HỆ TIẾT NIỆU VÀ HỆ SINH DỤC
A. HỆ TIẾT NIỆU
I. Thận: là cơ quan chính của hệ tiết niệu, đảm nhận việc lọc các chất độc trong
máu.
1. Vị trí: Nằm sau phúc mạc, bên phải và bên trái cột sống, ngang mức sống
ngực XI và đốt sống thắt lưng III, thận phải nằm thấp hơn thận trái khoảng 2
cm.
2. Hình dạng ngoài: Thận có hình hạt đậu, bề mặt trơn láng, với 2 mặt: trước và
sau ; hai bờ trong và ngoài; 2 cực:trên dưới. Bờ ngoài của thận cong lồi, bờ
trong có một khuyến lõm có rốn thận. Rốn thận mở vào xoang thận nằm ở
trong thận nằm ở trong thận, là nơi đi vào mạch máu, thần kinh và mạch bạch
huyết tới thận và là nơi xuất phát của niệu quản.
3. Cấu tạo trong:
Cấu tạo đại thể:
Xoang thận: Xoang thận thông ra ngoài ở rốn thận. Thành xoang có
nhiều chỗ lồi lõm. Chỗ lòi hình nón gọi là nhú thận. Nhú thận cao khoảng
4-10 mm, đầu nhú có nhiều lỗ sinh niệu đổ nước tiểu vào bể thận. Chỗ lõm
úp vào nhú thận gọi là các đài thận nhỏ. Mỗi thận có từ 7-14 đài thận nhỏ,
hợp thành 2 hay 3 đài thận lớn.
♦ Các đài thận lớn hợp lại thành bể thận
♦ Bể thận nối với niệu quản.
Nhu mô thận: được chia làm 2 vùng
o Tủy thận: gồm nhiều tháp thận (khối hình nón).đáy tháp quay về phía
bao thận, đỉnh hướng về xoang thận tạo nên nhú thận. Các tháp thận sắp
xếp thành hai hàng dọc theo hai mặt trước và sau thận.
o Vỏ thận gồm:
♦ Cột thận: là phần nhu mô nằm giữa các tháp thận.
♦ Tiểu thuỳ vỏ:Là phần nhu mô từ đáy tháp thận tới bao sợi. Tiểu thỳ
vỏ lại chia làm 2 phần:
- Phần tia: gồm các khối hình tháp nhò, đáy nằm trên đáy tháp
thận, đình hướng ra bao sợi thận.
bắt chéo động mạch chậu chung.
− Phía trong, niệu quản phải liên quan với tĩnh mạch chủ dưới, niệu quản
trái liên quan với động mạch chủ bụng.
Đoạn chậu hông:
− Đoạn này đi từ đường cung xương chậu tới lỗ niễu quản của bàng
quang. Lúc đầu, nó chạy áp sát vào thành bên của chậu hông dọc theo
các mạch chậu trong, tới ngang với gai ngồi, niệu quản chạy vòng vào
trong và ra trước sàn chậu hông để tới bàng quang.
− Khi tới bàng quang, niệu quản chạy xuyên trong thành bàng quang từ
trên xuống dưới, từ ngoài vào trong và đổ vào bàng quang tại lỗ niệu
quản.
2. Cấu trúc: Thành niệu quản dầy khoảng 1 mm được cấu tạo bởi 3 lớp:
o Lớp niêm mạc liên tục với niêm mạc bể thận ở trên và niêm mạc bàng quang ở
dưới.
o Lớp cơ:gồm 3 lớp: Lớp trong cơ dọc, lớp giữa cơ vòng, lớp ngoài thô sơ và chỉ
gồm vài bó cơ dọc.
o Lớp bao ngoài bao bọc bên ngoài.
3. Chức năng: dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang.
III. Bàng quang: là 1 tạng rỗng nằm dưới phúc mạc. Bàng quang nhận nước tiểu từ 2
thận qua 2 ống niệu quản.
1. Vị trí:
o Bàng quang thuộc hố chậu, sau xương mu, trước tử cung (với nữ), trước
trực tràng (đối với nam) trên đáy chậu.
o Khi căng đầy, bàng quang có hình cầu và nằm trong ổ bụng.
2. Hình thể ngoài:
o Ở người trưởng thành, bàng quang gồm 1
đỉnh ở trước, một thân, 1 đáy ở phía sau – dưới và một cổ.
o Thân bàng quang khi không chứa nước tiểu
gồm 3 mặt: mặt trên và hai mặt dưới – bên.
o Mặt trên có phúc mạc phủ:
nên cơ mu – bàng quang, một số sợi khác chạy ra phía sau tạo nên cơ trực tràng
– bàng quang.
o Lớp giữa là cơ vòng dày hơn lớp ngoài, nhất là ở phần trên vùng tam giác bàng
quang.
o Lớp trong là cơ dọc, phát triển nhất ở vùng tam giác bàng quang và hướng của
thớt cơ cùng chạy dọc vể phía cổ tạo thảnh 1 quai dày ở phía sau cổ bàng
quang.
o Lớp thanh mạc chính là phúc mạc. Ở những vùng không có phúc mạc, bàng
quang được bao phủ bởi một lớp mô liên kết. Dưới lớp thanh mạc là tấm lưới
thanh mạc.
4. Chức năng : Bàng quang có nhiệm vụ chính là đây chính là nơi nhận nước
tiểu từ thận qua hai niệu quản. Khi bàng quang đầy sẽ có phản xạ co bóp bàng
quang gây cảm giác buồn đi tiểu tiện.
IV. Niệu đạo: là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài. Niệu đạo nữ ngắn hơn
niệu đao nam.
Niệu đạo nam: Niệu đạo nam vừa là ống dẫn nước tiểu vừa là đường xuất
tinh.
1. Đại cương:
o Đường đi:
Niệu đạo được bắt đầu từ cổ bàng quang ở lỗ niệu đạo trong đi thẳng
xuống dưới xuyên qua tuyến tiền liệt, sau đó qua hoành chậu và hoành niệu
dục, cong ra trước và lên trên ôm lấy bờ dưới khớp mu rồi đi vào gốc và thân
dương vật tới đỉnh của quy đầu.
o Phân đoạn:
- Về phương diện giải phẫu, niệu đạo được chia làm ba đoạn:
+ Đoạn tiền liệt: bắt đầu từ cổ bàng quang đến đỉnh tiền liệt, dài khoảng 2,5-3
cm, có cơ thắt trơn niệu đạo bao quanh ở sát cổ bàng quang.
+ Đoạn màng: đi từ đỉnh tuyến tiền liệt tới hành dương vật và chọc qua màng
đáy chậu,có cơ thắt vân niệu đạo bao xung quanh, phía trước có đám rối tĩnh
mạch trước bàng quang.
được giữ trong bàng quang giữa hai lần đi tiểu và giúp cho tinh dịch không trào ngược
vào bàng quang khi giao hợp.
Niệu đạo nữ:
o Niệu đạo nữ tương ứng với niệu đạo đoạn tiền liệt và đoạn màng ở nam, đi từ
lỗ niệu đạo trong ở cổ bàng quang tới lỗ niệu đạo ngoài ở âm hộ, dài khoảng 3-
4cm.
o Lỗ niệu đạo ngoài là nơi hẹp nhất của niệu đạo, nằm giữa hai môi nhất ở phía
trước lỗ âm đạo, ở phía dưới và sau âm vật. Trên đường đi, niệu đạo cũng
xuyên qua hoành chậu và hoành niệu dục và các liên quan đến các hoành này.
o Hình thể trong:
o Niêm mạc cũng có mào niệu đạo ở phía sau (nhưng không có lồi tinh) và những
nếp dọc. Ơ gần lỗ niệu đạo ngoài, có hai lỗ thông của tuyến Skene.
Nguyên nhân gây ra sỏi thận?
Các chuyên gia vẫn chưa nhất trí về nguyên nhân gây ra sỏi thận
• Di truyền : Một số người dễ bị sỏi thận hơn những người khác. Phần lớn sỏi thận
có thành phần cấu tạo là canxi, và bệnh tăng canxi niệu (có nồng độ canxi trong
nước tiểu cao) là một yếu tố nguy cơ. Đặc điểm dễ bị nồng độ canxi niệu cao có thể
di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một số bệnh di truyền khác cũng làm cho
một số người dễ bị sỏi thận. Chẳng hạn như trong đó bao gồm những người bị acid
hóa ống thận và những người gặp những vấn đề về chuyển hóa của nhiều chất
trong cơ thể trong đó có cystine (một loại amino acid), oxalate (một loại muối) và
acid uric (chẳng hạn như trong bệnh Gout).
• Vị trí địa lý: vị trí địa lý có thể đóng một vai trò nào đó trong việc hình thành sỏi
thận. Có một vùng được gọi là "vành đai sỏi thận" ở Hoa Kỳ, những người sống ở
phía Nam Hoa Kỳ bị gia tăng nguy cơ hình thành sỏi thận do yếu tốt khí hậu nóng
và ít uống nước khiến cho cơ thể người dân ở khu đó tương đối bị thiếu nước làm
cho nước tiểu trở nên cô đặc hơn nên các chất hóa học bên trong nằm sát gần nhau
hơn nên dễ tạo ra tiền chất của sỏi dễ dàng hơn.
• Chế độ ăn: chế độ ăn có thể có đóng góp vào sự hình thành sỏi hoặc không. Ở một
người dễ hình thành sỏi thận thì thức ăn chứa nhiều canxi có thể làm gia tăng nguy
2. Hình thể ngoài:
o Buồng trứng có hình một hạt đậu dẹt, kích thước khoảng 1 cm bề dày, 2cm bề
rộng, và 3 cm bề cao.
o Buồng trứng co hai mặt: mặt trong và mặt ngoài. Mặt trong, lồi, tiếp xúc với các
tua của phễu tử cung và các quai ruột. Mặt ngoài nằm áp vào phúc mạc của thành
bên chậu hông trong một hố lõm gọi là hố buồng trứng. Hố buồng trứng được giới
hạn do các thành phần nằm ngoài phúc mạc đội lên. Phía trước dưới là dây chằng
rộng, phía trên là động mạch chậu ngoài, phía sau là động mạch chậu trong và niệu
quản. Ơ đáy hố là động mạch rốn và mạch và thần kinh bịt. Mặt ngoài buồng trứng
có vết lõm gọi là rốn buồng trứng là nơi mạch và thần kinh đi vào buồng trứng.
o Buồng trứng có hai bờ: bờ tự do và bờ mạc treo buồng trứng. Bờ tự do quay ra phía
sau và liên quan với các quai ruột còn bờ mạc treo thì có mạc treo, treo buồng trứng
vào mặt sau dây chằng rộng.
o Buồng trứng có hai đầu:đầu vòi và đầu tử cung. Đầu vòi, tròn hướng lên trên và là
nơi bám cùa dây chằng treo buồng trứng còn đầu tử cung nhỏ hơn quay xuống
dưới, hướng về phía tử cung vaa2la2 nơi bám của dây chằng riêng buồng trứng.
o Buồng trứng được cố định tại chỗ là nhờ:
− Mạc treo buồng trứng đi từ mặt sau dây chằng rộng tới bám vào bờ mạc treo
của buồng trứng.
− Dây chằng treo buồng trứng đi từ đầu vòi của buồng trứng tới thành bên
chậu hông, giữa 2 lá của dây chằng rộng.
− Dây chằng riêng buồng trứng đi từ đầu tử cung của buồng trứng tới sừng tử
cung.
− Dây chằng vòi- buồng trứng: dây này ngắn, đi từ đầu vòi tới phễu vòi tử
cung.
3. Cấu tạo:
o Ngoài là lớp biểu bì hình trụ.
o Bên trong gồm phần vỏ và tủy, lẫn với mô liên kết sợi xốp.
o Phần vỏ có nhiều nang trứng nguyên thủy, đó là tập hợp trứng non với tế bào
thượng bì xung quanh. Nang này sẽ trở thành nang trứng chín.
tử cung và động mạch buồng trứng.
4. Chức năng: hứng rồi dẫn trứng vào tử cung từ 3-10 ngày.
III/ Tử cung:
1.Vị trí: nằm giữa chậu hông bé, sau bàng quang, trước trực tràng, trên âm đạo và dưới
quai ruột non.
2. Hình thể ngoài: Tử cung có hình quả lê, mặt lồi hình vòm ở phía trước- trên là đáy tử
cung. Tính từ đáy xuống, tử cung được chia làm 3 phần:thân, eo và cổ tử cung.
Thân: có hình thang, nằm ngay dưới đáy tử cung. Hai góc bên của thân là sừng tử
cung, nơi tử cung tiếp nối với eo vòi tử cung.
− Thân tử cung dẹp trước – sau nên có hai bờ, bờ phải và bờ trái, và hai mặt là mặt
bàng quang và mặt ruột.
− Mặt bàng quang hướng ra trước và xuống dưới và đè lên mặt trên bàng quang. Phúc
mạc phủ mặt này tới eo tử cung thì lật lại phủ lên mặt trên bàng quang, tạo thành
túi cùng bàng quang – tử cung.
− Mặt ruột lồi, hướng lên trên và ra sau cũng được phúc mạc phủ. Phúc mạc lách
xuống tận phần trên âm đạo rồi quặt lên phủ mặt trước trực tràng tạo nên túi cùng
trực tràng – tử cung. Qua túi cùng, tử cung liên quan với các quai ruột và trực tàng.
− Các bờ tử cung là nơi dây chằng rộng liên tiếp với phúc mạc tử cung, các động
mạch tử cung chạy xoắn hình lò so ở giữa 2 lá của dây chằng rộng.
− Sừng tử cung là nơi vòi tử cung liên tiếp với thân và là nơi bám của dây chằng
riêng buồng trứng và dây chằng tròn.
− Đáy từ cung là vòm lồi, liên quan với các quai ruột, phúc mạc phủ đáy liên tiếp với
phúc mạc của các mặt tử cung.
Eo tử cung: Phía trước, eo ở ngang mức với đáy túi cùng bàng quang- tử cung. Phía
sau và hai bên, eo có liên quan giống như mặt sau và hai bên thân tử cung.
Cổ tử cung: âm đạo bám vòng quanh cổ tử cung theo bình diện chếch xuông dưới và
ra trước, chia cổ làm 2 phần:
− Phần trên âm đạo: ở mặt trước, cổ tử cung dính vào mặt sau dưới bàng quang bởi 1
tổ chức tế bào lỏng lẻo dễ bóc tách còn ở mặt sau thì có phúc mạc phủ, qua túi cùng
trực tràng – tử cung cổ tử cung liên quan với trực tràng.
- Tử cung là 1 khối cơ dày, rỗng thành một khoang dẹt theo chiều trước sau và thắt lại
ở chỗ eo tử cung chia khoang thành 2 buồng:buồng nhỏ ở dưới nằm trong cổ tử cung gọi là
ống cổ tử cung và buồng to ở trong tử cung có hình tam giác mà 3 cạnh lồi về phía lòng
tam giác. Hai góc bên thông với vòi tử cung, còn góc dưới thông với ống cổ tử cung. Hai
thành trước và sau của buồng tử cung áp sát vào nhau. Chiều sâu trung bình từ lỗ tử cung
tới đáy buồng tử cung khoảng 3 cm.
♦ Cấu tạo của tử cung: Xét từ ngoài vào trong, cấu tạo của tử cung gổm:
- Lớp thanh mạc (lớp ngoài tử cung) là lớp phúc mạc bọc tử cung. Dưới lớp thanh mạc
là tấm dưới thanh mạc.
- Lớp cơ hơi khác nhu ở phần thân và cổ.
• Ở phần thân tử cung, có 3 tầng cơ. Tầng ngoài là các thớ cơ dọc và một ít
cơ vòng. Tầng giữa (tầng mạch) rất dày gọi là lớp cơ rối gồm các thớ cơ
đan chéo nhau chằng chịt quấn lấy các mạch máu. Tầng trong chủ yếu là
các thớ cơ vòng.
• Ở phần cổ tử cung, cơ mỏng hơn và không có tầng cơ rối. Chỉ có một tầng
cơ vòng kẹp giữa hai tầng cơ dọc.
- Lớp niêm mạc (lớp trong tử cung) mỏng mảnh và dính chặt vào lớp cơ.
4. Chức năng:
− Tử cung là nơi cho trứng đã thụ tinh đến làm tổ và phát triển.
− Là nơi nương náu và phát triển của thai nhi. Khi thai phát triển hoàn thiện, tử cung có
nhiệm vụ co bóp đẩy thai nhi ra ngoài.
− Đây cũng là nơi xảy ra kinh nguyệt.
IV/ Âm đạo:
1. Vị trí:
o Âm đạo là một ống cơ mạc rất đàn hồi dài trung bình khoảng 8 cm bám từ cổ tử cung tới
tiền đình âm hộ. Am đạo nằm sau bàng quang và trước trực tràng, chạy chếch ra trước và
xuống dưới theo trục chậu hông nên trục âm đạo hợp với đường ngang một góc 70
0
quay ra
phía sau.
môn 3cm.
3. Môi bé là hai nếp da nhỏ hơn, nằm giữa các môi lớn và ngăn cách với môi lớn bởi
rãnh gian môi. Ơ đầu trước, môi bé tách ra thành một nếp nhỏ bao lấy âm vật tạo
nên bao âm vật; đầu sau hai môi dính với nhau tạo thành hãm môi âm hộ.
4. Tiền đình âm đạo là một khoảng lõm nằm giữa mặt trong hai môi bé, sau âm vật
và trước hãm môi âm hộ. Mở thông vào tiền đình có lỗ niệu đạo ngoài ở trước, lỗ
âm đạo ở sau và những ống tiết của các tuyến tiển đình lớn.
5. Âm vật: tương đương với dương vật ở nam giới nhưng nhỏ hơn nhiều. Am vật là
một tạng cươn giống như dương vật nằm ngay ở đầu trước khe âm hộ dưới khớp
mu. Nó cũng được cấu tạo bởi hai vật hang và cũng gồm hai trụ, một thân và một
quy đầu âm vật. Ơ phía dưới, quy đầu dính môi bé bởi một nếp niêm mạc gọi là
hãm âm vật.
VI/ Tuyến vú:
Vú là cơ quan chứa các tuyến sữa nằm ở thành trước ngực, hình nửa khối cầu, tròn và lồi
hơn ở phía dưới tạo thành rãnh dưới vú với da ngực.
Có một đôi trước ngực. Nguồn gốc là do sự biệt hóa của tuyến mồ hôi.
Tuyến này liên quan mật thiết với hoạt động sinh dục, thể hiện ở tuổi dậy thỉ và hoạt
động chính thức vào thời kỳ sinh sản. Có thể xem nó như một bộ phận sinh dục ngoài.
1. Vị trí: Vú gồm hai uyến sữa nằm ở ngực, trước các cơ ngực, đi từ xương sườn thứ III đến
xương sườn thứ VI.
2. Hình thể ngoài: Ở trung tâm mặt trước có một lồi tròn gọi là nhú vú(đầu vú), có
nhiều lổ nhỏ là lỗ tiết của các ống sữa. Xung qunah đầu vú có một lớp da xẫm hơn
gọi là quầng vú. Ở mặt quầng vú nổi lên những cục nhỏ do các tuyến bã của quầng
vú đẩy lồi lên.
3. Cấu tạo: từ nông vào sâu, vú được cấu tạo bởi:
Da: mềm mại được tăng cường bởi các thớ cơ trơn ở quầng vú.
Mô liên kết dưới da tạo thành các hố mỡ.
Các tuyến sữa là loại tuyến chùm tạo thành các tiểu thùy. Nhiều thùy hợp thành các
thùy. Mỗi thùy đổ ra đầu vú bởi một ống tiết sữa. Trước đi đổ ra đầu vú, ống tiết sữa phình
ra thành xoang sữa .
4. Chức năng: Tinh hoàn có phận sinh tinh trùng và hoocmon testosterinum phát
triển giới tính nam thứ cấp.
Mở rộng : Tinh hoàn lạc chỗ: Là tinh hoàn ở vị trí bất thường, ngoài đường di chuyển
xuống túi bìu. Vị trí của tinh hoàn lạc chỗ có thể ở đùi, ở đáy chậu ( là vùng từ dưới bìu tới hậu
môn), ở trên mu, ở trong bìu bên đối diện, ở sau rốn… Bệnh thường xảy ra ở trẻ em.
Sự trở ngại của dây chằng và ống bẹn đều có thể làm hạn chế sự di chuyển của tinh hoàn
hoặc dẫn đến tinh hoàn lạc chỗ ở vị trí bất thường. Nguyên nhân do chính bản thân tinh
hoàn, thường gặp trong những bất thường nhiễm sắc thể 46, XXY, hoặc có thể phối hợp
với nhiều hội chứng dị dạng khác. Do tổn thương trục dưới đồi - yên - sinh dục ở bệnh
nhân. Khi bệnh nhân mắc các hội chứng: Kallmann, Prader-willi-Labhart, quái thai không
não, suy tuyến yên do trục dưới đồi - yên - sinh dục bị tổn thương hoặc không bình thường
về cấu trúc đều là những nguyên nhân khiến tinh hoàn không xuống bìu
Nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ để lại hậu quả đến tuổi dậy thì tinh hoàn sẽ bị
teo nhỏ, ung thư tinh hoàn, vô sinh… Vì vậy nên đưa đến bệnh viện để siêu âm xem vị trí
tinh hoàn ở đâu. Khi trẻ em được 4-5 tuổi nên cho cháu đi phẫu thuật để đưa tinh hoàn về
bìu.
II/ Mào tinh:
1. Hình thể ngoài: Mào tinh có dạng chữ C, gồm đầu, thân và đuôi nằm chạy dọc
theo đầu trên và bờ sau của tinh hoàn. Đầu mào úp vào tinh hoàn như một cái mũ.
Thân không dính vào tinh hoàn tạo thành một hố bịt hay xoang mào tinh. Còn đuôi
thì chỉ dính vào tinh hoàn bởi các sợi thớ.
2. Hình thể trong: Ở đầu mào tinh, có ống xuất cuộn lại thành hình các nón dài tạo
nên các tiểu thùy mào tinh. Các ống này đều đổ vào một ống duy nhất, gọi l ống
mào tinh. Đây l một ống nhỏ đường kính khoảng 0,4 mm và dài đến 6-7 m cuộn
ngoằn ngoèo trong thân mào tinh và xuống đến đuôi thì tiếp tục với ống dẫn tinh.
Trên ống mào tinh có các ống lạc như ống lạc trên tạo thành mấu phụ mào tinh và
ống lạc dưới trong đuôi mào.
III/ Ống dẫn tinh:
1. Vị trí : Ống dẫn tinh đi từ đuôi mào tinh đến lồi tinh
2. Hình thể ngoài : Ống sờ thấy rắn, màu trắng sáng nên dễ phân biệt với các thành
sau xương mu, giữa hai cơ nâng hậu môn và trước trực tràng. Tuyến tiền liệt có hình
nón mà đáy ở trên, đỉnh ở dưới, có bốn mặt là mặt trước, mặt sau và 2 mặt dưới bên.
Về phương diện giải phẫu người ta chia tuyến tiền liệt làm 3 thùy là thùy phải và
thùy trái, ngăn cách nhau bởi một rãnh ở mặt sau. Thùy thứ 3 gọi là eo tuyến tiền liệt
hay thùy giữa. Eo tuyến tiền liệt nằm giữa niệu đạo và ống phóng tinh. Tuyến tiền liệt
rộng 4cm, cao 3 cm và dày 2, 5 cm. Trung bình ở người lớn nặng 15- 25g, người già
tuyến có thể to gấp bội, thường phát triển to ra ở phần sau, trong bện u xơ tuyến tiền
liệt, gây bí tiểu.
VII. Tuyến hành niệu đạo: là hai tuyến nằm trong cơ ngang sâu, ở hai bên niệu đạo
màng. Tuyến to bằng hạt ngô và đổ vào niệu đạo hành xốp bởi ống tiết.
VIII. Dương vật: thuộc phần sinh dục ngồi đảm nhiệm cả hai chức năng niệu và sinh
dục.
1. Hình thể ngoài: Dương vật có 2 phần:
Phần sau cố định
Phần trước di động.
Khi dương vật mềm, dài độ 10 cm nằm trước bìu
Dương vật gồm 1 rễ, 1 thân và quy đầu.
- Rễ dương vật: dính vào xương mu bởi dây chằng treo dương vật và dính vào
ngành dưới xương mu bởi vật hang.
- Thân: hình trụ, mặt trên hơi dẹt hơn gọi là mu dương vật và mặt dưới hay mặt
niệu đạo được phân ra 2 nửa bởi đường giữa dương vật
- Quy đầu: được bao bọc bởi nhiều hay ít trong 1 nếp nửa niêm mạc nửa da gọi là
bao quy đầu mà ở mặt dưới dầy lên một nếp gọi là hãm bao quy đầu.Bao quy đầu ở
trẻ em thì rất dài. Nhiều khi bao quy dầu phủ kín quy đầu chỉ để 1 lỗ hẹp ở trước
quy đầu, không thể trật lên được gọi là bệnh hẹp bao quy đầu hoặc tật bao quy đầu
dài.
Quy đầu mu hồng nhạt giữa có lỗ sáo hay niệu đạo ngòai. Ở đáy giới hạn bởi
vành quy đầu. Vành là một bờ lồi chạy xếch xuống dưới và ra trước nên quy đầu ở
trên dài gấp đôi ở dưới. Giữa thân vành quy đầu có cổ quy đầu.
2. Cấu tạo: Dương vật được cấu tạo bởi các tạng cương và các lớp bọc dương vật.
Lớp cơ bám da: l lớp tạo bởi các sợi cơ trơn, sợi đàn hồi và sợi liên kết tương tự
như một cơ bám da. Da bìu co lại được nhờ lớp cơ bám này.
Lớp tế bào dưới da: l lớp mỡ và tế bào nhão dưới da
Lớp mạc nông: liên tục bên têrn với mạc tinh ngòai của thừng tinh
Lớp cơ bìu: cơ bìu do cơ cho bụng trong trĩu xuống bìu trong quá trình đi xuống
bìu của tinh hòan. Tác dụng cơ này là nâng tinh hòan lên trên.
Lớp mạc sâu: l một phần của mạc ngang qua lỗ sâu của ống bẹn xuống bọc quanh
thừng tinh, mào tinh hồn và tinh hòan.
Lớp bao tinh hòan: được tạo nên do phúc mạc bị lôi xuống bìu trong quá trình đi
xuống của tinh hòan nên gồm có hai lá: lá thành và lá tạng. Lúc đầu púhc mạc thọc
xuống bìu thành một ống gọi là mỏm bọc. Sau đó ống sẽ bít lại chỉ còn là một di tích
khi trẻ đã sinh ra đời. Nếu mỏm này còn tồn tại sẽ gây nên thốt vị bẹn giáp tiếp nội
thớ.
X. Sự hình thành cơ quan sinh dục nam:
− U sinh dục phát triển thành tinh hòan. Trung thận và ống trung thận trở thành mào tinh và
ống dẫn tinh. Ống cận trung thận teo đi và để lại hai di tích, một ở đầu trên l mẩu phụ tinh
hòan nằm ở đầu mào tinh và một ở đầu dưới là túi bịt và tuyến tiền liệt tương tự như âm
đạo và tử cung ở nữ.
− Tinh hoàn trong quá trình phát triển cũng di chuyển từ ổng bụng xuống bìu. Sự di chuyển
này xảy ra là do sự phát triển quá nhanh và không đồng đều của cực trên so với cực dưới
của phôi, đồng thời có thể do tác dụng của dây chằng bìu. Khi tinh hòan đi xuống bìu, một
túi phúc mạc cũng song song đi cùng vá sau đó thành ống phúc tinh mạc. Ống này về sau
sẽ bít tắt ở đoạn trong thừng tinh để ngăn cách ổ phúc mạc ở trên với ổ tinh mạc ở dưới.
Trong trường hợp bất thường, tinh hoàn có thể không di chuyển xuống bìu hay di
chuyển dở dang gây ra tình trạng tinh hòan ẩn hay tinh hòan lạc chỗ. Ống phúc mạc
tinh nếu không bít tắt lại sẽ gây ra thốt vị bẹn bẩm sinh.
CHƯƠNG VII: HỆ TUẦN HOÀN
1.Cấu tạo của tim
Tim là một túi cơ rỗng có vách ngăn chia thành hai nửa riêng biệt là nửa phải và nửa trái.
Mỗi nửa tim có 2 ngăn: một tâm nhĩ ở trên và một tâm thất ở dưới. Cấu tạo trong còn có
Tâm nhĩ phải Tâm thất trái
Tĩnh mạch chủ Mao mạch cơ quan Động mạch chủ
3. Ba lối rẽ tắt của tuần hoàn thai nhi (học kỹ tên 3 lối rẽ tắt, vai trò)
Tuần hoàn thai nhi có 3 lối rẽ tắt: ống động mạch, ống tĩnh mạch, lỗ bầu dục giúp cho máu từ nhau
thai không phải đi qua những nơi không cần thiết (gan, phổi) làm tăng tồc độ tuần hoàn qua nhau.
Đồng thời đảm bảo được cơ chế ưu tiên máu giàu oxi hơn cho các cơ quan quan trọng như não.
4. So sánh cấu tạo động mạch, tĩnh mạch, mao mạch
Động mạch Tĩnh mạch Mao mạch
Nhiệm vụ Dẫn máu từ tim sang
phổi và từ tim đến
các cơ quan khác.
Dẫn máu từ các mao
mạch trở về tim.
Nối động mạch với
tĩnh mạch.
Cấu tạo - Thành mạch dày và
được cấu tạo từ 3
lớp: sợi xốp, cơ trơn,
nội mô -> chịu áp
lực máu chảy cao.
- Lòng động mạch
nhỏ -> tốc độ máu
chảy nhanh.
- Thành tĩnh mạch
tương tự thành động
mạch nhưng mỏng
hơn. Lớp cơ trơn của
tĩnh mạch có khả
năng co bóp và đàn
hồi kém.