Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường EU tại công ty cổ phần thủy sản Cafatex
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁ SANG THỊ TRƯỜNG
EU TỪ 2005 – 2007 CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN
CAFATEX
4.1. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁ TRA, CÁ BASA CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN THỦY SẢN CAFATEX
4.1.1. Khái quát chung các thị trường xuất khẩu thủy sản chủ lực của
công ty cổ phần thủy sản Cafatex
Trong những năm gần đây, thị trường xuất khẩu chủ yếu của công ty
cổ phần thủy sản Cafatex là Mỹ, Nhật, EU, và các nước khác như Inđônexia,
Singapore, và các nước khu vực Trung Đông…
Mỹ là nước lớn thứ tư thế giới với diện tích 930.000 km
2
, với dân số
khoảng 290 triệu người. Mỹ cũng là nước nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới,
người Mỹ rất thích ăn thủy sản đặt biệt là tôm sú tươi hoặc luộc chín, cá da trơn
fillet. Do có nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân thuộc loại cao nhất thế
giới nên họ có nhu cầu quan tâm sức khỏe. Vì thế, sản phẩm thủy sản nhập khẩu
vào Mỹ phải được kiểm tra chất lượng chặt chẽ về vệ sinh an tòan thực phẩm.
Nhật là một đất nước với 4 quần đảo, diện tích tổng cộng khoảng
377.800 km
2
, dân số trên 225 triệu người. Người Nhật rất nhạy cảm khi mùi vị độ
mặn không phù hợp. Đối với thủy sản nhập khẩu, người Nhật thường chế biến sản
phẩm trước khi dùng.
EU với dân số khoảng 492,9 triệu người. Từ năm 2005-2007, lượng thủy
sản xuất khẩu từ các doanh nghiệp Việt Nam tăng trưởng mạnh sang các thị trường
của EU. Nguyên nhân, là thị trường EU ít có rào cản thương mại hơn so với thị
trường như Mỹ, nhưng yêu cầu dư lượng kháng sinh trong thủy sản đang trở thành
vấn đề đối với các nhà xuất khẩu. Đặt biệt, hàng thủy sản xuất khẩu sang EU phải
được kiểm tra vệ sinh chặt chẽ và phải có giấy chứng nhận kiểm tra yêu cầu dư
Sản
lượng
(tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Tỷ trọng
(%)
Sản
lượng
(tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Sản
lượng
(tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Mỹ 3.019,7 26,7 41,4 284 2,28 4,43 233,2 3,6 8,1 -2.735,7 -24,42 -50,8 1,32
Nhật Bản
2.188,3 25,1 38,9 1.712,4 20,8 40,37 916,9 11,3 25,5 -475,9 -4,3 -795,5 -9,5
EU 1.904,8 8,65 13,4 5.522,3 20,5 39,9 4.706,3 20,3 45,8 3.617,5 11,85 -816 -0,2
Các thị
trường
khác
705,6 4,04 6,3 1.436,5 7,9 15,3 1.609,5 9,1 20,54 730,9 3,84 173 1,22
Tổng cộng
7.818,4 64,49 100 8.955,2 51,46 100 7.465,9 44,3 100 1.136,8 -13,03 -1.489,3 -7,16
EU là 5.522,3 tấn đạt giá trị 20,5 triệu USD, kế đến là thị trường Nhật 1.712,4 tấn,
đạt giá trị 20,8 triệu cao hơn giá trị xuất khẩu sang thị trường EU là 0,25 triệu
USD. Nguyên nhân: do công ty Cafatex đã thỏa thuận được giá cả với các nhà
phân phối Nhật nên giá trị xuất khẩu thu được cao hơn và chiếm tỷ trọng 40,37%
trong tổng giá trị xuất khẩu của công ty cổ phần thủy sản Cafatex năm 2006. Tuy
nhiên vào cuối năm 2006, Nhật đã “ báo động đỏ” về chất lượng thủy sản của Việt
Nam. Do đó, Cafatex có chủ trương tăng cường kiểm soát thực hiện về an toàn vệ
sinh thực phẩm trong sản xuất tại nhà máy, cảnh báo công nhân sử dụng thuốc sát
trùng và bắt buột 100% công nhân phải đeo găng tay khi sản xuất, đồng thời tuyên
truyền đến các họ nuôi cá về tác hại của việc sử dụng kháng sinh. Riêng thị trường
Mỹ trong năm 2006 có sản lượng xuất khẩu thấp nhất với 284,03 tấn đạt 2,28 triệu
USD giảm 24,42 triệu USD so với năm 2005. Riêng các thị trường khác, công ty
xuất khẩu đạt sản lượng 1.436,25 tấn chiếm 7,88% tổng giá trị xuất khẩu năm
2006.
Năm 2007: xuất khẩu thủy sản của công ty cổ phần thủy sản Cafatex giảm
1.489,3 tấn tương ứng giảm 7,16% về giá trị so với năm 2006. Cụ thể:
EU trở thành thị trường chủ lực của công ty với sản lượng 4.706,25 tấn đạt
giá trị 20,3 triệu USD chiếm 45,83% so với tổng giá trị xuất khẩu của công ty qua
các thị trường, cao nhất qua ba năm 2005 – 2007. Do vụ kiện bán phá giá ở thị
trường Mỹ nên Cafatex chuyển hướng và chú trọng xuất khẩu sang thị trường EU,
mặt khác do đồng Euro lên giá, có thể là một trong những yếu tố kích thích cầu
nhập khẩu của EU đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có Cafatex.
Riêng thị trường Nhật chiếm chỉ 25,5% tổng giá trị xuất khẩu của công ty
với sản lượng 916,93 tấn đạt giá trị 11,3 tỷ USD. Nguyên nhân là do Nhật thực
hiện kiểm tra 100% các lô hàng của công ty sang Nhật, làm cho chi phí một số mặt
hàng xuất kẩu sang thị trường Nhật của công ty tăng thêm mà hàng liên tục bị ứ tại
cảng, khả năng tiếp ứng thị trường của công ty bị bất cập.
Đối với lượng hàng xuất khẩu của công ty cổ phần Cafatex sang các thị
trường khác đạt 1.609,5 tấn nhưng chỉ đạt gía trị 9,1 triệu USD nguyên nhân là do
công ty phải chịu sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp xuất khẩu khác.
Số lượng
(tấn)
Kim ngạch
Số
lượng
(tấn)
Kim ngạch
Số
lượng
(tấn)
Kim ngạch
Giá trị
(triệu
USD)
Tỷ
trọng
(%)
Giá
tri
(triệu
USD)
Tỷ
trọng
(%)
Giá tri
(triệu
USD)
Tỷ
trọng
(%)
khẩu tăng.
Năm 2006: tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản của công ty cổ phần thủy
sản Cafatex sang thị trường EU đạt sản lượng cao nhất với số lượng 5.522,3 tấn,
đạt giá trị 20,5 triệu USD. Trong đó: sản lượng xuất khẩu cá sang thị trường EU
của Cafatex là 4.950,97 tấn đạt 15,83 triệu USD (chiếm 76,96%), riêng sản lượng
6
GVHD: Th.s La Nguyễn Thùy Dung -6-
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường EU tại công ty cổ phần thủy sản Cafatex
xuất khẩu tôm sang thị trường EU chỉ còn 571,36 tấn đạt 4,74 triệu USD ( chiếm
23,04%) tổng giá trị xuất khẩu. Nguyên nhân:
Do Cafatex xác định cá tra, cá basa là sản phẩm xuất khẩu chủ lực sang thị
trường EU của công ty. Bên cạnh đó, do các hộ nuôi cá ở An Giang, Cần Thơ,
Đồng Tháp thực hiện nuôi cá sạch, được các tổ chức chứng nhận của EU cấp bằng
chứng nhận SQF1000 (tiêu chuẩn an toàn chất lượng sản phẩm thủy sản dành cho
hộ nuôi cá). Mặt khác, trong năm 2006 dịch cúm gia cầm lan rộng khắp thế giới,
điều này khiến người tiêu dùng chọn các sản phẩm thủy sản làm thực phẩm thay
thế. Vì vậy, đơn hàng của các nhà nhập khẩu mua sản phẩm cá tra, cá basa tăng từ
EU tăng vọt.
Riêng sản phẩm tôm xuất khẩu, công ty có xu hướng giảm sản lượng
xuất khẩu sang thị trường EU. Do đó, năm 2006 sản lượng xuất khẩu tôm là 571,4
tấn đạt giá trị 4,74 triệu USD ( chiếm 22,9%) tổng giá trị xuất khẩu. Nguyên nhân
là công ty không thể kiểm soát lượng kháng sinh trong tôm tại những vùng nuôi,
trong khi đó vấn đề về kháng sinh trong thủy sản của thị trường EU kiểm tra rất
chặt chẽ.
Năm 2007: tổng sản lượng xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU đạt
4.706,3 tấn giảm 816 tấn tương ứng giảm 0,2 triệu USD so với năm 2006. Năm
2007, xuất khẩu tôm sang thị trường EU có dấu hiệu hồi phục được biểu hiện qua
sản lượng xuất khẩu tôm là 744,2 tấn đạt giá trị 7,3 triệu USD chiếm 35,96% tổng
giá trị xuất khẩu. Trong khi đó, sản lượng xuất khẩu cá sang thị trường EU năm
(tấn)
Kim ngạch
Sản lượng
(tấn)
Kim ngạch Sản
lượng
(tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Sản
lượng
(tấn)
Giá trị
(triệu
USD)
Giá trị
(triệu
USD)
Tỷ
trọng
(%)
Giá trị
(triệu
USD)
Tỷ
trọng
(%)
Giá trị
(triệu
tăng 3.645,1 tấn và tăng 11,9 triệu USD so với năm 2005. Riêng mặt hàng cá đông
block truyền thống từ 196,6 tấn (2005), thì năm 2006 là 2.016,8 tấn đạt giá trị 6,5
triệu USD, tăng 1.820,2 tấn (tương đương 5,94 triệu USD). Tương tự như sản
phẩm cá đông cao cấp, sản lượng xuất khẩu năm 2006 đạt 2.934,1tấn, với giá trị
đạt được 9,33 triệu USD (tăng 5,98 triệu USD) so với năm 2005. Nguyên nhân do
công ty biết được Liên minh EU mở rộng thêm phía Đông, nên công ty đã xâm
10
GVHD: Th.s La Nguyễn Thùy Dung -10-
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương
Phân tích tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường EU tại công ty cổ phần thủy sản Cafatex
nhập vào thị trường mới này bằng cách đưa các sản phẩm được chế biến từ cá tra,
cá basa sang các thị trường mới.
Riêng năm 2007, tổng sản lượng xuất khẩu cá sang thị trường EU là
3.645,1 tấn, đạt giá trị 11,9 triệu USD (giảm 988,8 tấn, tương đương giảm 2,8 triệu
USD so với năm 2006). Cụ thể từng mặt hàng như sau: đối với sản phẩm cá đông
block truyền thống năm 2007 xuất khẩu được 1.109,4 tấn đạt giá trị 5,2 triệu USD
(chiếm 28%); sản phẩm cá đông cao cấp xuất khẩu sang thị trường EU của công ty
chiếm tỷ trọng cao hơn 72% ( đạt 2.852,7 tấn, tương đương 7,8 triệu USD). Tuy
nhiên, xét về sản lượng và giá trị xuất khẩu của hai mặt hàng này của công ty lại
giảm so với năm 2006, cụ thể đối với mặt hàng cá đông block truyền thống giảm
907,4 tấn (giảm 1,3 triệu USD); còn sản phẩm cá đông cao cấp giảm 81,4 tấn
(tương đương giảm 1,5 triệu USD) so với năm 2006. Mặc dù, sản lượng xuất khẩu
cá đông cao cấp giảm với một lượng nhỏ hơn sản phẩm cá đông cao cấp, nhưng
giá trị xuất khẩu giảm nhiều. Nguyên nhân là do giá bán xuất khẩu sản phẩm cá
đông cao cấp cao hơn so với mặt hàng cá đông block truyền thống. Ngoài ra trong
năm 2007, do sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu cá trong nước, không đủ cung cấp
cho thị trường xuất khẩu nên lượng xuất khẩu cá sang thị trường EU của Việt Nam
nói chung, và của công ty Cafatex nói riêng trong năm 2007 bị chựng lại.
Tóm lại qua ba năm 2005 – 2007, sản phẩm cá đông cao cấp của công ty
vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực sang thị trường EU. Mặc dù, sản phẩm cá đông
ngoài là Anh, Đan Mạch, Thụy Điển. Hiện nay, đồng EURO có tỷ giá hối đoái cao
hơn đồng USD.
Chính sách ngoại thương của EU biểu hiện trong việc áp dụng một số chính
sách và công cụ đặt biệt, tiêu biểu là biểu thuế quan chung và chính sách chống
bán phá giá.
Chính vì những đặc điểm về văn hóa, kinh tế, tôn giáo và nhu cầu tiêu dùng,
nên từng thị trường trong khu vực Liên minh châu Âu rất đa dạng về thói quen và
thị hiếu tiêu dùng. Tuy nhiên từ năm 2005-2007, các sản phẩm được chế biến từ cá
tra, cá basa của công ty cồ phần thủy sản Cafatex chủ yếu được xuất sang 11 nước
như: Đan Mạch, Đức, Anh, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Bỉ, Hà Lan, Pháp, Tây Ban Nha,
Thụy Điển và Ý. Riêng các nước khác trong khu vực EU, công ty chưa xuất khẩu
trực tiếp tại các thị trường còn lại hoặc sản phẩm của công ty đã có mặt tại các thị
trường này, nhưng được phân phối bởi các nước kể trên.
Khối lượng sản phẩm cá tra, cá basa xuất khẩu sang 11 nước thuộc EU của
công ty cổ phần thủy sản Cafatex:
12
GVHD: Th.s La Nguyễn Thùy Dung -12-
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hương