Một số Giải pháp nhằm nâng cao khả năng thắng thầu của công ty xây dựng 20 - LICOGI 20 - Pdf 63

MỞ ĐẦU
Trong quá trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế theo chủ trương đổi mới
do Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra, Đảng và Nhà nước ta không ngừng đổi mới
và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nhằm thích ứng và tạo điều kiện phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của Nhà nước. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, đấu thầu là một
phương thức được áp dụng khá phổ biến, từng bước thay thế cho phương thức
chỉ định thầu không còn phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế.
Hiện nay, đấu thầu đã thực sự trở thành một phương thức cạnh tranh đặc
thù và là hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp xây dựng. Do vậy,
để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cần phải
hết sức coi trọng hoạt động này.
Tuy nhiên, ở nước ta hoạt động đấu thầu nhìn chung mới chỉ được thực
hiện trong khoảng thời gian ngắn và chưa hoàn chỉnh về nhiều mặt. Bên cạnh
đó, nhiều doanh nghiệp xây dựng còn chưa thực sự thích ứng với phương thức
cạnh tranh mới này. Chính vì vậy, hoạt động đấu thầu tại các doanh nghiệp
không tránh khỏi những bất cập và gặp những khó khăn dẫn đến kết quả không
cao, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, việc làm của người lao động cũng như
tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Sau một thời gian thực tập tại công ty Xây dựng 20 thuộc Tổng công ty
Xây dựng và phát triển hạ tầng - LICOGI, tôi nhận thấy đấu thầu là một vấn đề
hết sức bức xúc trong hoạt động thực tiễn của công ty, đòi hỏi phải tìm ra những
giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện về mọi mặt trong
hoạt động đấu thầu của công ty. Vì vậy, tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu và nghiên
cứu đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THẮNG THẦU
CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG 20 - LICOGI 20” để hoàn thành chuyên đề thực tập tốt
nghiệp của mình.
1
Ngo ài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề này được chia làm 3 phần:
CH ƯƠNG 1: ĐẤU THẦU XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP XÂY DỰNG TRONG LĨNH VỰC ĐẤU THẦU.

* Đứng ở góc độ của chủ đầu tư: đấu thầu là một phương thức cạnh tranh
trong xây dựng nhằm lựa chọn người nhận thầu (khảo sát, thiết kế, xây lắp,...)
đáp ứng được yêu cầu kinh tế, kỹ thuật đặt ra cho việc xây dựng công trình.
* Đứng ở góc độ của nhà thầu: đấu thầu là một hình thức kinh doanh mà
thông qua đó nhà thầu nhận được cơ hội nhận thầu khảo sát thiết kế, mua sắm
máy móc thiết bị và xây lắp công trình.
* Đứng ở góc độ quản lý Nhà nước: đấu thầu là một phương thức quản lý
thực hiện dự án đầu tư mà thông qua đó lựa chọn được nhà thầu đáp ứng được
các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu.
Từ những góc độ trên có thể thấy thực chất của đấu thầu thể hiện ở các khía
cạnh sau đây:
* Thứ nhất, đấu thầu là việc tổ chức hoạt động cạnh tranh trên hai phương diện:
+ Cạnh tranh giữa bên mời thầu (chủ đầu tư) và các nhà thầu (các đơn vị xây
3
lắp).
+ Cạnh tranh giữa các nhà thầu.
Các quan hệ cạnh tranh này xuất phát từ quan hệ mua bán (cung - cầu) bởi vì
đấu thầu xây dựng thực ra cũng là hoạt động mua bán và ở đây người mua là chủ
đầu tư và người bán là các nhà thầu. Tuy nhiên, hoạt động mua bán này khác với
hoạt động mua bán thông thường ở chỗ tính chất hàng hoá của sản phẩm xây
dựng thể hiện không rõ do việc tiêu thụ diễn ra trước khi có sản phẩm và thực
hiện theo giá dự toán (chứ không phải giá thực tế). Theo lý thuyết hành vi thì
trong một vụ mua bán thì bao giờ người mua cũng cố gắng để mua được hàng hoá
với mức giá thấp nhất ở chất lượng nhất định, còn người bán lại cố gắng bán được
mặt hàng đó ở mức giá cao nhất có thể. Do đó, nẩy sinh sự cạnh tranh giữa người
mua (chủ đầu tư) và người bán (nhà thầu). Mặt khác, do hoạt động mua bán này
chỉ diễn ra với một người mua và nhiều ngườ bán nên giữa những người bán phải
cạnh tranh với nhau để bán được sản phẩm của mình. Kết quả là thông qua việc tổ
chức hoạt động cạnh tranh sẽ hình thành giá thầu hay giá dự toán công trình.
* Thứ hai, đấu thầu còn là việc ứng dụng phương pháp xét hiệu quả kinh tế

cơ chế đấu thầu vào thực tiễn một cách có nề nếp.
3-/ Hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức áp dụng.
3.1. Hình thức lựa chọn nhà thầu.
Việc lựa chọn nhà thầu có thể được thực hiện theo hai hình thức chủ yếu sau đây:
- Đấu thầu rộng rãi:
Đấu thầu rộng rãi là không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia. Bên mời
thầu phải công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và ghi rõ
các điều kiện và thời gian dự thầu. Đối với những gói thầu lớn, phức tạp về công
nghệ, bên mời thầu phải tiến hành sơ tuyển để lựa chọn nhà thầu có đủ tư cách
và năng lực tham gia dự thầu.
Hình thức đấu thầu này được khuyến khích áp dụng nhằm đạt tính cạnh
tranh cao trên cơ sở tham gia của nhiều nhà thầu. Tuy nhiên hình thức này được
áp dụng cho các công trình thông dụng, không có yêu cầu đặc biệt về kỹ thuật,
mỹ thuật, cũng như không cần bí mật và tuỳ theo từng dự án cụ thể trong phạm
vi một địa phương, một vùng, toàn quốc hoặc quốc tế.
- Đấu thầu hạn chế.
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số
nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hình thức đấu
thầu này được áp dụng trong một số trường hợp sau:
+ Chỉ có một số nhà thầu đáp ứng được yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng
tối thiểu phải có 3 nhà thầu có khả năng tham gia.
+ Các nguồn vốn sử dụng có yêu cầu tiến hành đấu thầu hạn chế.
5
+ Do yêu cầu về tiến độ thực hiện dự án được người có thẩm quyền quyết
định đầu tư chấp thuận.
3.2. Phương thức áp dụng.
Để thực hiện đấu thầu chủ đầu tư có thể áp dụng các phương thức chủ yếu sau:
- Đấu thầu 1 túi hồ sơ (1 phong bì).
Khi đấu thầu theo phương thức này, nhà thầu cần nộp những đề xuất về kỹ
thuật, tài chính, giá bỏ thầu và những điều kiện khác trong 1 túi hồ sơ.

chọn được đúng nhà thầu thoả mãn một cách tốt nhất yêu cầu của chủ đầu tư.
Các nhà thầu phải được bình đẳng về các thông tin cung cấp từ phía chủ đầu tư,
được trình bày một cách khách quan các ý kiến của mình trong quá trình chuẩn
bị hồ sơ cũng như trong buổi mở thầu.
4.2. Nguyên tắc bí mật.
Nguyên tắc này đòi hỏi chủ đầu tư phải giữ bí mật mức giá dự kiến của
mình cho công trình đấu thầu, cũng như giữ bí mật các ý kiến trao đổi của các
nhà thầu đối với chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu. Mục đích
của nguyên tắc này là nhằm tránh thiệt hại cho chủ đầu tư trong trường hợp giá
dự thầu thấp hơn giá dự kiến hay gây thiệt hại cho một bên dự thầu nào đó do
thông tin bị lộ tới một bên khác.
4.3. Nguyên tắc công khai.
Nguyên tắc này yêu cầu trừ những công trình đặc biệt thuộc bí mật quốc
gia, những công trình còn lại đều phải đảm bảo công khai các thông tin cần thiết
trong khi gọi thầu và trong giai đoạn mở thầu. Mục đích của nguyên tắc này
cũng là nhằm thực hiện nguyên tắc công bằng và thu hút được nhiều hơn các
nhà thầu, nâng cao chất lượng của công tác đấu thầu.
4.4. Nguyên tắc có năng lực.
Nguyên tắc này đòi hỏi chủ đầu tư cũng như các bên dự thầu phải có năng
lực thực tế về kinh tế, kỹ thuật để thực hiện những điều cam kết khi đấu thầu.
Nguyên tắc này được đặt ra để tránh thiệt hại do việc chủ đầu tư hay bên dự thầu
không có đủ năng lực để thực hiện các cam kết của mình, làm mất đi tính hiệu
quả của công tác đấu thầu, gây tổn thất cho Nhà nước.
4.5. Nguyên tắc bảo đảm cơ sở pháp lý.
Các bên tham gia đấu thầu phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của
Nhà nước về nội dung và trình tự đấu thầu, cũng như những cam kết đã được ghi
nhận trong hợp đồng giao nhận thầu. Nếu không đảm bảo nguyên tắc này, cơ
quan đầu tư và cơ quan quản lý đầu tư có quyền kiến nghị huỷ bỏ dự thầu.
7
II-/ QUÁ TRÌNH ĐẤU THẦU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG

trình tự dự thầu gồm 5 bước theo sơ đồ sau:
8
SƠ ĐỒ 1: TRÌNH TỰ DỰ THẦU XÂY LẮP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
B ước 1: TÌM KIẾM THÔNG TIN VỀ CÔNG TRÌNH CẦN ĐẤU THẦU.
Đây được coi là bước đầu tiên của quy trình dự thầu của các doanh nghiệp
xây dựng bởi nó chính là bước để người bán (các doanh nghiệp xây dựng) tiếp
cận được với người mua (chủ đầu tư). Từ đó mới dẫn đến quan hệ giao dịch mua
bán thông qua phương thức đấu thầu. Các nhà thầu có thể tìm kiếm thông tin về
công trình cần đấu thầu thông qua các kênh thông tin chủ yếu sau đây:
* Thông báo mời thầu của bên mời thầu trên các phương tiện thông tin đại
chúng. Đối với các công trình được tổ chức đấu thầu theo hình thức đấu thầu rộng
rãi hoặc có sơ tuyển thì bên mời thầu sẽ tiến hành thông báo trên các phương tiện
thông tin đại chúng như: đài, ti vi, báo chí,... Nội dung thông báo này thường bao
gồm: tên và địa chỉ bên mời thầu; mô tả tóm tắt dự án, địa chỉ và thời gian xây
dựng; chỉ dẫn tìm hiểu hồ sơ mời thầu; thời hạn, địa chỉ nhận hồ sơ mời thầu,...
* Thư mời thầu do bên mời thầu gửi tới: do mối quan hệ từ trước giữa bên
mời thầu với nhà thầu, hoặc nhờ vào uy tín, vị trí của nhà thầu trên thị trường,
các nhà thầu có thể được bên mời thầu trực tiếp mời dự thầu thông qua thư mời
thầu trong trường hợp công trình được tổ chức đấu thầu hạn chế.
9
(1)
Thu thập, tìm kiếm thông tin về công trình
cần đấu thầu
(2)
Tham gia sơ tuyển (nếu có)
(3)
Chuẩn bị và lập hồ sơ dự thầu
(4)
Nộp hồ sơ dự thầu và tham gia mở thầu
(5)

- Hồ sơ thiết kế kỹ thuật kèm theo bản tiên lượng và chỉ dẫn kỹ thuật.
- Tiến độ thi công.
10
- Điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng.
- Bảo hành dự thầu.
- Mẫu thoả thuận hợp đồng và bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Công việc đầu tiên của nhà thầu là tiến hành nghiên cứu kỹ hồ sơ mời thầu.
Đây là công việc rất quan trọng vì nó là xuất phát điểm để nhà thầu lập hồ sơ dự
thầu và xác định xem khả năng của mình có thể đáp ứng được các yêu cầu đặt ra
của bên mời thầu hay không. Đối với các vấn đề chưa rõ trong hồ sơ mời thầu,
nhà thầu có thể tìm được lời giải thông qua tham gia hội nghị tiền thầu do bên
thầu chỉ được đưa ra khi có cơ sở là biện pháp thi công và tổ chức thi công hợp
lý vì giá dự thầu phản ánh chính xác nhận thầu của nhà thầu, phản ánh biện pháp
thi công và tổ chức thi công. Đây chỉ là chỉ tiêu tổng hợp nhất và thực chất là
chiến lược nhận thầu. Giá dự thầu cũng cần được tính toán cẩn thận để đáp ứng
được các yêu cầu kỹ thuật chứ không chỉ đáp ứng về khối lượng và thời gian
đồng thời phải đảm bảo tính khả thi của phương án đấu thầu cũng như phải nắm
được chiến lược cạnh tranh.
B ước 4: NỘP HỒ SƠ DỰ THẦU VÀ THAM GIA MỞ THẦU.
Việc nộp hồ sơ dự thầu sẽ diễn ra theo đúng thời gian và địa điểm quy định
trong hồ sơ mời thầu. Nhà thầu phải nộp cho bên mời thầu trong tình trạng niêm
phong. Thông thường, bên mời thầu sẽ yêu cầu nhà thầu nộp bộ hồ sơ dự thầu
gốc và một số nhất định các bản sao được bỏ chung vào một gói bọc.
Cùng với việc nộp hồ sơ dự thầu, nhà thầu cũng phải nộp cho bên mời thầu
một số tiền bảo lãnh dự thầu bằng từ 1% đến 3% tổng giá trị ước tính giá bỏ
thầu hoặc bằng một mức nhất định đã quy định. Tiền bảo lãnh sẽ được trả lại
cho những nhà thầu không đạt được kết quả sau khi công bố trúng thầu không
quá 30 ngày kể từ ngày công bố. Nhà thầu sẽ không nhận lại tiền bảo lãnh dự
thầu trong một số trường hợp sau:
- Trúng thầu nhưng từ chối thực hiện hợp đồng.

- Tổ chức thi công và tiến độ thực hiện hợp đồng.
- Bản dự toán giá dự thầu.
Trong bước công việc này thì những công việc quan trọng và đòi hỏi nhiều
công sức đó là: lập biện pháp thi công; tổ chức thi công và bản dự toán giá dự
thầu. Các nhà thầu cần chú ý rằng, giá dự thầu, ngày nghỉ theo quy định của
pháp luật. Trong cuộc họp mở thầu bên mở thầu thường công bố công khai hai
chỉ tiêu đó là giá bỏ thầu và thời gian thi công của từng nhà thầu. Đây là những
thông tin mà nhà thầu cần lưu giữ để làm căn cứ rút kinh nghiệm và đánh giá đối
thủ cạnh tranh trong những lần tiếp theo.
B ước 5 : KÝ KẾT HỢP ĐỒNG THI CÔNG (NẾU TRÚNG THẦU).
Nếu nhận được thông báo trúng thầu của bên mời thầu, nhà thầu trúng thầu
phải gửi cho bên mời thầu thống báo chấp nhận đàm phán hợp đồng trong một
12
thời hạn nhất định kể từ khi nhận được thông báo trúng thầu. Sau đó, theo lịch
đã thống nhất hai bên tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng. Nhà thầu trúng
thầu cũng sẽ phải nộp cho bên mời thầu một khoản bảo lãnh hợp đồng, một
khoản bảo lãnh hợp đồng bằng 10% đến 15% tổng giá trị hợp đồng và được
nhận lại bảo lãnh hợp đồng. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng có hiệu lực cho đến
khi thời gian bảo lãnh của hợp đồng hết hạn. Việc tiến hành đàm phán, ký kết
hợp đồng bao thầu công trình phải theo đúng luật để hợp đồng phù hợp với pháp
luật quy định và kế hoạch của Nhà nước, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng hai
bên cùng có lợi, có thưởng, có phạt.
III-/ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG THẮNG THẦU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG.
Đấu thầu được thực hiện trên nhiều lĩnh vực nhưng rõ nét nhất vẫn là lĩnh
vực xây lắp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, phương thức đấu thầu trong
lĩnh vực xây dựng cơ bản tỏ ra có vai trò to lớn đối với cả bên chủ đầu tư, nhà
thầu và Nhà nước. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét vai trò của việc nâng cao khả
năng thắng thầu đối với các doanh nghiệp xây dựng.
Bất kỳ doanh nghiệp xây dựng nào khi tham gia vào quá trình đấu thầu với

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CỦA CÔNG TY
XÂY DỰNG 20 - LICOGI 20
I-/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY.
1-/ Khái quát về Tổng công ty Xây dựng và phát triển hạ tầng - LICOGI
Là một doanh nghiệp Nhà nước, Tổng công ty Xây dựng và phát triển hạ
tầng - Bộ xây dựng (Infastructure Development and Contruction Corporation),
tên giao dịch là LICOGI, là đơn vị chuyên ngành thi công xây lắp, từng tham gia
thi công tại hầu hết các công trình trọng điểm có ý nghĩa chính trị, kinh tế, quốc
phòng của đất nước từ những năm đầu của thập kỷ 60 đến nay: khu gang thép
Thái Nguyên; nhà máy nhiệt điện Phả Lại; các nhà máy thủy điện Hoà Bình, Trị
An, Vĩnh Sơn, Thác Mơ, Yaly; các nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn,
Hà Tiên; nhà máy Apatit LaoCai; nhà máy sản xuất bóng đèn hình Orion-Hanel;
lăng và bảo tàng Hồ Chí Minh; nhà họp Chính phủ; trụ sở UNDP với khu ngoại
giao đoàn tại Hà Nội; trường ĐH Kiến trúc Hà Nội...
Tổng công ty Xây dựng và phát triển hạ tầng được thành lập theo Quyết
định số 998/BXD-TCLĐ của Bộ trưởng Bộ xây dựng. Hiện nay, trực thuộc
Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng có 3 công ty xây dựng, 7 công ty cơ
giới và xây lắp, 1 xí nghiệp lắp máy điện nước, 1 công ty cơ khí, 1 công ty vật tư
và sản xuất vật liệu xây dựng, 2 trường đào tạo công nhân kỹ thuật cơ giới và
xây dựng, với đội ngũ hơn 7.000 cán bộ, kỹ sữ và công nhân kỹ thuật hành nghề
giàu kinh nghiệm thi công xây lắp.
Trải qua 40 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Tổng công ty xây
dựng và phát triển hạ tầng đã khẳng định được thế mạnh của một đơn vị chuyên
ngành trong thi công xây lắp và ngày càng được sự tín nhiệm của chủ đầu tư
trong nước và ngoài nước, trở thành một đối tác quan trọng đối với các chủ đầu
tư. Đứng trước đòi hỏi ngày càng cao trong xây ựng hiện đại, trong những năm
gần đây, Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng đã và đang tích cực đổi
mới công nghệ, đổi mới thiết bị, đồng thời không ngừng học hỏi để nắm bắt thị
trường thông tin mới, phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong thế đi lên của xã hội.

chiếm ưu thế trong lĩnh vực này. Đây là những tiền đề, là động lực cho những
bước phát triển của công ty.
2.2. Giai đoạn từ khi được thành lập lại (2/1993) cho đến nay.
Cũng như các doanh nghiệp Nhà nước khác cần được sắp xếp lại cho phù
hợp với tình hình và định hướng phát triển kinh tế của đất nước trong nền kinh
tế chuyển đổi, ngày 20/2/1993, căn cứ vào quy chế thành lập và giải thể doanh
nghiệp Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 388/HĐBT (ngày
16
20/11/1991) và Nghị định số 156/HĐBT (7/5/1992) sửa đổi bổ sung Nghị định
số 388/HĐBT, Bộ trưởng Bộ xây dựng đã ký Quyết định số 061A/BXD/TCLĐ
ngày 20/2/1993 thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước với tên gọi là xí nghiệp xử
lý nền móng xây dựng trực thuộc Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng,
theo hình thức hạch toán kinh tế độc lập. Quyết định này đánh dấu một bước
chuyển đổi lớn trong quá trình phát triển của công ty, cho phép công ty có đầy
đủ điều kiện để phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, năng động
sáng tạo tìm ra phương hướng và biện pháp phát triển của mình nhằm hoạt động
có hiệu quả phù hợp với cơ chế kinh tế mới. Sau khi được thành lập lại, công ty
đã nhanh chóng sắp xếp lại tổ chức, ổn định quá trình sản xuất, bắt kịp nhịp độ
sôi động đang diễn ra trên thị trường kinh doanh xây dựng. Đến đầu năm 1996,
công ty được đổi tên thành công ty xây dựng 20 trực thuộc Tổng công ty xây
dựng và phát triển hạ tầng, sau khi được sáp nhập thêm một số đội xây dựng từ
công ty xây dựng 18 về theo Quyết định số 01/BXD-TCLĐ ngày 2/1/1998. Sự
thay đổi này đã giúp công ty mở rộng năng lực sản xuất của mình.
Trong những năm đầu của giai đoạn này, thế mạnh chủ yếu của công ty vẫn
là thi công cơ giới các công trình và hạng mục công trình do Tổng công ty giao.
Đây chính là nguồn thu chính của công ty. Tuy nhiên, trong những năm gần đây
bên cạnh việc thực hiện thi công các công trình do Tổng công ty giao thì công ty
đã mạnh dạn tự tìm kiếm và tiêu thụ sản phẩm xây lắp thông qua đấu thầu. Để
thích ứng với nền kinh tế thị trường, công ty đã và đang đa dạng hoá ngành nghề
hoạt động kinh doanh, nâng cao và cải tiến năng lực máy móc thiết bị thi công,

2002 41.001.640.396
2003 40.661.815.000
Bên cạnh những kết quả đã đạt được kể trên, trong những năm gần đây, đời
sống của cán bộ công nhân viên công ty không ngừng được cải thiện, nâng cao
về mọi mặt.
Qua những đánh giá khái quát trên có thể thấy được đặc trưng nổi bật của
công ty từ khi được thành lập lại đến nay của công ty xây dựng 20 là đã và đang
từng bước thích nghi với cơ chế thị trường tạo nên cái nhìn khả quan về khả
năng phát triển trong hoạt động sản xuất của công ty trước mắt cũng như về lâu
dài.
II-/ NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU
CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG 20.
1-/ Ngành nghề kinh doanh và thị trường hoạt động.
Theo “Chứng chỉ hành nghề kinh doanh” số 411 - BXD/CSXD ngày
4/10/1997, công ty xây dựng 20 có năng lực hành nghề xây dựng như sau:
* Thực hiện các công việc xây dựng gồm:
- Nạo vét và bồi đắp mặt bằng, đào đắp công trình.
18
- Thi công các loại móng công trình.
- Xây lắp các kết cấu công trình.
- Lắp đặt các thiết bị cơ - điện - nước công trình.
- Hoàn thiện xây dựng.
- Kiểm tra địa chất bằng các phương pháp xuyên tĩnh, nén tĩnh, siêu âm.
* Thực hiện xây dựng các công trình gồm:
- San đắp nền và xử lý nền móng các loại công trình.
- Xây dựng các công trình giao thông nhóm B: đường bộ, sân bay, bến cảng.
- Xây dựng các công trình thuỷ lợi: kênh, mương, đê, đập, hồ chứa nước
vừa và nhỏ, ống dẫn, trạm bơm.
- Xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp
(đường điện hạ thế, hệ thống cấp thoát nước, vệ sinh môi trường).

công tác quản lý. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty xây dựng 20 có thể được
khái quát theo sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG 20
Theo sơ đồ này, chúng ta có thể thấy được rằng: bộ máy tổ chức quản lý
của công ty được thiết lập theo kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến chức năng. Nghĩa
là, trong công ty, giám đốc công ty là người lãnh đạo cao nhất và nắm quyền ra
quyết định về tất cả các vấn đề sản xuất kinh doanh của công ty. Giúp việc và
tham mưu cho giám đốc gồm 02 phó giám đốc và các phòng ban chức năng. Các
phòng ban chức năng có nhiệm vụ tham mưu cho toàn bộ hệ thống trực tuyến.
Những quyết định quản lý do các phòng ban chức năng nghiên cứu, đề xuất, khi
được giám đốc công ty thông qua mới biến thành mệnh lệnh được truyền đạt từ
trên xuống dưới theo tuyến đã quy định.
Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận cơ cấu tổ chức bộ máy quản
20
Phòng
Kinh tế -
Kế hoạch
Phòng Kế
toán tài
chính
Phòng Tổ
chức hành
chính
Phòng
Công nghệ
Phòng Vật

Giám đốc công ty
Phó giám đốc phụ
trách xây dựng

Sản phẩm của công ty mang tính đơn chiếc, mỗi một công trình đòi hỏi
phải sản xuất thi công trong những điều kiện khác nhau. Vì vậy việc tổ chức sản
xuất của công ty thay đổi theo từng công trình cụ thể về cả cơ cấu và nguồn
nhân lực.
21
Tuy nhiên có thể khái quát một sơ đồ tổ chức công trường của công ty một
cách khái quát nhất theo sơ đồ sau:
22
Như vậy: cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất của công ty xây dựng 20 là
tương đối gọn nhẹ và hợp lý. Sự phân công trách nhiệm và quyền hạn là khá rõ.
Chính điều này có tác dụng tích cực trong hoạt động quản lý và sản xuất của
công ty. Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng: công ty chưa có một bộ phận nào
chuyên trách về mảng đấu thầu, một bộ phận hết sức quan trọng đối với công ty.
3-/ Đặc điểm về lao động.
Lao động trong ngành xây dựng cơ bản là nguồn gốc sáng tạo ra các công
trình công nghiệp, dân dụng; là nhân tố cơ bản quyết định nhất của lực lượng
sản xuất kinh doanh. Khác với các ngành khác, lao động trong ngành xây dựng
mang tính không ổn định, thay đổi theo mùa vụ, phải làm việc ngoài trời và luôn
thay đổi nơi làm việc. Vì vậy, trong công tác đấu thầu, lao động là một trong số
các nhân tố quyết định doanh nghiệp có trúng thầu hay không. Bởi lẽ năng lực
của nhà thầu được thể hiện một phần ở trình độ lao động.
Tính đến ngày 1/2/2000, công ty xây dựng 20 có 268 cán bộ công nhân viên.
Trong đó số cán bộ khoa học nghiệp vụ là 85 người, chiếm 31,71% (với 65 người
đã qua đại học chiếm 76,47%) và số người đã qua đào tạo trung cấp, cao đẳng
chiếm 23,52%. Số lao động nữ trong toàn công ty là 27 người chiếm 10,07% thấp
hơn nhiều so với tỷ lệ lao động nữ chung của toàn ngành (gần 30%). Công ty đã cố
gắng không tuyển lao động nữ vào làm những việc nặng nhọc. Lực lượng công
nhân sản xuất của công ty là 194 người chiếm 72,88%. Số công nhân có bậc thợ
cao từ bậc 4 trở lên chiếm hơn 50% trong tổng số công nhân sản xuất. Với cơ cấu
lao động như vậy có thể thấy công ty có lực lượng lao động với chất lượng khá cao

máy
Tổ xây
dựng
Tổ trắc
địa
Tổ điện
nước
Tổ hoàn
thiện
Quản lý chung Phó
Giám đốc
để tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho công ty giành thắng lợi khi tham dự
thầu.
24
BIỂU 2: BẢNG TỔNG HỢP LAO ĐỘNG THEO NGÀNH NGHỀ VÀ BẬC THỢ
(Tính đến ngày 01/04/04)
Ngành nghề
Tổng
số
Nữ Ngành nghề
Tổng
số
Nữ
Bậc thợ
1 2 3 4 5 6 7
A. Cán bộ nghiệp vụ B. Công nhân kỹ thuật & LĐ
- Kỹ sư xây dựng 32 - Công nhân lái xe ô tô 7 5 1 1
- Kỹ sư xây dựng thuỷ lợi 3 - Công nhân lái máy ủi 23 3 10 2 7 1
- Kỹ sư địa chất công trình 2 - Công nhân lái máy cạp xích 2 1 1
- Kỹ sư trắc địa 2 - Công nhân lái máy đào 9 2 2 2 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status