CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG KẾT HỢP SỨC MẠNH
DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC TỪ 1965 ĐẾN 1973
1.1. KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI LÀ YÊU CẦU
KHÁCH QUAN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
1.1.1. Lý luận Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại
Chủ nghĩa Mác ra đời là một thành tựu vĩ đại của nhân loại, là vũ khí lý luận
khoa học và cách mạng soi đường để giai cấp vô sản và các dân tộc trên thế giới
vươn lên tự giải phóng mình.
Chủ nghĩa Mác đã khẳng định: Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, giai
cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền và tự mình trở thành dân
tộc. Nhưng sức mạnh đấu tranh của các lực lượng cách mạng ấy lại không bao giờ
được tự giới hạn mình trong phạm vi dân tộc, mà cần phải được đặt trong mối liên
hệ quốc tế, theo tinh thần “vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”. Mặt khác, giai cấp
vô sản mang bản chất quốc tế, đó là cơ sở khách quan của sự liên minh đoàn kết
chiến đấu giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở tất cả các quốc gia dân tộc,
theo quan điểm kết hợp SMDT với SMTĐ tạo thành sức mạnh vô địch chiến thắng
chủ nghĩa tư bản.
Kế tục sự nghiệp của Mác- Ăng ghen, V.I.Lê nin là Người hoạt động trong
thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, khi hệ thống thuộc
địa của chúng đã bao trùm cả thế giới và khi phong trào giải phóng dân tộc đã
bắt đầu được khơi dậy. Trong điều kiện ấy, Lê nin đã phát triển khẩu hiệu chiến
lược của Mác- Ăng ghen thành: “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp
bức, đoàn kết lại”.
Lê nin đã chỉ ra: trong thời đại ngày nay, sự nghiệp đấu tranh đánh đổ chủ
nghĩa đế quốc chỉ có thể giành được thắng lợi bằng sự kết hợp chặt chẽ cách mạng
vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa với cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa và phụ thuộc. Đồng thời cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa
cũng chỉ có thể nổ ra và giành thắng lợi khi có sự hỗ trợ, phối hợp của cách mạng
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Vì vậy, cách mạng vô sản ở
phải gắn với vấn đề giai cấp, cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn liền với cách
mạng vô sản. Vấn đề giải phóng thuộc địa trở thành một vấn đề quốc tế, không chỉ
đối với nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc mà cả với nhân dân chính quốc.
Tuy nhiên, khi gắn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng thế giới, Hồ
Chí Minh vẫn nhấn mạnh đến những mặt riêng về lịch sử- xã hội, kinh tế của mỗi
cuộc cách mạng, những đặc điểm riêng giữa phương Đông và phương Tây để vạch
ra chiến lược đấu tranh cho phù hợp. Trong đó, Người chú ý khai thác những điểm
riêng của mỗi dân tộc mà không trái với đường lối chung của cách mạng thế giới.
Cuộc đấu tranh của quần chúng lao động trong thời đại đế quốc chủ nghĩa dù diễn ra
dưới các hình thức khác nhau nhưng đều phải nằm trong quỹ đạo cách mạng vô sản,
đều nhằm vào mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp “chỉ có giải phóng
giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có
thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” [31, tr.416].
Cách mạng vô sản phải biết kết hợp cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp với
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thì mới có thể thắng lợi. Tuy nhiên, khi chỉ đạo
thực hiện ở mỗi nước lại phải rất linh hoạt. Theo Hồ Chí Minh cách mạng muốn
thành công trước hết phải dựa vào những điều kiện cụ thể của dân tộc mình để làm
cơ sở kết hợp phát huy sức mạnh của thời đại, đồng thời không được xa rời nguyên
tắc đấu tranh của cách mạng vô sản.
Đó thực chất là việc xử lý khéo léo, có hiệu quả mối quan hệ giữa vấn đề
“dân tộc” và “giai cấp”; vấn đề “dân tộc” và “quốc tế” trong từng tình hình cụ thể
của thế giới và trong nước. Xét về bản chất theo Hồ Chí Minh, cuộc cách mạng ở
các nước thuộc địa “dân tộc cách mệnh”, cũng thể hiện tính chất giai cấp rõ rệt. Đó
là cuộc đấu tranh của đông đảo nhân dân lao động mà “công nông là gốc cách
mệnh”, nhằm chống lại “cường quyền”, tức là chống lại ách áp bức của tư bản đế
quốc và bọn tay sai nhằm thiết lập chuyên chính vô sản. Mặt khác, Hồ Chí Minh
luôn luôn nhấn mạnh rằng: trong thời đại mới, mở đầu bằng cuộc cách mạng
Tháng Mười Nga (1917), cuộc “dân tộc cách mệnh” và “thế giới cách mệnh” do
“vô sản giai cấp đứng đầu đi trước” [32, tr.265, 266], có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Khẳng định sự kết hợp biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề quốc tế,
phải thông cảm tôn trọng nhau của những người cùng chung lý tưởng, khắc phục
tư tưởng sô vanh nước lớn, tránh dùng sức ép chính trị, kinh tế, ngoại giao hoặc vũ
lực trong quan hệ quốc tế.
Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin về mối quan hệ biện chứng
giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, Hồ Chí Minh khẳng định kết hợp SMDT
với SMTĐ nhưng phải dựa vào sức mình là chính. Người nói: “Một dân tộc không
tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được
độc lập” [33, tr.522]. Theo Người, “muốn người ta giúp cho thì trước hết mình
phải tự giúp lấy mình đã” [32, tr.293] và “phải coi cuộc đấu tranh của bạn cũng
như cuộc đấu tranh của ta..., giúp bạn là tự giúp mình” [31,tr.18].
Như vậy, kết hợp SMDT với SMTĐ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế
thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lê nin trong hoàn cảnh mới
của cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội. Nó có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn to lớn, là những nguyên tắc quan trọng cho Đảng, Nhà nước ta xác định
đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn, đồng thời là phương hướng lớn
của cách mạng Việt Nam được thể hiện sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước.
1.1.2. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ đòi hỏi phải kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Sau Hội nghị Giơnevơ (1954), đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, với
hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng, chuyển sang
thực hiện cách mạng XHCN. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng DTDCND. Tuy
nhiệm vụ cách mạng ở hai miền thuộc hai chiến lược khác nhau, nhưng cùng một
mục tiêu là thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước đi lên CNXH, cho nên hai
nhiệm vụ có mối quan hệ khăng khít với nhau, ảnh hưởng và thúc đẩy nhau cùng
phát triển. Miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH giữ vai trò quyết định nhất của sự
nghiệp cách mạng ở nước ta và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Miền
Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đánh đổ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Thông
qua thực hiện nhiệm vụ mỗi miền mà góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của cả
nước là hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên CNXH.
Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, tình hình quốc tế lúc này không có nhiều
thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Cụ thể là trước hành động mở rộng chiến tranh
và trực tiếp đưa quân Mỹ vào xâm lược Việt Nam, thái độ của Liên Xô là vừa lên
án Mỹ và tiếp tục viện trợ cho Việt Nam, nhưng lo ngại Việt Nam đánh lớn sẽ lôi
kéo Liên Xô vào cuộc chiến tranh sẽ ảnh hưởng đến hòa hoãn Xô - Mỹ. Vì Vậy,
Liên Xô tuy có viện trợ quân sự cho ta, nhưng hạn chế trang bị vũ khí tấn công
chiến lược kể cả về số lượng, chất lượng.
Thái độ của Trung Quốc trước những cuộc tấn công ồ ạt của Mỹ vào Việt
Nam cũng rất phức tạp. Một mặt Trung Quốc tuyên bố là “hậu phương vững chắc”
của Việt Nam, nhưng lại nhắc Việt Nam phải “tự lực cánh sinh”; Trung Quốc nói
sẽ ủng hộ Việt Nam “đánh Mỹ đến cùng”, song không muốn Việt Nam đánh lớn,
khuyên miền Bắc chỉ ủng hộ chứ không nên giúp miền Nam... Mặt khác, những
người lãnh đạo Bắc Kinh muốn Việt Nam đứng về phía Trung Quốc chống lại Liên
Xô. Nhiều lần Trung Quốc yêu cầu Đảng ta phải “tỏ rõ lập trường” chống “xét lại”
và cho rằng chống Mỹ thì phải đi cùng với chống “xét lại”, vì “xét lại” cản trở
quan hệ Trung – Việt. Tuy nhiên, đòi hỏi ấy không được Việt Nam đáp ứng.
Về quan hệ của Trung Quốc với hai nước Lào và Cămpuchia, thời gian này
cũng có những vấn đề gây khó khăn cho Mặt trận đoàn kết ba nước Đông Dương.
Đối với Cămpuchia, sau những chuyến đi thăm Trung Quốc của lãnh tụ
“Khơmeđỏ” (Pôn pốt) năm 1965 và 1967 đã gây cho lực lượng cách mạng của
Cămpuchia bị chia rẽ và gây khó khăn cho Việt Nam trong việc tranh thủ Xihanúc
cho phép lập các căn cứ hậu cần ở vùng biên giới. Tuy vậy, bằng chính sách ngoại
giao độc lập, Việt Nam vẫn giữ quan hệ tốt với Xihanúc (ngày13-6-1967 hai bên
chính thức lập quan hệ ngoại giao). Còn ở Lào, mặc dù có nhiều thế lực quốc tế cố
tình chia rẽ, nhưng bộ đội tình nguyện Việt Nam và lực lượng Pathét Lào vẫn luôn
đoàn kết, sát cánh chiến đấu bảo vệ hành lang phía Tây của miền Bắc và giữ vững
giao thông trên con đường vận tải chiến lược Tây Trường Sơn.
Ngoài những tác động bởi các mối quan hệ của các nước lớn, có ảnh hưởng
trực tiếp đến cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta đã đề cập trên đây. Nhưng
bên cạnh đó còn có nhiều quốc gia, nhiều tổ chức chính trị trên thế giới bày tỏ mối
với SMTĐ, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của sự kết hợp các yếu tố về kinh tế,
quân sự, chính trị, ngoại giao... để đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Nếu như
không có sự kết hợp giữa SMDT với SMTĐ, sức mạnh của nội lực với sức mạnh
ngoại lực thì chúng ta khó có thể thắng giặc Mỹ xâm lược. Ngay như B.Đavitson là
một sĩ quan tình báo cao cấp trong quân đội Mỹ đã thừa nhận: “Đây là một cuộc
chiến tranh tổng lực. Cuộc chiến tranh này động viên toàn thể mọi người, do các
nhà cách mạng kiểm soát. Nó sử dụng tuyệt đối mọi hình thức sức mạnh có thể có”
[19, tr.39].
Như vậy, kết hợp SMDT với SMTĐ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước nói chung và trong những năm 1965 đến 1973 nói riêng là yêu cầu khách quan
của cách mạng Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đòi hỏi. Chỉ có sự kết hợp ấy, chúng ta mới tạo nên sức mạnh tổng hợp
của dân tộc ta chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Tuy nhiên, kết hợp SMDT với
SMTĐ như thế nào đòi hỏi Đảng ta phải có chủ trương và sự chỉ đạo đúng đắn mới có
thể tạo nên sức mạnh đè bẹp quân thù.
1.2. QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC
MẠNH THỜI ĐẠI TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1965 ĐẾN 1973
1.2.1. Chủ trương của Đảng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại
Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ tuy đẩy lên mức cao nhưng vẫn
không phát huy hiệu quả. Chính quyền Sài Gòn suy yếu, khủng hoảng triền miên
đang trên đà sụp đổ. Mỹ đứng trước sự lựa chọn: cam chịu thất bại, bỏ mặc chính
quyền Sài Gòn hoặc đưa quân Mỹ vào trực tiếp chiến đấu. Cân nhắc lợi ích nước
Mỹ, lợi ích chiến lược toàn cầu, tính toán so sánh lực lượng giữa hai bên và trên
quốc tế, Mỹ tin chắc có thể thắng nhanh và quyết định trực tiếp tham chiến. Thực
hiện ý đồ đó, tháng 2-1965 đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không
quân, hải quân ở miền Bắc để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam,
phá hoại công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và làm lung lay quyết tâm chống
Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đồng thời, Mỹ lôi kéo một số nước tham chiến
hoặc hỗ trợ hậu cần nhằm hỗ trợ Mỹ về quân sự, chia sẻ với Mỹ gánh nặng về chính
mạnh chiến thắng của chúng ta chính là sức mạnh của ngọn cờ ĐLDT và CNXH, do
Đảng đề ra từ khi mới thành lập, của đường lối tiến hành đồng thời và phối hợp chặt
chẽ hai chiến lược cách mạng ở hai miền. Đường lối đó là sự kết hợp khéo léo
những yêu cầu cơ bản của nhân dân ta với những mục tiêu của thời đại. Vì thế:
“cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền càng được sự
ủng hộ tích cực và sự giúp đỡ mạnh mẽ của các nước XHCN, được sự đồng tình và
ủng hộ rộng rãi của các nước dân tộc chủ nghĩa và của nhân dân yêu chuộng hòa
bình, kể cả nhân dân Mỹ” [35, tr.16].
Mặt khác, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra
trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, trong hoàn cảnh đó, Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh xem xét tìm cách xử lý thích hợp những
nhân tố thuận lợi, hạn chế những khó khăn, phức tạp để vạch ra đường lối đối
ngoại linh hoạt mở ra khả năng tận dụng tối đa sức mạnh thời đại. Phương châm
trong đường lối quốc tế của Đảng ta là “đoàn kết rộng rãi với các lực lượng yêu
chuộng hòa bình trên tinh thần giữ vững độc lập tự chủ”. Có độc lập tự chủ mới
mở rộng được đoàn kết quốc tế rộng rãi.
Từ thực tế đường lối kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đã đề ra phương châm
đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, song Đảng ta cũng chỉ rõ cần phải cố
gắng đến cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ giành
thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
Do vậy, “Chúng ta quyết động viên lực lượng của nhân dân cả nước tiến hành đấu
tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, dựa vào sức mình là chính, đồng thời
tranh thủ tới mức cao nhất sự đồng tình, ủng hộ của phe XHCN và của nhân dân
thế giới” [35,tr.22]. Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) Đảng ta nhấn
mạnh: “Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, chúng ta cần nắm vững
phương châm dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời chúng ta hết sức tranh
thủ sự đồng tình, ủng hộ và viện trợ quốc tế, vì đó là một nhân tố quan trọng góp
phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân ta” [35, tr.23].
Như vậy, ngay từ khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam,
Đảng ta đã nhận thức được sự kết hợp SMDT với SMTĐ là một nhiệm vụ quan
chiến lược trong “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, cộng với sự thất bại cơ bản của
chúng trong chiến tranh phá hoại miền Bắc “là một thất bại to lớn về chiến lược của
đế quốc Mỹ trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam” [35, tr.62].
Trên cơ sở phân tích tình hình so sánh lực lượng địch, ta trong nước và trên
thế giới, Bộ Chính trị chủ trương tiến hành “tổng công kích và tổng khởi nghĩa”,
“chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời
kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Mục tiêu chiến lược của “tổng công
kích và tổng khởi nghĩa” là nhằm tiêu diệt và làm tan rã tuyệt đại bộ phận quân
ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, tiêu
diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân
Mỹ không thực hiện được các nhiệm vụ chính trị và quân sự của chúng ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam,
chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc” [28, tr.465]. Đồng thời,
Đảng ta đã xác định “Cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai
đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất mãnh liệt và phức tạp”[35, tr.71].
Để thực hiện thắng lợi chủ trương đó, Đảng xác định phương châm đấu
tranh phải thực hiện đến mức cao nhất các mặt kết hợp và phối hợp sau đây:
Một là, Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngụy vận, địch
vận, thực hiện cho kỳ được khẩu hiệu “công nông binh liên hiệp”.
Hai là, Kết hợp hoạt động ở cả ba vùng chiến lược: thành thị, nông thôn, đồng
bằng và rừng núi, đặc biệt chú ý kết hợp chặt chẽ và khôn khéo hoạt động trong các
thành thị với hoạt động ở các vùng nông thôn kế cận. Phối hợp nhịp nhàng kế hoạch
hành động trong phạm vi từng vùng một và trên phạm vi toàn chiến trường...
Ba là, Kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự, tiến công chính trị trong nước với
tiến công ngoại giao.
Phối hợp cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và
Cămpuchia, thực hiện sự giúp đỡ nhau một cách thích hợp làm cho địch không thể
sử dụng được thế lực phản động ở Lào và Campuchia để chống lại phong trào cách
mạng ở Việt Nam, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ mạnh mẽ và tích cực của các
nước XHCN anh em và của phong trào nhân dân thế giới chống Mỹ xâm lược.
kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “phi Mỹ hóa” chiến tranh
của chúng, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho Nguỵ phải suy sụp [35,
tr.134, 135].
Bộ chính trị cũng chỉ rõ: các cấp, các địa phương và lực lượng vũ trang cần
kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh quân sự, kết hợp với xây dựng và củng cố lực
lượng chính trị; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với tiến công chính trị
nhằm giữ và tạo thế cho ta.
Tiếp đó, tháng 1-1970, Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lao động Việt Nam đã họp tại Hà Nội, nhấn mạnh nhiệm vụ cho cách mạng
miền Nam trong năm 1970 và những năm tiếp theo là: “Động viên sự nỗ lực cao
nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên cả hai miền... đẩy mạnh tiến công
quân sự và tiến công chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao...” [7, tr. 140, 141].
Để tháo gỡ khó khăn tiếp tục đưa cách mạng miền Nam phát triển tiến tới giành
thắng lợi quyết định, chủ trương của Đảng thể hiện trong các Hội nghị của Bộ chính
trị, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng giai đoạn này là: Đẩy mạnh xây dựng
lực lượng cách mạng về mọi mặt, nhất là lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang. Đẩy
mạnh sự kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao, trong
đó lấy những phát huy những yếu tố bên trong là nhân tố quyết định đó là chủ trương
nhất quán của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước.
Trong kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại
giao, đấu tranh quân sự là hình thức chủ yếu trực tiếp quyết định trong quá trình tiến
hành cuộc kháng chiến. Đây là quy luật cơ bản trong chiến tranh nhân dân chống đế
quốc Mỹ xâm lược. Trong chiến tranh, đây là lĩnh vực chủ yếu, giữ địa vị chi phối
và được kết hợp với các lĩnh vực đấu tranh khác như chính trị, kinh tế, ngoại giao,
tâm lý... nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng địch. Trong thời kỳ tiến
hành chiến tranh, đây là lĩnh vực đấu tranh cần thiết tạo cơ sở để kết hợp SMTĐ
nhằm tạo nên thế và lực có lợi hơn địch, giành chủ động trong mọi tình huống.
Đấu tranh quân sự là hình thức đấu tranh đặc trưng của chiến tranh, nó giữ
vai trò trực tiếp quyết định đến việc tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh
ngày cho quần chúng, tiến lên đòi những yêu sách chính trị cao hơn, làm thất bại
mọi âm mưu, chính sách của chúng.
Thắng lợi của đấu tranh chính trị cùng với đấu tranh quân sự thu hẹp vùng
chiếm đóng, vùng tạm chiếm của địch, mở rộng vùng giải phóng của ta. Đấu tranh