Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện Trần Mỹ Anh
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG
TY MAY CHIẾN THẮNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2004
i. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY MAY CHIẾN THẮNG.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty May Chiến Thắng.
Ra đời trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(2/3/1968), Xí nghiệp May Chiến Thắng trước kia và nay là Công ty May Chiến
Thắng thuộc Tổng Công ty Dệt May Việt Nam (VINATEX) tính đến nay đã tròn
37 tuổi.
Ngày 2 tháng 3 năm 1968, trên cơ sở máy móc, thiết bị và nhân lực của
trạm may Lê Trực ( thuộc Công ty gia công dệt kim vải sợi cấp I Hà Nội ) và
xưởng may Cấp I Hà Tây, Bộ Nội Thương quyết định thành lập Xí nghiệp May
Chiến Thắng có trụ sở tại số 8B Phố Lê Trực, quận Ba Đình Hà Nội và giao cho
Cục vải sợi may mặc quản lý. Xí nghiệp có nhiệm vụ tổ chức sản xuất các loại
quần áo, mũ vải, găng tay, áo dạ, áo dệt kim theo chỉ tiêu kế hoạch của Cục vải
sợi cho các lực lượng vũ trang và trẻ em. Cơ sở I của Xí nghiệp rộng trên
3000m
2
với các dẫy nhà cấp 4 được dọn dẹp, tu bổ đủ chỗ để lắp 250 máy may.
Hầu hết nhà xưởng ở đây đều cũ và dột nát. Thiết bị của Xí nghiệp lúc đó, một
phần do cơ sở cũ để lại, một phần được bổ sung từ Xí nghiệp May 10 sang, bao
gồm các máy may đạp chân cùng một số máy thùa, đính do Liên Xô chế tạo, còn
các dụng cụ cắt vẫn ở dạng thủ công. Mặc dù trong điều kiện khó khăn trăm bề
nhưng những sản phẩm đầu tiên của Xí nghiệp May Chiến Thắng để phục vụ bộ
đội và trẻ em đã được đưa ra xuất xưởng, góp phần nhỏ bé của mình vào sự
nghiệp kháng chiến của dân tộc.
Đầu năm 1969, May Chiến Thắng được bổ sung cơ sở II ở Đức Giang Gia
Lâm. Tháng 5 năm 1971 Xí nghiệp May Chiến Thắng chính thức được chuyển
giao cho Bộ Công nghiệp nhẹ quản lý với nhiệm vụ mới là chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu chủ yếu là các loại quần áo bảo hộ lao động. Ngày 16 tháng 4 năm
1972 Mỹ ném bom vào khu vực Đức Giang Gia Lâm. Cơ sở II của Xí nghiệp phải
quyết định số 290/QĐ - TCLĐ của Bộ Công nghiệp nhẹ. Từ năm 1991 đến năm
1995 Công ty đã đầu tư 12,96 tỷ đồng cho xây dựng cơ bản và 13, 998 tỷ đồng
cho mua sắm thiết bị. Sau gần 10 năm xây dựng ( 1986 đến 1997), Công ty May
Chiến Thắng đã có tổng diện tích mặt bằng nhà xưởng rộng 24836m
2
trong đó
50% khu vực sản xuất được trang bị hệ thống điều hoà không khí đảm bảo môi 22
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện Trần Mỹ Anh
trường tốt cho người lao động và hệ thống máy móc hiện đại.
Trước những đòi hỏi của thị trường may mặc trong nước cũng như trên
thế giới, Công ty May Chiến Thắng được thành lập theo quyết định của Hội đồng
quản trị Tổng Công ty Dệt May Việt Nam phê duyệt kèm theo Điều lệ tổ chức và
hoạt động của Công ty. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 4/12/1996,
Công ty May Chiến Thắng là doanh nghiệp Nhà nước, thành viên hoạch toán độc
lập của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam, hoạt động theo luật doanh nghiệp Nhà
nước, các quy định của Pháp luật và Điều lệ tổ chức hoạt động của Tổng Công
ty.
Với tên giao dịch Việt Nam là: Công ty May Chiến Thắng
Tên giao dịch quốc tế là CHIEN THANG GARMENT COMPANY viết tắt là
CHIGAMEX.
Trụ sở chính: số 10 Phố Thành Công Ba Đình Hà Nội.
2. Chức năng nhiệm vụ, mặt hàng sản xuất của Công ty May Chiến
Thắng.
Công ty May Chiến Thắng là một doanh nghiệp Nhà nước có nhiệm vụ kinh
doanh hàng dệt may. Công ty tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm may và các hàng
hoá khác liên quan đến ngành dệt may. Cụ thể, Công ty chuyên sản xuất 3 mặt
hàng chính là: Sản phẩm may, găng tay da và thảm len.
+ Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm đồng thời tăng tỷ trọng trong mặt
hàng FOB và mặt hàng nội địa.
+ Duy trì và phát triển những thị trường đã có, tùng bước khai thác mở
rộng thị trường mới ở cả trong và ngoài nước.
ii. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY MAY
CHIẾN THẮNG.
1. Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật.
a. Kho tàng, nhà xưởng:
Công ty May Chiến Thắng có diện tích nhà xưởng sản xuất là 9260m
2
Diện
tích nhà kho là 3810m
2.
Đặc điểm chính của kiến trúc nhà xưởng là: nhà xây 5 tầng có thang máy
để vận chuyển nguyên vật liệu cho các phân xưởng. Xung quanh nhà xưởng
được lắp kính tạo ra một không gian rộng rãi thoải mái cho công nhân. Có 50%
khu vực sản xuất được trang bị hệ thống điều hoà không khí. Đường xã, sân bãi
trong Công ty được đổ bê tông.44
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện Trần Mỹ Anh
Nơi đặt phân xưởng sản xuất: Số 10 Thành Công Ba Đình Hà Nội
178 Nguyễn Lương Bằng
8B –Lê Trực –Ba Đình –Hà nội.
Nhận xét: Công ty May Chiến Thắng đã tạo điều kiện làm việc tốt cho
công nhân qua việc đầu tư vào nhà xưởng, nâng cấp chất lượng môi trường làm
việc, vệ sinh cho các sản phẩm làm ra. Chính điều kiện sản xuất cũng ảnh hưởng
nhiều đến chất lượng sản phẩm làm ra. Do đó để khách hàng nước ngoài chấp
nhận sản phẩm thì tất yếu Công ty phải ngày càng hoàn thiện điều kiện làm việc
5.000.000 sản phẩm may mặc (qui đổi theo sơ mi) 2.000.000 sản phẩm may da.
Sau đây là các loại máy móc thiết bị chuyên dùng để sản xuất của Công ty
tính đến ngày 31 tháng 1 năm 2005:
Bảng số 1: Các loại máy móc thiết bị để sx của Công ty đến hết quý I/2005.
Stt Tên máy Nhà sx Xuất xứ Năm chế
tạo
Số
lượng
1 Máy may bằng 1 kim Juki Japan 1991-
1997
1173
2 Máy may bằng 2 kim Brother Japan 1991-
1997
211
3 Máy trần diềm Tuki Japan 1991-
1997
46
4 Máy vắt sổ Tuki Japan 1991-
1997
100
5 Máy thùa bằng Tuki Japan 1991-
1997
24
6 Máy thùa tròn Tuki Japan 1991-
1997
21
7 Máy đính cúc Tuki Japan 1991-
1997
27
8 Máy chặn bọ Tuki Japan 1991-
22 Máy hút ẩm USA 1992 8
23 Máy cắt thuỷ lực Japan 1995 22
24 Máy là găng đông Juki Japan 1995 7
25 Máy là da Juki Japan 1995 2
26 Máy cắt lót Juki Japan 1997 2
27 Máy dán nilon Juki Japan 1992 1
28 Máy dán cao tần Jajima Japan 1994 1
29 Máy ép chữ Tuki Japan 1993 1
30 Máy dán màng Tuki Japan 1994 2
31 Máy may mác Tuki Japan 1991 1
32 Máy ép mác Tuki Japan 1991 1
33 Cân điện tử Japan 1994 3
34 Máy giác Naomoto Japan 1995 2
35 Máy san chỉ Hashima Japan 1991-
1997
8
36 Máy khoan dấu tay Japan 1997 1
2. Đặc điểm về lao động.
Lao động là một yếu tố không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất
kinh doanh bởi vì con người là chủ thể của quá trình sản xuất. Cho dù được
trang bị máy móc hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến nhưng thiếu lao động có
trình độ tổ chức thì cũng không thực hiện sản xuất được. Nhất là đối với ngành
may đòi hỏi phải có nhiều lao động vì mỗi máy may phải có 1 người điều khiển.
Tính đến ngày 31/12/2004 Công ty có 2.476 người lao động. Trong tổng số đó
có 2.375 người là lao động ngành công nghiệp chiếm 96,27%, lao động nữ là
2.048 người chiếm 84,5%, lao động làm công tác quản lý là 142 người chiếm
5,7%, lao động có trình độ cao đẳng trở lên là 80 người chiếm 3,2%.
Số lao động bình quân của Công ty trong năm 2004 là 2.276 người trong
đó ngành may thêu có 1.662 ngươì chiếm 73,02%, ngành da có 527 người chiếm
23,15% và ngành thảm có 87 người chiếm 3,83%.
Đội ngũ lao động trực tiếp quyết định tới số lượng và chất lượng sảm
phẩm làm ra. Để mở rộng thị trường, Công ty phải nâng cao uy tín của mình
thông qua chất lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng. Chính vì vậy Công ty 88
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện Trần Mỹ Anh
phải đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân nhằm giảm đến mức tối thiểu
sản phẩm hỏng và đảm bảo chất lượng của sản phẩm, nâng cao năng suất lao
động.
3. Đặc điểm về nguyên vật liệu.
Hiện nay nguyên liệu mà Công ty dùng để sản xuất là vải các loại, da thuộc
và phụ liệu các loại. Hầu hết các nguyên vật liệu mà Công ty sử dụng để sản xuất
là nhập khẩu từ nước ngoài. Các loại nguyên liệu của Công ty phần lớn là do
khách hàng đặt gia vông mang đến mà Công ty phải nhập vật liệu theo giá của
người gia công. Như vậy hiện nay Công ty chưa chủ động được nguyên liệu cho
người sản xuất. Mặt khác, Công ty chưa nắm chắc được thị hiếu của từng thị
trường do đó không dám chủ động mua nguyên liệu để sản xuất vì có thể khách
hàng gia công khâng chấp nhận và khó bán trực tiếp được. Từ đó ta có thể thấy
rằng nguyên vật liệu tác động trực tiếp đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ
của Công ty. Muốn tiêu thụ được sản phảm sản xuất ra Công ty phải tìm nguồn
nguyên liệu phù hợp với nhu cầu của từng thị trường khác nhau.
Để thấy được các nguồn cung cấp nguyên vật liệu chủ yếu của Công ty hiện
nay. Chúng ta hãy xem xét bảng kim ngạch nhập khẩu của Công ty trong những
năm gần (từ năm 2001 đến năm 2004): 99
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện Trần Mỹ Anh
Thị trường
Thắng1111
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện Trần Mỹ Anh
Nhìn vào bảng ta có thể thấy nguồn nguyên vật liệu của Công ty chủ yếu được
nhập từ Hàn Quốc. Năm 2001 chiếm 71, 03% tổng giá trị nguyên liệu nhập, năm
2002 chiếm 59, 31%, năm 2003 chiếm 59, 94% và năm 2004 chiếm 50, 95% tổng giá
trị nguyên liệu nhập. Nguồn nguyên liệu của Công ty đã mở rộng sang thị trường
Châu Âu ( chủ yếu là Anh ) chiếm 11, 02% trong tổng giá trị nguyên liệu nhập năm
2002, 7, 97% vào năm 2003 và 17, 01% trong tổng giá trị nguyên liệu nhập năm
2004. Lượng nguyên liệu nhập từ Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông giảm xuống,
nhập từ Trung Quốc, Nhật tăng lên. Đặc biệt trong năm 2004 Công ty còn phát triển
thêm được 3 thị trường mới cung cấp nguồn nguyên liệu cho mình đó là Mỹ, Đức và
xuất nhập khẩu tại chỗ ở Việt Nam.
iii. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY
MAY CHIẾN THẮNG.
1. Khái quát về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc phân tích tình hình thực hiện sản xuất kinh doanh của Công ty là
yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp. Trước kia trong cơ chế bao cấp, kế hoạch
hoá sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thường do nhà nước giao xuống. Do
vậy việc phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh chủ yếu là so
sánh với các chỉ tiêu pháp lệnh mà nhà nước giao cho.
Hiện nay trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ
sản xuất kinh doanh nên việc lập và tổ chức thực hiện kế hoạch là nhiệm vụ chủ yếu
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy mà việc phân tích kết quả
sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện kế hoạch là hết sức quan trọng. Nó giúp cho
các nhà quản trị doanh nghiệp hiểu biết, nắm bắt được thực trạng của quá trình sản
xuất, đồng thời kết hợp với những thông tin rút ra từ kết quả sản xuất sẽ giúp cho họ
lập kế hoạch chính xác, tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đó.
KH200
3
%so
TH200
2
TH
%so
KH200
4
%so
TH200
3
1. Giá
trị
sản
xuất
3740
0
113,4 115,1 4260
0
100 113,9 4010
0
98,7 94,13
2.
Doan
h thu
5591
0
126 132,2 6315
4
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên thực hiện Trần Mỹ Anh
Năm 2003 là năm có nhiều tiến bộ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty. Hầu hết các chỉ tiêu Công ty đều hoàn thành vượt mức so với kế
haọch đề ra. Trong năm 2003 do có nhiều cố gằng trong việc tìm kiếm và mở rộng thị
trường tiêu thụ nên Công ty đã nâng cao kim ngạch xuất khẩu bằng việc xuất khẩu
sang các thị trường mới và củng cố phát triển các thị trường truyền thống. Đặc biệt
Công ty đã đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp (dạng FOB) là hình thức mang lại giá trị
xuất khẩu cao hơn rất nhiều so với gia công, vì thế doanh thu xuất khẩu của Công ty
đã tăng lên đáng kế, doanh thu tăng 112,9% so với năm 2002 trong đó xuất khẩu đã
tăng 115% so với năm 2002. Qua đó đem lại lợi nhuận cho Công ty đạt mức 2,632 tỉ
đồng.
Như vậy năm 2003, kinh doanh của Công ty có sự tăng trưởng vững
chắc và hiệu quả. sản phẩm của Công ty được tiêu thụ ở nhiều nơi trên thế giới,
trong đó nhiều thị trường có đòi hỏi cao về chất lượng, mẫu mã sản phẩm Công ty
cũng đã gia tăng số lượng tiêu thụ nhiều hơn so với các nă mtrước. Điều này chứng
tỏ sản phẩm của Công ty đã tạo được chỗ đứng trên thị trường và đã được thị
trường chấp nhận. Vị trí và hình ảnh của Công ty đã được tạo dựng và người tiêu
dùng quốc tế. Đạt được những thành tựu này, nguyên nhân quan trọng nhất là Công
ty đã tạo được thế cạnh tranh thuận lợi với ưu thế trên thị trường bằng cách đa
dạng dạng hoá sản phẩm, đảm bảo chất lượng, cung ứng kịp thời theo nhu cầu của
khách hàng, uy tín của cty tiếp tục tăng lên và thị trường của Công ty được mở rộng,
cả chiều rộng và chiều sâu gây dựng được sự tín nhiệm đối với người tiêu dùng.
Phân tích sản xuất kinh doanh năm 2004:
Năm 2004 do gặp phải nhiều biến động lớn về thị trường do đó các chỉ
tiêu mà Công ty đặt ra đều không hoàn thành được một cách trọn vẹn cụ thể là
doanh thu của Công ty chỉ đạt 57,067 tỉ động đạt 96,3% so với kế hoạch và đạt 90,3%
so với thực hiện của năm 2003. Đây là giai đoạn mà Công ty phải đối mặt với nhiều
đối thủ có tiềm lực mạnh và lợi thế cạnh tranh nên số khách hàng tìm đến Công ty đã
giảm sút, xuất khẩu của Công ty chỉ bằng 88,58% so với năm 2003. Các chỉ tiêu còn