Tìm hiểu giai đoạn thực hiện kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản của kiểm toán Nhà nước - Pdf 63

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát trển của đất nước sau hơn mười lăm năm đổi mới, việc
đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) các công trình phục vụ quốc tế dân sinh, thiết lập
cơ sở hạ tầng, tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, góp phần
giải quyết những nhiệm vụ kinh tế xã hội có tầm quan trọng chiến lược của mỗi
giai đoạn phát triển kinh tế đất nước đang là yêu cầu cấp bách đặt ra trước mắt
cũng như lâu dài đối với toàn Đảng toàn dân, nó phù hợp với nhu cầu, xu hướng
phát phát triển của khu vực và thế giới. Do đó việc đầu tư các công, các dự án
trọng điểm để phát triển kinh tế của đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu tiến kịp
với sự phát triển của khu vực là các hoạt động kinh tế cơ bản của mỗi quốc gia.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung huy động các nguồn
vốn khác nhau để đầu tư cho xây dựng như vốn vay nước ngoài, vốn ngân sách,
các nguồn tài trợ…v.v. nhằm thúc đẩy các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Song vần đề đặt ra là đầu tư xây dựng cơ bản như thế nào để đem lại hiệu quả kinh
tế cao, việc sử dụng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một vấn đề được nhiều
nhà quản lý quan tâm và còn nhiều điều vướng mắc cần phải được tháo gỡ và được
kiểm tra, kiểm soát một cách chặt chẽ có quy mô và khoa học mới phát huy hiệu
quả của nó.
Ở nước ta kiểm toán Nhà nước được thành lập (năm 1994) là một công cụ
quản lý vĩ mô của Nhà nước nhằm mục tiêu thiết lập trật tự, kỷ cương để làm lành
mạnh nền tài chính quốc gia. Trong những năm qua, kiểm toán Nhà nước đã thực
hiện được hàng nghìn cuộc kiểm toán tại các địa phương, các Bộ, các ngành, các tổ
chức xã hội, các doanh nghiệp Nhà nước... Thông qua các hoạt động kiểm toán của
mình kiểm toán Nhà nước đã phát hiện thực trạng về tình hình phát triển kinh tế-xã
hội, thu chi ngân sách Nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của các tỉnh,
thành phố và các doanh nghiệp. Đặc biệt là kiểm toán Nhà nước đã đi sâu phát hiện
tình hình quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước trong các lĩnh vực quan trọng,
trong đó có lĩnh vực XDCB. Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện, nhận xét, đánh giá
1
tình hình đầu tư XDCB cả những thực tiễn tích cực và những hạn chế của nó. Có
thể nói rằng bằng sự hoạt động của mình kiểm toán Nhà nước đã có những đóng

Công trình xây dựng là các sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với đất
(bao gồm cả mặt nước, mặy biển, và thềm lục địa) được tạo thành bởi vật liệu xây
dựng, thiết bị và lao động (kể cả lao động trực tiếp, lao động gián tiếp - lao động
phục vụ thi công và lao động quản lý).
Công trình XDCB có thể bao gồm một hạng mục hoặc nhiều công trình nằm
trong một dây truyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh để tạo ra sản phẩm hoặc lao
vụ đã được chỉ định trong dự án.
Trong nội dung đề tài này, công trình đầu tư XDCB đựoc hiểu là những
công trình xây dựng hình thành từ các dự án đầu tư từ các nguồn ngân sách của
Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước dùng để đầu tư đối với các dự án xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế , các cơ sở sản xuất tạo việc làm, các dự án đầu tư quan
trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ (điện, xi măng, sắt thép, cấp thoát nước...),
vốn thuộc các khoản vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế
dành cho đầu tư phát triển (kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA), vốn thuộc
quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ khác của Nhà nước dùng cho đầu tư phát
triển, vốn tín dụng thương mại, vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước (vốn
khầu hao cơ bản, vốn tích luỹ từ lợi nhuận sau thuế, vốn tự huy động), vốn hợp tác
liên doanh với nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước, vốn do chính quyền
cấp tỉnh và cấp huyện, vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và
các cơ quan nước ngoài khác được phép xây dựng trên đất Việt Nam được quản lý
theo hiệp định hoặc thoả thuận đã được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chính
phủ các nước hoặc các tổ chức, cơ quan nước ngoài.....
Những công trình có một số đặc điểm cơ bản sau:
3
Những sản phẩm xây dựng cơ bản là kết quả của ngành công nghiệp đặc biệt
(công nghiệp xây lắp) bao gồm nhiều phương thức thi công khác nhau. Sản phẩm
xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc...có quy mô lớn, kết cấu phức
tạp mang tính đơn chiếc, giá trị lớn, thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài,thường
phải thi công ngoài trời, trên mặt nước, dưới đáy nước, trong hầm sâu, gắn liền với
một vị trí địa lý xác định, trong khi lực lượng thi công luôn luôn phải di động theo

những ý kiến sát thực về mức độ trung thực và hợp lý của các quá trình liên quan
đến công tác đầu tư (giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện và kết thúc đầu
tư) và báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành.
Để hoạt động kiểm toán có hiệu quả, tiết kiệm và thu được những bằng
chứng sát thực trong một thời gian đã định trước thì yêu cầu phải có một quy trình
kiểm toán cụ thể, chi tiết. Đặc biệt trong quá trình thực hiện kiểm toán, đây là quá
trình yêu cầu các kiểm toán viên sử dụng nhiều những phương pháp kỹ thuật
nghiệp vụ để thực hiện công tác kiểm toán, do đó cần có quy trình cụ thể mang tính
khoa học để các kiểm toán viên dễ dàng phối hợp với nhau một cách chặt chẽ và có
hiệu quả và cùng theo các mục tiêu, chương trình và phạm vi kiểm toán. Kiểm toán
viên phải có sự phân công phân nhiệm chức năng nhiệm vụ cụ thể để biết được
phải thực hiện những công việc gì, với ai...
3. Mục đích và yêu cầu kiểm toán báo cáo quyết toán các dự án đầu tư XDCB
của kiểm toán Nhà nước.
Kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư XDCB có những đặc điểm khác nhau
so với kiểm toán các khía cạnh khác như kiểm toán doanh nghiệp Nhà nước hoặc
kiểm toán ngân sách Nhà nước, vì chu kỳ đầu tư dài, chu kỳ của một dự án đầu tư
XDCB bao gồm nhiều giai đoạn, để đưa dự án từ một ý tưởng thành hiện thực,
đồng thời yêu cầu, nguyên tắc cũng như chu trình quản lý dự án đầu tư XDCB
cũng có nhiều điểm khác biệt.
Mục đích của kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu tư XDCB đó là:
Kiểm toán Nhà nước kiểm toán và xác định các dự án đầu tư XDCB được
thực hiện có tuân thủ theo đúng những nguyên tắc, thủ tục quy định của Nhà nước
về quản lý dự án đầu tư XDCB hay không. Kiểm toán Nhà nước kiểm tra soát xét
5
và xác định dự án đầu tư XDCB có được tiến hành theo đúng trình tự từ khi có ý
đồ xây dựng đến việc khảo sát nghiên cứu luận chứng và tính khả thi của dự án;
thiết kế và tính toán kỹ thuật công trình, việc cung ứng, tổ chức đấu thầu, đến xây
dựng công trình cho đến khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao công trình...Ngoài ra
kiểm toán Nhà nước xem xét và kiểm tra sự giám sát của các bộ phận, tổ chức có

và kinh nghiệm thực tế đầu tư XDCB và quản lý đầu tư XDCB. Đây là điều kiện
thuận lợi cho kiểm toán viên trong quá trình tìm hiểu và thực hiện kiểm toán đơn vị
được kiểm toán.
II. THỰC HIỆN KIỂM TOÁN BÁO CÁO QUYẾT TOÁN TRONG QUY TRÌNH
KIỂM TOÁN XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC.
Đối với việc thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán các dự án đầu tư XDBC
kiểm toán Nhà nước thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu sau: Kiểm toán tuân thủ pháp
luật, chế độ quản lý đầu tư và xây dựng; Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư
công trình hoàn thành.
A. KIỂM TOÁN TUÂN THỦ LUẬT PHÁP, CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ VÀ
XÂY DỰNG.
1. Kiểm toán tuân thủ giai đoạn chuản bị đầu tư.
1.1. Mục tiêu và rủi ro giai đoạn kiểm toán tuân thủ giai đoạn chuẩn bị đầu
tư.
Mục tiêu của kiểm toán Nhà nước ở giai đoạn này đó là phải xác minh và
đánh giá tình hình chấp hành chính sách chế độ quản lý đầu tư xây dựng của dự án
đầu tư về ưu điểm, khuyết nhược điểm và hiệu quả kinh tế, tài chính, xã hội... của
dự án cũng như tính đúng đắn của các quyết định của các cấp có thẩm quyền.
Kiểm toán viên căn cứ vào các văn bản pháp lý như: quy chế quản lý đầu tư
và xây dựng, quy chế đấu thầu, quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) (đối với công trình xây dựng cơ bản sử dụng vốn hỗ trợ
của nước ngoài); Các thông tư liên bộ và các thông tư của bộ ngành có liên quan
hướng dẫn quy chế quản lý đầu tư, xây dựng và quy chế đấu thầu; Các quyết định
của cấp có thẩm quyền cho phép tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư, quyết định
giao nhiệm vụ chủ đầu tư và thành lập ban quản lý dự án (nếu có); Kế hoạch năm
về chuẩn bị đầu tư của cấp có thẩm quyền giao; Hợp đồng điều tra, khảo sát, tư vấn
7
lập báo cáo đầu tư và thẩm định báo cáo đầu tư (báo cáo nghiên cứu tièn khả thi và
báo cáo nghiên cứu khả thi); Quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả
đấu thầu trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư (nếu có), quyết định thành lập và giấy

kiểm toán Nhà nước còn thực hiện các thủ tục trong phương pháp điều tra để tìm
hiểu và thu thập thông tin cần thiết như việc thực hiện phỏng vấn những người có
thẩm quyền hoặc cá nhân có liên quan về: Quy mô dự án, kết cấu chính, công suất,
tổng số vốn đầu tư, Bộ chủ quản, ban quản lý dự án,..tứ đó tổng hợp, phản ánh, loại
trừ, đưa ra những nhận xét và nắm được việc thực hiện đầu tư có đúng với yêu cầu
chuẩn bị đầu tư không, nếu sai do đâu.
2. Kiểm toán tuân thủ giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc dự án đầu tư
đưa vào khai thác sử dụng.
2.1. Mục tiêu và rủi ro kiểm toán giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc dự án
đưa vào khai thác sử dụng.
Đối với giai đoạn này, kiểm toán Nhà nước căn cứ vào các văn bản pháp quy
như: Báo cáo nghiên cứu khả thi và quyết định đầu tư; Các quyết định giâo đất,
quyết định phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán hoặc thiết kế kỹ thuật thi
công và tổng dự toán, quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu kèm theo báo cáo
định giá xếp hạng nhà thầu của chủ đầu tư (trường hợp đấu thầu), quyết định chỉ
định thầu hoặc công trình tự làm; Dự toán mua sắm tài sản và chi phí kiến thiết cơ
bản khác được phê duyệt; Giấy phép xây dựng, giấy phép khai thác tài nguyên
(trường hợp dự án đầu tư có nhu cầu khai thác tài nguyên), giấy phép kinh doanh
hành nghề của đơn vị nhận thầu (trường hợp chỉ định thầu); Hợp đồng kinh tế giao
nhận thầu xây lắp, mua sắm thiết bị và chi phí kiến thiết cơ bản khác; Hồ sơ thiết
kế bản vẽ thi công và dự toán hạng mục được phê duyệt, hồ sơ nghiệm thu công
trình gồm: hồ sơ nghiệm thu trong giai đoạn xây lắp công trình, hồ sơ nghiệm thu
khi hoàn thành hạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình... Để xác minh tính
hợp pháp, hợp lệ của các quyết định, các văn bản có liên quan cũng như trình tự
thủ tục thực hiện các bước trong giai đoạn này.
Những rủi ro kiểm toán viên Nhà nước thường gặp trong quá trình kiểm toán
giai đoạn này là: Nội dung báo cáo đầu tư (tiền khả thi và khả thi) sơ sài, không
9
cung cấp đủ những thông tin cần thiết, không tuân thủ đầy đủ theo quy định (do bộ
kế hoạch và đầu tư hướng dẫn); Nội dung hồ sơ thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán

Kiểm tra nội dung các văn bản thủ tục đầu tư về yêu cầu, mục lục, chỉ tiêu,
mẫu biểu... theo quy định. Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc so sánh về quy mô,
mức độ, chỉ tiêu với các văn bản thủ tục khác của dự án đầu tư đã ra trước có tính
pháp lý cao hơn. Cụ thể như là: thiết kế bản vẽ thi công phù hợp với thiết kế kỹ
thuật, dự toán phải phù hợp với tổng mức vốn đầu tư công trình, hợp đồng thi công
phải phù hợp với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và các căn cứ thủ tục đầu tư của dự
án đã được duyệt: giá thầu đối với công trình đấu thầu hoặc dự toán đối với công
trình chỉ định thầu về số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách, mỹ thuật sản
phẩm, thời gian nghiệm thu bàn giao thanh toán. Có nghĩa là thiết kế kỹ thuật phải
phù hợp với chủ trương, mục tiêu đầu tư ghi trong quyết định đầu tư và thiết kế sơ
bộ trong báo cáo nghiên cứu khả thi được duyệt về: quy mô, công nghệ, công suất,
cấp công trình, mục tiêu, quy chuẩn xây dựng...
Xem xét nội dung của hồ sơ nghiệm thu, hồ sơ hoàn thành công trình. Hồ sơ
nghiệm thu phải đầy đủ các biên bản nghiệm thu từng phần, các kết quả kiểm tra
thí nghiệm khối lượng và chất lượng vật liệu, thiết bị của bộ phận công trình hoặc
toàn bộ công trình được nghệm thu; Hồ sơ hoàn thành công trình phải đầy đủ tài
liệu theo quy định của điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng.
2.3. kỹ thuật sử dụng
Trong giai đoạn này kiểm toán Nhà nước cũng áp dụng những thủ tục,
phương pháp kiểm toán tương tự như những phương pháp đã sử dụng cho giai
đoạn chuẩn bị đầu tư để thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm thực hiện mục tiêu
của mình trong giai đoạn này.
B. KIỂM TOÁN BÁO CÁO QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU TƯ CÔNG TRÌNH HOÀN
THÀNH.
1. Mục tiêu và rủi ro kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình
hoàn thành.
Báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án công trình hoàn thành theo chế độ báo
cáo tài chính bao gồm các nội dung chính như sau: vốn đầu tư thực hiện từ giai
11
đoạn chuẩn bị đầu tư đến kết thúc xây dựng công trình đưa vào khai thác sử dụng;

xảy ra tại các công trình có nguồn vốn nước ngoài, vốn huy động của địa phưong,
huy động tài sản và sức lao động của dân, các nguồn vốn của các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hoặc đơn vị sự nghiệp có thu; Nguồn thu được trong quá trình đầu
tư (bán phế liệu, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi ngân hàng,...); Nguồn vốn của cơ
quan cấp vốn hoặc ngân hàng không khớp đúng vơi số dư nguồn vốn.
Đối với kiểm toán vốn đầu tư thực hiện: Phản ánh không đúng khối lượng
XDCB hoàn thành, thường là tăng khối lượng ở những phần che khuất hoặc rất
khó khăn trong việc kiểm tra cụ thể; Tính toán sai về khối lượng xây lắp hoàn
thành quyết toán so với thiết kế, bản vẽ hoàn công sai lệch với thực tế; Tính trùng
lắp khối lượng xây lắp của công trình như: bê tông, xây, trát, mộc, nề, lát... Áp
dụng các định mức đơn giá không chính xác, thường là áp dụng các định mức và
đơn giá cao hơn quy định trong dự toán; Tính sai phụ phí xây lắp theo quy định
hoặc tính phụ phí xây lắp trên giá trị sản phẩm công nghiệp đưa vào lắp đặt; Tính
sai khối lượng vật liệu được tính chênh lệch giá do áp dụng sai định mức hoặc sai
thời điểm quy định tính chênh lệch giá... Vượt các định mức chi phí theo quy định
của dự toán, tính sai về giá trị xây lắp quyết toán, biên bản ngiệm thu phản ánh
không trung thực, có nhiều sai sót.
Mặt khác, các rủi ro thường gặp trong giai đoạn này liên quan đến chi phí
thiết bị hoàn thành nữa là: Chất lượng vật tư, thiết bị và tính năng sử dụng không
đảm bảo; Trang thiết bị, phụ tùng kèm theo thừa, thiếu, sai chủng loại, quy cách;
Đối với các trang thết bị nhập ngoại giá thành quy đổi sai tỷ giá; Thiếu thủ tục
thanh toán hoặc sai chế độ về chi phí, công tác kiểm tra hàng hoá tại cảng, cước
phí vận chuyển, chi phí bảo hành thiết bị... Phân bổ chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
bảo hành bảo dưỡng cho từng thiết bị, tài sản cố định không đúng; Thiếu chi tiết
thiết bị hoặc phụ tùng thay thế, sửa chữa, thiết bị không đúng xuất sứ, tên nước, tên
hãng sản xuất hoặc sai thông số kỹ thuật hoặc các sai sót khác trong hợp đồng giữa
các bên không chặt chẽ.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện kiểm toán nội dung này kiểm toán Nhà
nước còn gặp một số những rủi ro trong kiểm toán chi phí kiến thiết cơ bản khác
như: Chi phí kiến thiết cơ bản khác tính theo định mức tỷ lệ phần trăm bị vận dụng

thu hồi; Các khoản phải trả cho người nhận thầu có thể là khoản phải trả không có
thật (các khoản phải trả lại nguồn vốn), các khoản phải trả công nhân viên và phải
trả khác không được tách riêng mà đưa vào các khoản phải trả cho nhà cung cấp
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status