Lợi thế của các tập đoàn lớn từ Âu, Mỹ
2.2.1 Tài chính
Các tập đoàn bán lẻ lớn nhất của thế giới hiện diện trên thị trường châu Á
đều có lợi thế vượt trội về vốn. Chỉ tính riêng 4 đại gia đứng đầu danh sách 250
nhà bán lẻ toàn cầu là Wal-mart, Carrefour, Metro và Tesco đã có tổng doanh thu
vào khoảng gần 730 tỷ đô la trong năm 2008 với lợi nhuận thuần khoảng 20,6 tỷ
đô. Chỉ riêng Wal-mart đã có doanh thu bán lẻ năm 2008 là hơn 407 tỷ đô la.
Trong khi đó, tập đoàn bán lẻ AS Watson của Hồng Kông là tập đoàn bán lẻ đứng
đầu châu Á xét về quy mô doanh số thu được từ hoạt động bán lẻ cũng chỉ đạt 15
tỷ đô la (Deloitte 2010, tr.13). Bên cạnh lợi thế vượt trội về mặt tài chính, các tập
đoàn bán lẻ toàn cầu này còn sở hữu hàng chục năm kinh nghiệm hoạt động trên
thị trường quốc tế. Đây là điểm mà phần lớn nhà bán lẻ châu Á chưa có được.
16
16
Tài chính và kinh nghiệm là những lợi thế cạnh tranh ban đầu mà những đại
gia bán lẻ trên thế giới sở hữu khi thâm nhập vào thị trường châu Á. Nguồn vốn
khổng lồ là điều kiện ban đầu giúp các tập đoàn bán lẻ này xây dựng các chiến
lược thôn tính các thị trường châu Á. Tiềm lực tài chính hùng hậu cho phép những
tập đoàn này có thể xác định thua lỗ từ 5 đến 7 năm, thậm chí là 10 năm khi bắt
đầu hoạt động ở một thị trường mới. Bên cạnh đó, nguồn vốn khổng lồ giúp các
tập đoàn này có thể đầu tư lớn vào các hoạt động marketing xúc tiến bán hàng, đầu
tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao do có khả năng chi trả những mức lương hết
sức cạnh tranh và xây dựng các chương trình chăm sóc khách hàng thực sự hấp
dẫn. Nguồn lực tài chính còn cho phép các tập đoàn bán lẻ này ứng dụng những
công nghệ quản lý hàng đầu, tăng hiệu quả hoạt động. Công nghệ hiện đại chính là
lợi thế vượt trội thứ hai giúp các tập đoàn này thành công trên thị trường châu Á.
2.2.2 Công nghệ
Công nghệ, cùng với kinh nghiệm quản lý tiên tiến chính là bí quyết dẫn
đến thành công của các nhà bán lẻ đến từ châu Âu và Bắc Mỹ khi mở rộng địa bàn
hoạt động sang các quốc gia châu Á. Hầu hết các nhà bán lẻ, đặc biệt trong lĩnh
họ nhanh chóng tìm được mặt hàng cần mua và nơi đặt món hàng đó.
2.3 Sự hiện diện của một số tập đoàn bán lẻ Âu Mỹ lớn nhất tại châu Á
3.1.Carrefour
Người khổng lồ đến từ Pháp Carrefour là tập đoàn bán lẻ phương Tây đầu
tiên thâm nhập thị trường châu Á. Vào năm 1989, tập đoàn này đã bắt tay với một
công ty cổ phần của Đài Loan là Uni President Enterprises Corporation. Sau khi
gặt hái được những kinh nghiệm từ các hoạt động kinh doanh ở thị trường Đài
Loan, Carrefour nhanh chóng mở rộng phạm vi sang các quốc gia châu Á khác,
18
18
bao gồm các quốc gia tiểu vương quốc Ả Rập và một số nước Nam Á như
Pakistan (Wikipedia 2010).
Năm 2007 đánh dấu một cột mốc trong lịch sử phát triển của đại gia bán lẻ
lớn thứ hai thế giới này ở châu Á khi tập đoàn cho ra đời 36 đại siêu thị ở châu lục
này. Tính riêng ở Trung Quốc con số đại siêu thị được xây dựng trong năm 2007
đã là 22. Đây là số lượng lớn chưa từng thấy trong một năm (Wikipedia 2010).
Nhân tố dẫn đến thành công của nhà bán lẻ này khi mở rộng hoạt động sang
các nước khác nói chung và châu Á nói riêng chính là ở cách quản lý linh hoạt và
đặc biệt là việc phân cấp quản lý theo đó cho phép người lãnh đạo trên mỗi thị
trường được toàn quyền ra những quyết định liên quan tới việc điều chỉnh kế
hoạch kinh doanh sao cho phù hợp với tập quán và truyền thống của từng thị
trường cụ thể. Vì vậy, thành công của Carrefour trên thị trường châu Á theo như
quản lý tập đoàn này tổng kết là do họ đã thích nghi được với tình hình đặc trưng
của châu lục. Carrefour theo đuổi chiến lược kinh doanh với các mô hình bán lẻ vô
cùng phong phú, từ các đại siêu thị đến các cửa hàng tiện ích. Bằng cách đa dạng
hóa hệ thống cửa hàng bán lẻ của mình, Carrefour đã tận dụng được tính kinh tế
của chi phí bằng việc chia xẻ chi phí cho các hoạt động hậu cần, marketing, nghiên
cứu,… giữa các mô hình kinh doanh khác nhau.
3.2.Wal-mart
Tập đoàn bán lẻ có trụ sở đặt tại bang Arkansas (Hoa Kỳ) này là nhà bán lẻ
công nghệ này và ngay lập tức đã gặt hái được kết quả tốt đẹp. Bên cạnh đó, thành
công của Wal-mart ở châu Á đạt được còn là nhờ vào chiến lược xây dựng niềm
tin từ các nhà sản xuất bằng việc thu hút họ vào các sáng kiến hoạt động quy mô
lớn. Nhà bán lẻ này bỏ rất nhiều công sức lựa chọn một chuỗi những nhà sản xuất
và giữ quan hệ lâu bền và tốt đẹp với họ. Do đó, tập đoàn này luôn đảm bảo nguồn
hàng hóa giá rẻ nhất trên thị trường. Ở thị trường châu Á nơi đa số người dân còn
quan tâm nhiều hơn đến giá cả hàng hóa, lợi thế về giá của Wal-mart gần như
không tập đoàn nào có thể cạnh tranh được.
20
20
3.3.Tesco
Tesco là tập đoàn bán lẻ nằm trong top 5 nhà bán lẻ lớn nhất thế giới năm
2009 dựa trên doanh số bán lẻ đồng thời là nhà bán lẻ lớn nhất ở Anh Quốc.
Tesco bắt đầu xâm nhập thị trường châu Á vào cuối những năm 1980, hiện
nay tập đoàn này đã trở thành một trong những nhà bán lẻ phương Tây lớn nhất
trên thị trường châu lục này, là đối thủ cạnh tranh chính của Carrefour và Walmart.
Sự phát triển của Tesco ở châu Á có thể thấy qua một số biểu đồ sau:
Biểu đồ II.2: Số lượng các cơ sở bán lẻ và doanh thu của Tesco trên thị
trường châu Á 2000-2008
Nguồn: Tesco 2008, tr.17-21
Có thể thấy qua hai biểu đồ trên, quy mô hoạt động kinh doanh của Tesco ở
châu Á không ngừng tăng lên. Tesco hiện đã giành được lợi thế cạnh tranh trên hai
thị trường lớn nhất ở châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ. Để có được thành công trên
thị trường châu Á, Tesco đã theo đuổi chiến lược kinh doanh linh hoạt. Tập đoàn
này không chỉ tập trung vào hình thức đại siêu thị như ở khu vực Tây Âu mà còn
đa dạng hóa các mô hình kinh doanh khác, đặc biệt là các siêu thị, siêu thị nhỏ, cửa
hàng tiện ích. Các hệ thống trung tâm bán lẻ của Tesco như Home plus hay
Homever đã trở nên phổ biến cả ở các thành phố, trung tâm mua sắm mới và về cả
vùng nông thôn.
Đặc biệt, sự thành công của Tesco nằm ở chiến lược kinh doanh lấy khách
đoàn, mỗi tuần nhà bán lẻ này phục vụ hơn 25 triệu khách hàng trên khắp thế giới.
Hiện tập đoàn này đã hoạt động ở 34 quốc gia với hơn 87.000 lao động. 10 thị
trường châu Á của tập đoàn này bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông, Đài
Loan, Macau, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philipin và Hàn Quốc. Chỉ tính riêng
ở Hồng Kông, tính đến hết năm 2009, Watson đã mở cửa 150 cửa hàng và thuê
đến 2000 nhân viên. Kế hoạch trong 2 năm tới (2010 và 2011), Watson dự định
nâng số lượng cửa hàng của mình ở Trung Quốc lên 1000 và số lượng cửa hàng
bán lẻ toàn cầu lên 10000 (AS Watson Group 2009).
22
22
Phương châm kinh doanh của Watson là mang đến cho khách hàng trên
khắp thế giới những dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, những kinh nghiệm mua sắm
thú vị và cam kết đem đến cho khách hàng của mình giá trị lớn nhất mỗi ngày. Các
sản phẩm bày bán trong chuỗi các cửa hàng Watson có mức độ cá biệt hóa cao với
chất lượng được chuẩn hóa và đảm bảo tối đa. Ngoài mặt hàng chính là thuốc và
các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, nhà bán lẻ khổng lồ Watson còn mở rộng kinh
doanh bằng việc mở một số siêu thị chuyên bán buôn và phân phối đồ uống: nước
ngọt, rượu, bia và một số sản phẩm trà. Các cửa hàng trưng bày của Watson cũng
luôn được chú trọng về tính thẩm mỹ, và góp phần quan trọng trong việc thu hút
khách hàng.
3.2 Dairy Farm
Dairy Farm là một công ty đa quốc gia, thành viên của tập đoàn Jardine
Matheson. Nhà bán lẻ này được xếp thứ 128 trên bảng xếp hạng 250 nhà bán lẻ
toàn cầu. Lịch sử của Dairy Farm bắt đầu từ thế kỷ 19 tại Hồng Kông. Khi mới ra
đời, lĩnh vực kinh doanh chính của Dairy Farm là các sản phẩm liên quan tới sữa.
Cùng với thời gian, Dairy Farm đã mở rộng và trở thành một trong những tập đoàn
bán lẻ uy tín và năng động nhất châu Á. Doanh thu bán lẻ 2008 của Dairy Farm
đạt 6,7 tỷ đô la Mỹ và lợi nhuận gần 350 triệu đô (Deloitte 2010, tr.16).
Thành công của Dairy Farm đạt được là vì tập đoàn này đã biết cách đa
dạng hóa các mô hinh kinh doanh, bao gồm: siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng chuyên
và những con hổ châu Á chứng kiến những bước tăng trưởng ấn tượng, đa số đều
ở mức trên 5%/năm và được dự đoán sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian
tới. Trong khi đó, thị trường bán lẻ Tây Âu và Bắc Mỹ hầu hết đều trải qua giai
đoạn tăng trưởng từ những năm cuối thế kỷ 20 và hiện nay một số thị trường lớn
đã trở nên bão hòa.
Hậu quả từ cơn bão khủng hoảng tài chính 2008 đã đem lại cục diện mới
cho nền kinh tế thế giới. Các nền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ, Anh, Đức đều
24
24
công bố rơi vào suy thoái. Doanh thu bán lẻ trên các thị trường phát triển nhất toàn
cầu đều sụt giảm trầm trọng. Trong khi đó, thị trường bán lẻ châu Á vẫn tiếp tục
ghi nhận tăng trưởng mạnh, đặc biệt là doanh thu từ phân đoạn các mặt hàng tiêu
dùng nhanh (FMCG). Khối lượng sản phẩm bán ra ở hầu hết các quốc gia đều tăng
vào năm 2008, cá biệt ở một số quốc gia, tỷ lệ tăng trưởng còn đạt mức hai con số.
Biểu đồ sau cho thấy tình hình tăng trưởng về khối lượng FMCG ở một số quốc
gia châu Á (Nielsen 2009).
Biểu đồ II.3: Tỷ lệ tăng trưởng FMCG (%) tính đến tháng 3 năm 2009
Nguồn: Nielsen 2009
Theo bảng xếp hạng “chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu” - GRDI của A.T
Kearney về những thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới, các quốc gia châu Á
luôn giành được những thứ hạng cao trong tổng số 30 quốc gia được xếp hạng.
Những vị trí số 1 trong những năm gần đây đều thuộc về các nước châu Á (cụ thể
năm 2008, Việt Nam là thị trường hấp dẫn nhất; năm 2009: vị trí này thuộc về Ấn
Độ). Chúng ta có thể xem danh sách những quốc gia châu Á được lọt vào bảng
xếp hạng này năm 2008 và 2009:
25