THÀNH TỰU HẠN CHẾ VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM
TRONG LÃNH ĐẠO XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA
ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP ĐỨC TỪ 1996 ĐẾN 2005
2.1. Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong xoá đói giảm nghèo của
Đảng bộ huyện Hiệp Đức từ 1996 đến 2005
2.1.1. Thành tựu và nguyên nhân
- Về thành tựu:
Về chính sách hỗ trợ công cụ và đất sản xuất cho người nghèo: Đã giao đất,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 7334 hộ với diện tích 25.145ha. Chính
sách ưu đãi đất đai đối với người có công được thực hiện đúng theo Quyết định số
1150 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh, cấp đất cho 58 hộ với 5800m
2
. Ngoài ra còn thực
hiện miến, giảm thuế sử dụng đất với đối tượng chính sách và đói nghèo.
Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở: Đã đầu tư 1,2 tỉ đồng, xoá 284 nhà
tạm, 508 triệu đồng xây dựng 46 nhà tình nghĩa, 106 triệu đồng hỗ trợ xây 94 nhà
cho đối tượng xã hội. Hỗ trợ 5610 tấm lợp làm nhà cho 187 hộ ở 2 xã vùng cao; hỗ
trợ di dời vùng sạt lở cho 173 hộ với số tiền 259,5 triệu đồng.
Chính sách hỗ trợ về y tế: Đã hỗ trợ 2,79 tỉ đồng để mua 55.933 thẻ bảo hiểm
y tế cấp cho người nghèo, người già neo đơn, trẻ em đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi,
người 90 tuổi trở lên. Đối với vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số được khám
chữa bệnh miễn phí. 11/11 xã có trạm y tế, 100% thôn có nhân viên y tế.
Chính sách hỗ trợ về giáo dục: Tổng kinh phí đầu tư hỗ trợ cho giáo dục
(không kể xây dựng cơ bản) là 3,9 tỉ đồng để cấp sách vở, dụng cụ học tập, cấp học
bổng cho học sinh nghèo vượt khó… Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ dạy
và học, nâng tỉ lệ phòng học kiên cố lên 314 phòng, đạt 100%. Đã hoàn thành phổ
cập giáo dục trung học cơ sở ở 7/11 xã, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên đạt 98,3%.
Trình độ dân trí được nâng cao; bình quân 3,69 người dân có 1 người đi học,
99,1% số dân biết chữ.
Chính sách an sinh xã hội, trợ giúp các đối tượng khó khăn: Giải quyết cứu trợ
đột xuất như thiên tại, bão lụt, hạn hán cho 7.916 hộ với số lượng 1285 tấn gạo, chi
nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi hiệu quả cao đến người dân, hướng dẫn và
triển khai áp dụng nhiều tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đầu tư khôi phục và phát
triển một số ngành nghề như may đo, chế biến nông sản, cơ khí gia dụng nhỏ…
Đến năm 2005, cơ cấu kinh tế đã có chuyển biến rõ nét. Nông nghiệp: 59%, công
nghiệp: 11%, thương mại dịch vụ 30%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,8%/năm.
Bình quân thu nhập đầu người đạt 202USD/người/năm. Cơ cấu lao động chuyển
dịch khá rõ: lao động nông nghiệp từ 91,6% xuống còn 86,3%, lao động phi nông
nghiệp từ 8,4% tăng lên 13,7% [21, 5].
Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác XĐGN: Hàng năm chi từ 15 –
20 triệu đồng tổ chức các lớp tập huấn về công tác XĐGN với 120 lượt người tham
gia. Mở 3 lớp tập huấn tại huyện về chương trình 135, chương trình XĐGN, với
145 học viên tham gia. Đồng thời cử nhiều cán bộ tham gia tập huấn và nghiên cứu
học tập mô hình do Tỉnh tổ chức.
Dự án định canh, định cư, tái định cư và di dời dân lập vùng kinh tế mới ở các
xã nghèo: Với nhiều giải pháp đồng bộ, lồng ghép các chương trình đầu tư, thực
hiện giao đất, khoán rừng đến hộ, quy vùng nương rẫy, khai hoang, mở rộng diện
tích trồng lúa nước, xây dựng nhà ở, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất… đến nay có
598 hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã được định canh định cư (đạt 100%) di dời 310
hộ dân trong diện sạt lở, quy hoạch 1 vùng kinh tế mới với 50 hộ tình nguyện di
dời.
Như vậy, qua 9 năm thực hiện XĐGN, đã mang lại hiệu quả thiết thực, giảm tỉ
lệ hộ đói nghèo từ 45,64% năm 1995 xuống còn 13% năm 2005.
- Nguyên nhân của những thành tựu:
Một là, Đảng bộ huyện Hiệp Đức với nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, vai trò của
XĐGN đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp, với nhiều giải pháp đồng bộ, nhiều
quyết sách sát đúng với đặc điểm tự nhiên và xã hội của Huyện.
Ngay trong bước đầu triển khai thực hiện XĐGN ở huyện, Nghị quyết của
Huyện uỷ đã xác định: “Dân là gốc, mục tiêu của Đảng là dân giàu, nước mạnh, vì
thế từng ngành, từng cấp, các đoàn thể, mặt trận phải đặt vị trí, trách nhiệm công
việc của mình gắn liền với chương trình XĐGN, xem đó là nhiệm vụ trung tâm,
mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khôi phục và phát triển các làng nghề
truyền thống ở cơ sở. Đồng thời triển khai thực hiện tốt các chương trình về định
canh định cư, chương trình phát triển y tế, giáo dục, văn hoá- thông tin cơ sở;
chương trình 135, 134, 120…
Bốn là, kết hợp tốt giữa phát huy nội lực và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài
để phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện mục tiêu XĐGN.
Năm là, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, phát huy cao độ
tính tích cực, tự giác, nỗ lực vươn lên của chính đối tượng đói nghèo. Đồng thời,
xây dựng được mối đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau trong nội bộ nhân dân
thực hiện XĐGN.
2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân
- Về hạn chế:
Một là, kinh tế có tăng trưởng nhưng chưa vững chắc; giá trị sản xuất trên đơn
vị diện tích đạt thấp. Quan hệ sản xuất ở nông thôn có đổi mới nhưng còn chậm.
Kinh tế tập thể chưa phát triển mạnh, kinh tế trang trại, kinh tế vườn còn thiếu
nguồn lực đầu tư nên chưa phát triển tương xứng với tiềm năng đất đai, lao động
của huyện. Năng suất, chất lượng cây trồng, con vật nuôi có nâng lên nhưng chưa
đạt đúng yêu cầu đề ra; tỉ suất hàng hoá, hiệu quả kinh tế của nông sản thấp; lợi
nhuận mang lại từ sản xuất nông nghiệp còn hạn chế. Công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại, dịch vụ có phát triển nhưng tốc độ chậm, quy mô nhỏ. Cơ cấu
lao động trong nông nghiệp vẫn còn cao, trình độ lao động còn thấp. Thực trạng
trên làm hạn chế kết quả công tác XĐGN ở huyện. Biểu hiện cụ thể nhất là thu
nhập bình quần đầu người còn thấp (202 USD/người/ năm (2005)) chưa vững chắc,
có nhiều nguy cơ tái nghèo (so với chuẩn nghèo đói mới).
Hai là, tuy được quan tâm đầu tư nhưng kết cấu hạ tầng phục vụ cho các xã
nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số vẫn còn thấp kém, nhất là về giao
thông, thuỷ lợi, điện thắp sáng. Đến năm 2005 vẫn còn 15% số hộ gia đình chưa
được dùng điện thắp sáng; bê tông hoá đường nông thôn mới đạt 30% so với yêu
cầu, diện tích chủ động nước tưới tiêu mới đạt 57%.
Ba là, tỉ lệ số hội đói nghèo tuy giảm nhanh nhưng so với mặt bằng chung của