Thực trạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với công nghiệp hóa - Pdf 64

Thực trạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam
2.1. Thực trạng về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI ở Việt Nam trong
thời gian qua (từ 1988 đến nay)
2.1.1. Quá trình hình thành và hoàn thiện chính sách đối với đầu tư
trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
Từ thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn đầu tư nước ngoài hơn 20 năm qua,
đến nay có thể nói trong điều kiện của thế giới và khu vực hiện nay, đầu tư
trực tiếp nước ngoài thực sự trở thành hình thức hợp tác kih tế rất hiệu quả
đối với các nước đang phát triển.
Nhìn lại 20 năm trước, trong bối cảnh quốc tế, chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu tan vỡ, các thể lực thù địch tìm mọi cách chống phá
Việt Nam trên nhiều mặt. Thế giới có những diễn biến phức tạp của tình
hình chính trị và an ninh quốc tế, sự phục hồi chậm của nền kinh tế thế giới
và biến động của trên thị trường quốc tế… Các nước đang phát triển ở khu
vực Đông Nam Á và Đông Á thực hiện cải cách kinh tế, trở thành khu vực
năng động của thế giới.
Tình hình trong nước: Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hâu, bị tàn
phá nặng nền bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng kém phát triển, sản
xuất nhỏ, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế lâm vào
tình trạng khủng hoảng trầm trọng, cơ sở kĩ thuật lạc hậu và thiếu thốn.
Với bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để khôi phục và phát triển
kinh tế xã hội, Đảng ta đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, thực hiện công
cuộc đổi mới toàn diện, trong đó có việc hoàn thiện, nâng Điều lệ Đầu tư
năm 1977 thành Bộ luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã khẳng
định sự đúng đắn của chủ trương, đường lối mở cửa nền kinh tế của Đảng,
góp phần qan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới trong chặng
đường vừa qua.
Sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môi
trương pháp lý cao hơn để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam. Luật này đã bổ sung và chi tiết hóa các lĩnh vực cần khuyến khích kêu

Nam”. Các nội dung sửa đổi bổ sung của luật lần này đã thực sự mang lại
cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam một sự ổn định và
thônng thoáng hơn so với những quy định trước đây.
Nhằm cải thiện hơn nữa mội trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp
lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo “một sân
chơi” bình đẳng không phân biệt đối xử với các nhà đầu tư, đáp ứng yêu cầu
hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường sự quản lý của nhà nước với các hoạt
động đầu tư. Năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư có hiệu lực từ
ngày 01/07/2006 và thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích
đầu tư trong nước. sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà
nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, một bộ phận
quan trọng trong nền kinh tế. thực tế đã chứng minh việc ban hành Luật đầu
tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích cực của
tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài và Việt Nam từ năm 2006 đến nay.
Như vậy, đến nay chúng đã đã có một hệ thống luật và các văn bản dưới
luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy chưa phải hoàn chỉnh nhưng đã đẩy
đủ hơn, có tác dụng khuyến khích hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
cũng như các đối tác trong nước trong việc tham gia đầu tư. Những kế quả
2
2
đạt được trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua đã chứng
minh cho sự đúng đắn trong quá trình đổi mới các chính sách kinh tế trong
đó có chính sách đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2.1.2. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam
2.1.2.1. Về tình hình cấp giây phép đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam
Sau năm 1975, nước ta đã ban hành những điều lệ quy định về đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam để điều tiết hoạt động của các dự án đầu tư chủ yếu
từ các nước xã hội chủ nghĩa như: Liên Xô, Trung quốc. Các dự án đầu tư
lúc bấy giờ dựa trên nền tảng hợp tác giúp đỡ Việt Nam khôi phục nền kinh

tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8 tỷ USD vốn đăng ký (8494 triệu USD)
tăng 45% so với năm trước.
Từ năm 1997 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu suy giảm
nhất là đến năm 1998, 1999. Trong 3 năm 1997-1999 có 931 dự án được cấp
phép với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 13 tỷ USD nhưng vốn đăng ký năm
sau it hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ
bằng 46,8% năm 1998). Chủ yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ.
Đến năm 2000 tình hình đã có chuyển biến tốt hơn (đầu tư trực tiếp nước
ngoài có xu hướng tăng lên) nhưng số vốn đăng ký cũng đạt mức xấp xỉ năm
1992/ Cũng trong thời gian này nhiều dự án đầu tư nước ngoài được cấp
phép năm trước phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp phải
khó khăn về tài chính. Sự giảm sút này phần nào có thể do tác động của cuộc
khủng hoảng tài chính khu vực đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Để khắc phục tình hình trên, chính phủ đã xây dựng các chính sách mở
cửa đầu tư. Vì vậy hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài đã có chuyển biến rõ
nét. Điều này được thể hiện trong bảng sau
Bảng 2: Đầu tư nước ngoài được cấp phép giai đoạn 2001-2009
Đơn vị: Triệu USD
(Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư)
Qua hai bảng số liệu trên ta thấy: Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào Việt nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm. Vốn
đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2012,4 tỷ USD tăng 28% so với năm 1999,
năm 2001 tăng18,2% so với năm 2000, năm 2002 vốn đăng ký giảm chỉ
bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 tăng 6% so với năm 2002. và có xu
hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm
trước năm 2005 tăng 50,8%, năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ
lục trong 20 năm qua: 21,3 tỷ USD tăng 71% so với năm 2006 và tăng gấp
đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ khủng hoảng. Năm 2008 như
đã nêu trên, đạt 64,2tỷ USD (tăng trên 3 lần so với năm 2007)
Như vậy trong 3 năm (2006-2008) vốn FDI đămg ký đã có nhiều bước

quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước. Đièu này thể hiện trong năm
2008 quy mô vốn bình quân một dự án là 60 triệu USD/ dự án và năm 2009
là 25,6 triệu USD.
Như vậy với kết quả đạt được như trên đã đưa việt nam trỏ thành nước
đứng vị trí thứ năm ở khu vực Đông nam Á, 11 ở Châu á và đứng thứ 34 thế
giới về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Qua đó ta thấy được vai trò quan
trọng của nguồn vốn này cùng với vai trò quyết địh của các nguồn vốn trong
nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đât nước.
2.1.2.2. Tình hình tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất ( 1988-2007)
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt
động có hiệu quả đã mở rrộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn
đầu tư, nhât là từ năm 2001 trở lại đây.
Tính đến hết năm 2007 có gần 4100 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng
số vốn tăng thêm 18,9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đăng ký mới.
Thời kì 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có, số lượng doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài còn it. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ usd
trong năm năm 1991-1995 thì giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so
với năm năm trước. giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ
USD vượt 18% so với dự kiến là 6 tỷ USD tăng 69% so với 5 năm trước.
5
5
trong đó lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt quá con số 1tỷ USD bắt đầu từ
năm 2002 và từ năm 2004 đến năm 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt tren 2
tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35%
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất
công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995,
65,7% trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3 % trong thòi kỳ 2001-2005.
Trong hai gian đoạn năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1%
tổng số vốn tăng thêm. Năm 2009 có 213 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với
tổng số vốn tăng thêm là 5,09 tỷ USD bằng 98,3% so với năm 2008.

6
Hiện đã có 15 quốc gia và vùng llãnh thổ đầu tư vốn đăng ký cam kết trên
1 tỷ USD tại việt nam theo thứ tự sau:
Bảng 3: Các nước có tổng số vốn đăng ký hơn 1tỷ USD
Nguồn: Cục đâu tư nước ngoài- Bộ kế hoạch và đầu tư
Theo bảng trên ta thấy, nước đứng đầu là Hàn Quốc với 1857 dự án, vốn
đăng ký là 14,3 tỷ USD, đứng thứ 2 là Singapo với 549 dự án, vốn đăng ky
là 11,5 tỷ USD, thứ 3 là Đài loan với 1801 dự án, vốn đăng ký là 10,7 tỷ
USD(đồng thời cũng đứng thứ 3 trong giải ngân vốn đạt 3.07 tỷ USD), thứ 4
là Nhật Bản với 934 dự án, vốn đăng ký là 9,1 tỷ USD. Nhưng nếu tính về
vốn thực hiện thì Nhật bản đứng đầu với giải ngân đạt gần 5 tỷ USD, tiếp
theo là Singapo với 3,8 tỷ USD, Hàn quốc đứng thứ 4 với 2,7 tỷ.
Và chỉ với 15 nước (bằng 18,2 % sô nước) đã chiếm tới 93,9% tổng số
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam (Hàn quốc: 18,5 %; Singapo:
14,22%; Đài loan: 13,84%; Nhật Bản: 11,81%; British Virgrin Islands:
10,02%...)
Trong tổng số vốn đầu tư của 15 nước này thì có tới 74,07% (57613 triệu
USD) là của các nước châu á, điều này chứn tỏ môi trường đầu tư của Việt
nam hiện nay đang thu hút được sự qan tâm của các nhà đầu tư chấu á. Và
trình độ, điều kiện khả năng của các nhà đầu tư Châu á cũng đang phù hợp
với điều kiện và yêu cấu phát triển của Việt Nam trong thời gian qua. Do vậy
đee thu hút được nhiều hơn nữa vốn FDI vào việt nam từ các nước có tiềm
năng kinh tế thuộc châu âu và châu mỹ, việc xây dựng và triển khai chiến
lược thu hút vốn FDI từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc các châu lục
này càng trở lên cấp thiết.
2.1.2.4. Hình thức đầu tư
Ngay ở thời kỳ đầu, liên doanh là hình thức phổ biến nhất của đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại việt nam. Năm 2000, hình thức này chiếm tới khoảng
40% dự án và 59% vốn đăng ký (1035 dự án còn hiệu lực với khảng 21,5 tỷ
USD vốn đăng ký). Sở dĩ như vậy là do thời kỳ đầu, các thủ tục để triển khai

đăng ký 4,5 tỷ USD chiếm 2,5% về số dự án và 5,5 % tổng vốn đăng ký. Số
còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO. Có thể so sánh tỷ trọng
dự án hoạt động theo hình thức 100% vốn nươc ngoài tính đến hêt năm 2004
là 39,9% theo hình thức liên doanh là 40,6%, và theo hình thức hợp doanh là
19,5% để thâyd được 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư lựa chọn
nhiều hơn.
2.1.2.5. Về địa bàn đầu tư
Với mong muốn thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần
làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng nên chính phủ ta đã có những
chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào nhưng vùng co
điều kiênk kinh tế xã hội khó khăn, miền núi, vùng sâu vùng xa. Tuy vậy
cho đến nay vốn đầu tư nước ngoài vẫn được đầu tư tập trung chủ yếu vào
những khu vực có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh
tế xã hội. vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các vùng lãnh thổ của Việt
Nam được thể hiện như sau:
Vùng trọng điểm phía bắc có 2220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên
24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 27% tổng vốn đăng ký và 24% tổng vốn
thực hiện của cả nước. trong đó thì Hà nội đứng đầu với 987 dự án với tổng
vốn đăng ký là 12,4 tỷ USD chiếm 51% tổng vốn đăng ký và 50% vốn thực
hiện cả vùng. Tiếp theo thứ tự là Hải phòng với 268 dự án với tổng vốn đăng
8
8
ký 2,6 tỷ USD, Vĩnh phúc 140 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ uSD, Hải
dương 271 dự án với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD.,hà tây 74 dự án với tổng
vốn đăng ký 1,5 tỷ USD, Bắc ninh 106 dự án với tổng vốn đăng ký o,93 tỷ
USD và Quảng Ninh 94 dự án với tổng vốn đăng ký 0,77 ty USD
Vùng trọng điểm phía nam thu hút 5293 dự án với tổng vốn đầu tư 44,87
tỷ USD chiếm 54 % tổng vốn đăng ký, trong đó thành phố Hồ chí minh dẫn
đầu ca nước (2398 dự án với tổng vốn đăng ký 16,5 Tỷ USD) chiếm 36,9%
tổng vốn đăng ký của vùng. Tiếp theo là Đồng Nai (918 dự án với tổng vốn

+ Bà rịa- Vũng tàu chiếm 1,8% về số dự án và 7,2% tổng vốn đăng ký
9
9
Qua số liệu trên cho ta thấy mức độ chênh lệch của các vùng về thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài là tương đối lớn. tuy nhà nước đã có chính sách
ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiện địa lý, kinh tế khó khăn nhưng
việc thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ phát triển kinh tế tại các địa bàn này
rất thấp. như vậy đây cũng là một trong nhưng vấn đề rất cần được chú ý
điều chỉnh hoạt động của chúng ta trong thời gian tới.
2.1.2.6. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phân theo ngành
kinh tế
Nhận xét trên bình diện tổng thể, ta thấy cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực ơhù hợp
với yêu cầu chuyển dịch cơ câu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nếu ở thời kỳ đầu, các dự án đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào lĩnh
vực khách sạn, văng phòng cho thuê… thì thời gian từ 1995, 1996 đến nay
các dự án tập trung vao lĩnh vực sản xuất vật chất nhiều hơn. Tính cả thời ky
1988-2008, các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất
cả về số dự án lân vốn đầu tư, tiếp theo là lĩnh vực khách sạn, du lịch và các
dịch vụ, ngành nông lâm ngư nghiệp có số dự án thấp hơn. Cụ thể như sau:
Bảng 4: cơ cấu vốn FDI tại Việt Nam từ 1988-2008 phân chia theo
ngành kinh tế(chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy cơ cấu vốn FDI phân theo ngành kih tế có
sự thay đổi:
Cơ cấu đầu tư có chuyến biến tích cực theo hương tăng tỷ trọng đầu tư
vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công nghệ thông tin. Tính đến ngày
22/10/2008 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực) lĩnh vưc công nghiệp và xây
dựng có tỷ trọng lớn nhất với 6340 dự án , tổng vốn đăng ký hơn 84 triệu
USD, chiếm 65,5% về số dự án, 58,7% về tổng vốn đăng ký và 57,5% vốn
thực hiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status