Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Tác động của khu vực mậu dịch tự do
ASEAN - Trung Quốc tới các quốc gia
thành viên
2.1. Cơ hội
2.1.1. Thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong dài hạn
Trong vòng 10 năm tới, một vòng cung rộng lớn, bao quát hầu hết khu vực
Đông á sẽ hình thành nên một trong những Khu vực mậu dịch tự do lớn nhất và năng
động nhất thế giới, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc.
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc dự định sẽ đợc hoàn thành trong
vòng 10 năm. Việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong khung thời
gian này sẽ không gặp phải trở ngại, bởi ASEAN đã và đang tích cực cắt giảm thuế
quan theo quy định của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA): sáu nớc thành viên
cũ của ASEAN cam kết sẽ hạ mức thuế quan bình quân xuống dới 5% vào cuối 2003;
bốn nớc thành viên mới là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar sẽ hạ mức thuế
xuống dới 5% vào cuối 2006, đồng thời sẽ bỏ tất cả thuế quan, thực hiện mậu dịch tự
do vào năm 2018. Thuế quan của ASEAN hạ thấp sẽ có ảnh hởng vô cùng thuận lợi
cho việc xuất khẩu hàng hóa trong nội bộ khối, đồng thời tạo cơ sở cho Khu vực mậu
dịch tự do ASEAN - Trung Quốc ACFTA sớm đợc hình thành. Hơn thế nữa, khả năng
tiếp cận lớn hơn với ngời láng giềng khổng lồ Trung Quốc có thể gây tác động kích
thích tiến trình tự do hoá chậm chạp của bản thân khu vực. Jonathan Anderson thuộc
bộ phận nghiên cứu Châu á Thái Bình Dơng của công ty UBS Securities tại Hồng
Kông lập luận: Đông Nam á không đa ra bất kỳ ý tởng gì gần với một thị trờng tự do
về lao động, vốn hay hàng hoá. Nếu một FTA với Trung Quốc có thể buộc ASEAN phải
tự do hoá hơn nữa các nền kinh tế của mình và tiến gần tới một không gian kinh tế
thống nhất, điều này có thể là nguồn tạo ra sự tăng trởng và đầu t mới ở trong nớc,
trong lĩnh vực chế tạo cũng nh trong các nguồn chủ chốt [24].
Tuy nhiên, khái niệm 10 năm của ACFTA chỉ là một khung thời gian chứ
không phải là một khái niệm có tính tuyệt đối, và bởi vậy rất có khả năng là việc triển
khai Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ đợc hoàn thành trớc thời hạn đã
định. Ví dụ, việc triển khai Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã đợc đẩy
quả này cũng tơng tự nh nhận định mà Cựu Thủ tớng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã
phát biểu tại Hội nghị thợng đỉnh Trung Quốc ASEAN tại Singapore tháng 11/
2000.
Qua các số liệu đợc nghiên cứu từ 2 mô hình GTAP và CGE, có thể thấy, về mặt
kinh tế, việc hình thành ACFTA sẽ mang lại cục diện cùng có lợi cho Trung Quốc và
ASEAN:
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 2 -
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Thứ nhất, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ góp phần tăng tr-
ởng GDP và xuất khẩu của cả ASEAN và Trung Quốc, nâng cao hiệu quả của nền kinh
tế nhờ tính cạnh tranh cao.
Theo nghiên cứu của Ban th ký ASEAN, với việc thiết lập một FTA song phơng,
GDP thực tế sẽ tăng lên đối với tất cả các nớc ASEAN và Trung Quốc (xem bảng 9).
Bảng : Tác động của ACFTA tới GDP thực tế theo mô hình GTAP
Nớc
GDP thực tế
(triệu USD)
Giá trị tăng thêm
Số tuyệt đối
(triệu USD)
Số tơng đối
(%)
Indonesia 204,031.4 2,267.8 1.12
Malaysia 98,032.3 1,135.5 1.16
Philippines 71,167.1 229.1 0.33
Singapore 72,734.9 753.3 1.04
Thái Lan 165,516.0 673.6 0.41
Việt Nam 16,110.9 339.1 2.11
Trung Quốc 815,163.0 2,214.9 0.28
Mỹ 7,120,465.5 -2,594.5 -0.04
ASEAN sẽ là thị trờng xuất khẩu quan trọng đối với Trung Quốc. Về nhập khẩu, Trung
Quốc cũng cần nhập khẩu nhiều nguyên liệu thô của ASEAN để chế biến và xuất khẩu
sang thị trờng thứ ba. Ước tính từ năm 2001 đến 2005, Trung Quốc sẽ nhập khẩu
khoảng 1.4 nghìn tỷ USD giá trị thiết bị, công nghệ và hàng hoá [25]. Ngoài ra, với lợi
thế về vị trí địa lý, chi phí vận chuyển thấp và các yếu tố văn hoá tơng đồng, các nớc
ASEAN và Trung Quốc sẽ có nhiều cơ hội hơn để trao đổi các sản phẩm có lợi thế
cạnh tranh của mình nh sản phẩm dầu khí, nông sản nhiệt đới, dầu thực vật, thuỷ sản,
thực phẩm, điện và điện tử gia dụng, hàng dệt may, giầy dép. Các nớc ASEAN cũng sẽ
có cơ hội nhập khẩu nguyên liệu vải đầu vào để gia công xuất khẩu hàng dệt may.
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 4 -
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Bảng : Tác động của ACFTA tới xuất khẩu theo mô hình GTAP
Đơn vị: triệu USD
From
To
Tổng
Indonesia Malaysia Philippines Singapore Thái Lan
Việt
Nam Mỹ Nhật
Trung
Quốc ROW
Indonesia
0.00 -69.00 -117.05 -106.35 -141.49 -40.05 -209.99 -313.66 2,656.09 -547.45 1,111.05
Malaysia
-45.59 0.00 -245.11 -312.71 -219.41 -20.97 -416.56 -246.27 3,207.28 -688.07 1,012.59
Philippines
-2.82 16.57 0.00 46.89 -24.97 -3.00 413.49 39.16 330.80 104.46 920.58
Singapore
-47.27 -392.60 -329.26 0.00 -233.84 -430.61 -321.22 -200.07 3,639.18 -745.43 938.88
Thái Lan
USD [25].
Thứ hai, Khu vực mậu dịch tự do này sẽ mang lại những cơ hội rất lớn cho các nớc
tham gia với việc tạo ra thị trờng cung cấp nguyên liệu phong phú hơn cho các nhà sản xuất
trong khu vực. Jonathan Anderson, phụ trách bộ phận nghiên cứu Châu á Thái Bình Dơng
của công ty UBS Securities tại Hồng Kông, cho rằng tuy Trung Quốc đa ra khẩu hiệu tất cả
đều thắng vào chính sách ngoại giao kinh tế của họ, song Khu vực mậu dịch tự do này về
lâu dài sẽ có lợi nhiều cho Trung Quốc. Theo ông, các hãng chế tạo của Trung Quốc đang
hy vọng nhảy vào các thị trờng xuất khẩu của các nớc Đông Nam á và nền kinh tế Trung
Quốc cũng sẽ đợc lợi từ nguồn cung cấp ổn định hàng hoá và nguyên liệu [24].
Thật vậy, xét về chi phí lao động, mức lơng ở Trung Quốc là rất thấp (tham khảo bảng
12, phần 2.2.3.3), chỉ bằng 1/50 so với Nhật Bản và Mỹ. Năng suất lao động trong khu vực
chế tạo của Trung Quốc cũng rất thấp chỉ bằng 1/25 mức của Mỹ và 1/26 mức của Nhật.
Vì năng suất thấp nh vậy nên nếu xem xét cơ cấu chi phí lao động trong ngành chế tạo, lơng
của Mỹ chỉ cao hơn 1/3 so với Trung Quốc khi xét giá trị sản lợng theo USD. Ngoài ra, giá
trị gia tăng của ngành công nghiệp chế tạo Trung Quốc khá thấp. Năm 2000, tỷ lệ giá trị giá
tăng trung bình của Trung Quốc chỉ là 26% - thấp hơn nhiều so với Mỹ và Nhật (tơng ứng là
49% và 43.6%) [6]. Hơn nữa, các ngành công nghiệp của Trung Quốc phụ thuộc chủ yếu
vào các công nghệ nớc ngoài và cha có quyền sở hữu trí tuệ riêng của mình. Hầu hết các nhà
máy chế tạo và hàng xuất khẩu của Trung Quốc đều thuộc các ngành gia công chế biến (trên
thực tế, 55% [6] hàng xuất khẩu của Trung Quốc là sản phẩm của các ngành gia công chế
biến). Điều này có nghĩa là khi khu vực chế tạo của Trung Quốc phát triển, xuất khẩu của n-
ớc này tăng, thì hàng nhập khẩu vào Trung Quốc cũng tăng tơng ứng. Tính trung bình, cứ
trong 100 USD hàng xuất khẩu thì Trung Quốc cần nhập 50 70 USD [6] nguyên liệu. Và
nh vậy có thể nói rằng Trung Quốc càng xuất khẩu nhiều thì nớc này cũng sẽ nhập khẩu
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 6 -
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
càng nhiều nguyên liệu. Nh vậy, loại thơng mại này không những có lợi cho Trung Quốc mà
còn đem lại nhiều lợi ích cho các nớc ASEAN, ví dụ: những nớc giàu nguồn nguyên liệu nh
Malaysia với diện tích trồng cao su và dầu cọ vô cùng lớn sẽ có cơ hội mở rộng xuất khẩu
các mặt hàng này sang thị trờng Trung Quốc (giá trị xuất khẩu dầu cọ Malaysia sang Trung
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 7 -
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
gồm: Thiết bị nghe nhìn điện tử (41.565); sản phẩm thực vật (8.71%); hàng dệt (8.245);
khoáng sản (7.92%); kim loại và chế phẩm kim loại (7.62%) [28]. Qua đó có thể thấy tài
nguyên thiên nhiên của hai bên có sự bổ sung lẫn nhau. Cơ cấu hàng xuất khẩu trên cũng
cho thấy tuy thiết bị nghe nhìn là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu nhất của 4 nớc ASEAN -
Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines và Trung Quốc, nhng u thế của mỗi bên hiện
nay có khác nhau. Bốn nớc ASEAN nhập khẩu hàng cơ điện của Trung Quốc chủ yếu là đồ
điện cơ khí thông dụng, còn Trung Quốc nhập khẩu hàng cơ điện từ 4 nớc ASEAN phần lớn
lại là sản phẩm cao cấp. Về xuất khẩu hàng điện tử công nghiệp, 4 nớc ASEAN từ lâu đã t-
ơng đối có u thế, còn Trung Quốc ở vào thế khá yếu, nhng xuất khẩu đồ điện gia dụng của
Trung Quốc lại chiếm u thế. Hiện nay về xuất khẩu thành phẩm công nghiệp, hàm lợng kỹ
thuật của 4 nớc ASEAN vẫn cao hơn Trung Quốc. Mặc dù mấy năm gần đây, xuất khẩu
hàng công nghệ cao của Trung Quốc đã tăng khá nhanh nhng u thế vẫn kém so với các nớc
ASEAN. Tuy vậy, công nghệ tin học và viễn thông của Trung Quốc lại đang phát triển khá
nhanh và mạnh: Theo kế hoạch 5 năm lần thứ 10, đến năm 2005, quy mô và dung lợng của
mạng lới thông tin và liên lạc của Trung Quốc sẽ đạt vị trí số 1 thế giới; số lợng máy vi tính
sử dụng trong nớc sẽ đạt 70 triệu chiếc và tỷ lệ dân sử dụng điện thoại sẽ đạt 40%; tỷ lệ giá
trị gia tăng của ngành công nghiệp thông tin trong GDP sẽ tăng từ 4.5% hiện nay lên 7%;
quy mô thị trờng sẽ tăng gấp đôi so với năm 2000 [29]. Với xu thế đó, sản phẩm điện tử của
ASEAN sẽ có rất nhiều cơ hội để thâm nhập thị trờng rộng lớn đầy tiềm năng ở Trung Quốc.
Thứ năm, do hiện nay giữa ASEAN và Trung Quốc đang tồn tại tình trạng thiếu sự
phân công phối hợp với nhau, thậm chí có sự cạnh tranh tơng đối lớn, nên khi Khu vực mậu
dịch tự do ASEAN - Trung Quốc đợc xây dựng, nó sẽ làm cho mỗi bên có thể tận dụng lợi
thế so sánh để phát triển, hình thành nên hệ thống phân công ngành nghề lấy u thế cạnh
tranh làm đặc trng. Hơn nữa, nó còn giúp cho các bên thành viên có thể điều chỉnh toàn diện
cơ cấu ngành nghề của mình một cách sâu sắc hơn ở các tầng bậc khác nhau. Và nh vậy,
thoả thuận lịch sử này sẽ tạo ra bớc phát triển mới cho toàn bộ khu vực, đúng nh nhận định
của ông Andy Xie, chuyên viên kinh tế của tập đoàn Morgan Stanley Dean Witter có trụ sở
tại Hồng Kông: Cả ASEAN và Trung Quốc đều đợc hởng lợi. Các nớc ASEAN mạnh trong
Ca cao Bạc platinum
Đồ gia vị Máy văn phòng
Bơ thực vật, mỡ Thiết bị thu sóng vô tuyến
Thuốc lá sợi Thiết bị viễn thông
Chất tẩy thiên nhiên Máy chạy bằng điện
Dầu tinh chế Thiết bị điện ảnh
Động vật chế biến/ dầu thực vật, Máy ghi âm
Thiết bị in ấn
Indonesia
Cá và động vật giáp xác Dỗu thô và dầu tinh
Cà phê Khí gaz
Ca cao Dỗu rau thực vật
Đồ gia vị Động vật chế biến và dầu thực vật
Cao su thô Xà phòng
Than củi, than đá Phân bón
Gỗ Véc ni, gỗ dán,
Sợi tổng hợp và vải Gỗ chế biến
Đá, cát, sỏi Giấy
Kim loại màu Kính đeo mắt
Quặng kim loại hàm lợng cao Nhôm
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 9 -
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
Than, than bánh Đồ gỗ
Malaysia
Ca cao Vật liệu
Bơ thực vật, mỡ Véc ni, gỗ dán,
Cao su thô Thiết bị thu sóng vô tuyến
Gỗ Thiết bị thu sóng của đài
Quặng uranium, thori hàm lợng cao Máy ghi âm
Khí gaz Thiết bị viễn thông và linh kiện
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 10 -
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc và một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam
lợng vốn đầu t ra nớc ngoài tăng khá nhanh, đặc biệt là vào giữa những năm 90. Các lĩnh
vực đầu t của các doanh nghiệp Trung Quốc trải rộng từ muối tinh, sản phẩm cao su, dợc
phẩm và sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, chế biến thực phẩm, thiết bị điện gia dụng, chế biến
sản phẩm lâm nghiệp, cho tới hoá dầu, ngân hàng, bảo hiểm và vận tải đờng biển. Các ph-
ơng thức đầu t cũng đa dạng, từ đầu t trực tiếp tới đầu t về công nghệ và xây dựng vận
hành chuyển giao (BOT). Nhờ nền kinh tế ngày càng phát triển và việc cải tổ cơ cấu kinh
tế công nghiệp của Trung Quốc, lợng đầu t ra nớc ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc
chắc chắn sẽ ngày càng tăng. Trên thực tế, chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến
khích các doanh nghiệp Trung Quốc đầu t ra nớc ngoài. Trong tơng lai, ASEAN sẽ là thị tr-
ờng đầu t nớc ngoài u tiên của các doanh nghiệp Trung Quốc do vị trí địa lý gần Trung Quốc
và những điểm tơng đồng về văn hoá, đặc biệt sau khi khu vực mậu dịch tự do giữa hai bên
đợc thành lập. Đầu t vốn luôn hớng tới việc thu nhiều lợi nhuận, bởi vậy, chắc chắn các
doanh nghiệp Trung Quốc sẽ không bao giờ bỏ qua các cơ hội sản sinh ra lợi nhuận. Hơn
nữa, dự kiến tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân của Trung Quốc trong thập kỷ tới đạt 7%/
năm [5] và việc Trung Quốc trở thành thành viên của WTO sẽ mang lại nhiều cơ hội quan
trọng hơn để tăng cờng thơng mại và đầu t giữa ASEAN và Trung Quốc.
Thứ hai, không chỉ các doanh nghiệp của ASEAN và Trung Quốc sẵn sàng đầu t
nhiều hơn vào thị trờng chung này mà cả các doanh nghiệp Mỹ, EU và Nhật Bản quan tâm
tới việc thâm nhập vào thị trờng Châu á cũng sẽ mong muốn đầu t vào thị trờng chung này
do các rủi ro và bất trắc về thị trờng giảm đi. Ernest Bower, Chủ tịch Hội đồng kinh doanh
Mỹ ASEAN, nhất trí cho rằng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ tạo ra
tiềm năng cho luồng đầu t mới tại Đông Nam á. Ông nhận định: FTA Trung Quốc
ASEAN đang cuốn hút một số thành viên của chúng tôi. Họ coi đây là một cơ hội. Chẳng hạn
nh General Electric có thể vừa có một nhà máy động cơ tại Trung Quốc vừa có một nhà máy
phụ tùng tại Malaysia. Giả sử họ đóng thuế 60%. Nếu phụ tùng có thể tiến tới đợc miễn thuế,
điều này sẽ làm tăng sức cạnh tranh của họ trên toàn cầu [24]. Nicholas Lardy, một chuyên
gia nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc Viện kinh tế quốc tế tại Washington cũng cho
rằng: Để phù hợp với WTO, Trung Quốc sẽ phải để cho các công ty n ớc ngoài tại các nớc
Nói tóm lại, các tiềm năng và cơ hội cho sự tăng trởng kinh tế dài hạn, thay đổi cơ
cấu và phát triển thông qua khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc là vô cùng quan
trọng. Nhng chúng ta cũng nhận thức rõ rằng cả 2 phía sẽ phải quản lý một cách hiệu quả,
thích hợp và năng động, theo hình thức hớng về phía trớc, đối mặt với những thách thức mà
tự do hoá thơng mại và đầu t, cũng nh sự cạnh tranh trên thị trờng cả nớc thứ ba gây ra. Đây
sẽ là một trong những thử thách lớn đối với cam kết kinh tế và ý chí chính trị về hợp tác bền
vững và hội nhập vì sự tăng trởng và phát triển chung, đồng đều trong khu vực.
2.1.2. Tạo ra vị thế mới về chính trị trong các vòng th ơng lợng,
đàm phán đa phơng toàn cầu
Sự hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế
mang tính chất tĩnh mà cả những lợi ích phi kinh tế và những lợi ích mang tính động. Lý
thuyết về hợp tác kinh tế khu vực cho thấy một trong những động cơ chính của việc khởi x-
Đinh Thị Việt Thu - Anh 8, K38C, Đại học Ngoại Thơng - 12 -