NHỮNG VẪN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ - Pdf 64

NHỮNG VẪN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ
HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM
NHTM xuất hiện từ rất lâu đời trên thế giới, bắt nguồn từ nhu cầu gửi tiền
của các nhà buôn và khả năng bảo quản tiền của những người thợ vàng. Những
nhà buôn giàu có với gia sản khổng lồ thường tích trữ của cải bằng vàng và gửi
gắm ở những người thợ vàng, đồng thời những người kinh doanh nhỏ lẻ lại rất
cần tiền để kinh doanh buôn bán. Bên cạnh những người thợ vàng nhanh nhạy,
một số nhà quý tộc khác cũng nhận ra tính vô danh của tiền, có thể dùng tiền
gửi của người này để cho vay lấy lãi đối với người khác, sau đó đến hạn thanh
toán cho người gửi sẽ thu hồi tiền trở lại. Từ đó những người thợ vàng trở nên
giàu có, và hình thức đầu tiên của NHTM đã ra đời.
Ngày nay, với sự phát triển chóng mặt của nền kinh tế thế giới, hệ thống
NHTM ngày càng đóng vai trò quan trọng. Mạng lưới NHTM không chỉ nằm
trong lãnh thổ nội địa, mà còn mở rộng ra khu vực và quốc tế, phục vụ nhu cầu
xuất nhập khẩu và giao thương giữa các nước. NHTM là thành phần không thể
thiếu trong mọi hoạt động kinh doanh của mỗi quốc gia.
Về định nghĩa NHTM, đã có nhiều quan điểm cũng như định nghĩa khác
nhau, nhưng nhìn chung đều xem xét NHTM với vai trò là một trung gian tài
chính trong nền kinh tế thị trường.
Tại Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 định nghĩa NHTM là
một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
khác có liên quan. Luật này còn định nghĩa TCTD là loại hình doanh nghiệp
được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật
để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền
gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Theo định nghĩa trên, TCTD bao gồm các NHTM và các tổ chức tín dụng
phi ngân hàng. Tuy nhiên NHTM khác với các TCTD phi ngân hàng ở chỗ,
NHTM được thực hiện toàn bô hoạt động ngân hàng, là tổ chức nhận tiền gửi và

thanh toán và ngân quỹ.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động cơ bản và thường xuyên nhất của NHTM
nhằm thu hút nguồn vốn phục vụ kinh doanh, giúp cho hoạt động kinh doanh
diễn ra trôi chảy và bảo đảm khả năng thanh toán của ngân hàng.
Vốn huy động chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn và tài trợ cho các
hoạt động chủ yếu của NHTM. NHTM được phép huy động tiền gửi rộng rãi từ
các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi có kì hạn, tiền
gửi không kì hạn và các loại tiền gửi khác. NHTM còn sử dụng các công cụ như
phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá để huy động vốn từ các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngoài ra, NHTM còn có thể vay vốn từ
các TCTD, các NHTM khác, hoặc vay từ NHNN.
Trong hoạt động huy động vốn, NHTM luôn chú trọng xây dựng cơ cấu
vốn hợp lí. Cơ cấu vốn có thể được phân tích dựa trên các tiêu chí theo kì hạn,
theo đối tượng khách hàng,…Việc xem xét cơ cấu vốn dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau cho phép ngân hàng đánh giá toàn diện thực trạng nguồn vốn của
NH. Cơ cấu vốn linh hoạt và hợp lí là mục tiêu các NHTM luôn hướng tới.
Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu tín dụng đa dạng, NHTM có thể huy động
vốn với nhiều thời hạn khác nhau, nhiều đối tượng khách hàng khác nhau với
bảng biểu lãi suất phù hợp. Do đó cơ cấu vốn ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí
vốn, phản ánh việc NH huy động vốn hiệu quả hay không, ảnh hưởng trực tiếp
tới kết quả hoạt động kinh doanh của NH. Vì vậy bên cạnh hoạt động huy động
vốn thì hoạt động quản lý nguồn vốn luôn được các NHTM chú trọng.
Bên cạnh quản lí nguồn vốn và xây dựng một cơ cấu vốn với chi phí hợp
lí, NHTM còn chú trọng phát triển các công cụ nợ, tăng thêm tính đa dạng nhằm
hấp dẫn người gửi tiền, giúp NH chủ động trong việc huy động vốn, bảo đảm
hoạt động kinh doanh.
1.1.2.2. Hoạt động cấp tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động lâu đời nhất và quan trọng nhất của
NHTM. Hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho NH nhưng đồng

1.1.2.3. Hoạt động dịch vụ, thanh toán và ngân quỹ
Để đáp ứng nhu cầu lưu chuyển tiền tệ trong nước và quốc tế, các NHTM
còn thực hiện chức năng thanh toán. Hoạt động thanh toán bao gồm thanh toán
giữa NH với khách hàng và giữa các NHTM với nhau thông qua NHNN.
Các NHTM được phép mở tài khoản cho khách hàng, thực hiện các thanh
toán của khách hàng thông qua việc điều chỉnh số dư tài khoản. Hoạt động dịch
vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ
thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, các
dịch vụ thu hộ và chi hộ, các dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng, đồng
thời NHTM cũng thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi NHNN cho phép.
Bên cạnh đó các NHTM được mở tài khoản tại NHNN và tham gia vào hệ
thống thanh toán liên NH trong nước và tham gia hệ thống thanh toán quốc tế
theo quy định của NHNN.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM tạo ra sự đa dạng
trong việc phục vụ lợi ích của khách hàng, là động lực nâng cao năng lực canh
tranh giữa các NHTM. Cùng với tốc độ phát triển của nền kinh tế, nhu cầu sử
dụng các dịch vụ NH cũng ngày càng gia tăng và đòi hỏi cao về chất lượng. Do
đó các NHTM luôn chú trọng đảm bảo chất lượng hoạt động dịch vụ thanh toán
và ngân quỹ, giữ gìn uy tín đối với khách hàng. Hệ thống thanh toán giữa các
chi nhánh của NH và giữa các NH trong nước và quốc tế tạo ra sự thông suốt
cho nền kinh tế thị trường, kích thích tốc độ tăng trưởng và đầu tư, đầy mạnh
phát triển kinh tế.
1.2. Hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
1.2.1. Khái quát hoạt động cho vay của NHTM
Như đã nêu trên, hoạt động cho vay là cơ bản và quan trọng nhất trong
các hoạt động cấp tín dụng của NHTM. Hoạt động cho vay ra đời sớm nhất,
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của NHTM và quen thuộc nhất với
những người sử dụng vốn vay từ NH. Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời
nhất của ngân hàng, nhưng đồng thời cũng là hoạt động đem lại nhiều rủi ro
nhất. NHTM khi cho khách hàng vay vốn sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ

* Khái niệm DNVVN
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” – Theo Luật doanh nghiệp 1999.
Trong Luật này cũng quy định về các loại hình doanh nghiệp bao gồm:
Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Đây là cách phân chia dựa trên căn cứ về hình thức sở hữu, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc quản lý hành chính của Nhà nước. Việc thành lập, tổ chức quản lý,
và hoạt động của các loại hình DN này đều được pháp luật quy định rõ.
Để đánh giá mức độ phát triển và tăng cường hỗ trợ cho các DN, người ta
thường chia các loại hình DN dựa theo tiêu thức về quy mô. Theo tiêu thức này,
DN được chia thành DN lớn và DNVVN. Quy mô của DN được đánh giá dựa
trên một hoặc một nhóm tiêu chí như vốn, doanh thu, lao động,…Mỗi quốc gia,
mỗi khu vực có thể lựa chọn một chỉ tiêu hoặc một nhóm các chỉ tiêu khác
nhau, tùy thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển và quan điểm riêng của mỗi
nước. Việc đưa ra được tiêu chí xác định phù hợp là rất quan trọng nhằm xây
dựng chính sách hỗ trợ và định hướng phát triển đối với các DN đúng đắn và
hợp lí hơn.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày
23/11/2001 quy định DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn kinh doanh không quá 10 tỷ hoặc
số lao động không quá 300 người, bao gồm các DN nhà nước, DN thành lập
theo Luật DN, hợp tác xã, hộ kinh tế cá thể.
Theo khái niệm trên, DNVVN ở Việt Nam là các tổ chức kinh tế kinh
doanh độc lập, được đăng kí kinh doanh tại các cơ quan nhà nước, các DN
thành lập và hoạt động theo Luật DN, các Hợp tác xã thành lập và hoạt động
theo Luật Hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 02/NĐ-
CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Như vậy, DNVVN
và DN lớn nhìn chung bao gồm các hình thức sở hữu giống nhau, tuy nhiên
khác nhau về quy mô, cụ thể là các chỉ tiêu về lao động và vốn.

người tiêu dùng và giảm bớt chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh.
Ngược lại, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới làm hạn chế khả năng sản xuất,
đa dạng hoá sản phẩm, hạn chế năng suất và sản lượng, chất lượng sản phẩm,
làm tăng chi phí sản xuất, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đồng
thời làm hạn chế năng lực cạnh tranh của DN.
Đây không chỉ là hạn chế của các DNVVN Việt Nam, mà còn là tình
trạng chung tại các nước đang phát triển. Bản thân DN và Nhà nước đã nhận
thức được tầm quan trọng của việc cải tiến và đổi mới công nghệ, tuy nhiên
chưa đạt hiệu quả cao. Trong những năm gần đây, các DNVVN của Việt Nam
đã tiến hành nhập ngoại nhiều công nghệ hiện đại, nhưng do chưa có nhiều kinh
nghiệm trong việc mua và chuyển giao công nghệ, nên hầu như các máy móc
thiết bị không sử dụng được hoặc sử dụng không đúng năng suất. Thậm chí một
số chủ DN do không có kinh nghiệm nên trở thành nạn nhân của những thương
vụ chuyển giao công nghệ, gây thiệt hài nặng nề cho bản thân DN.
Mặt khác, do chi phí nhập ngoại công nghệ tương đối lớn so với quy mô
vốn nên các DNVVN thường không đủ khả năng để đổi mới một cách đồng bộ.
Nhiều DNVVN đã chọn phương án mỗi kì mua một ít, rồi sau đó mới cải tiến
dần dần. Điều này đã gây ra việc dây chuyền sản xuất không thể khai thác hết
công suất, sản phẩm sản xuất ra không đảm bảo chất lượng, không có sức cạnh
tranh trên thị trường…
Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý DN là một trong những nguyên
nhân chính dẫn đến tình trạng trên. Nhiều chủ DN không nhận thức được tầm
quan trọng của công cuộc đổi mới công nghệ, hoặc nhận thức được nhưng
không đủ nỗ lực và nhạy bén để thực hiện. Qua khảo sát, phần lớn chủ các
DNVVN không được qua các trường lớp đào tạo chính quy, điều này phần nào
hạn chế tầm nhìn chiến lược phát triển lâu dài cho DN. Trình độ và năng lực của
đội ngũ quản lý DNVVN hiện đang là một vấn đề được các nước rất quan tâm
và chú trọng cải thiện.
Thứ ba, DNVVN góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc
làm, nhưng phần lớn đội ngũ lao động còn yếu kém.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status