Phát triển bền vững ngành cà phê ở Tây Nguyên - Pdf 64

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN
LỜI MỞ ĐẦU
Cây cà phê gắn liền với đời sống của người dân ở Tây Nguyên và giữ vị trí đặc biệt
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh Tây Nguyên. Trong nhiều
năm qua, cây cà phê là một trong những sản phẩm chính làm thay đổi thu nhập và
mức sống của đa số người dân Tây Nguyên. Cây cà phê góp phần trực tiếp thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động phổ thông, định canh - định
cư và xóa đói giảm nghèo cho đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhưng việc phát triển cà phê ở Tây Nguyên cũng đang đối mặt với những khó
khăn, thách thức trước mắt cũng như trong dài hạn. Người nông dân đổ xô phát
triển diện tích cây cà phê tràn lan đang dẫn đến nguy cơ suy kiệt nguồn nước ngầm
vốn là tài nguyên khan hiếm của Tây Nguyên, nạn chặt phá rừng hủy hoại môi
trường sinh thái ngày càng trầm trọng. Việt nam đứng thứ hai về sản lượng xuất
khẩu cà phê nhưng chưa có thương hiệu cà phê nổi bật trên thị trường cà phê quốc
tế, chất lượng cà phê và giá xuất khẩu kém hơn sản phẩm cà phê của nhiều nước…
Để cà phê Tây Nguyên có thể phát triển mạnh mẽ hơn, vươn ra khỏi quy mô hiện
tại, đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển bền vững, toàn diện và lâu dài.
Mục tiêu trọng tâm của đề tài này hướng vào việc đề xuất xây dựng một chiến lược
phát triển thương hiệu và những kiến nghị về chiến lược phát triển bền vững cho
ngành cà phê ở Tây Nguyên.
1
I. THỰC TRẠNG NGÀNH CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN:
Năm 2008 Việt Nam có 530,9 ngàn hecta cà phê, xuất khẩu hơn 954 ngàn tấn cà
phê, là nước đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Brazil về sản lượng cà phê xuất khẩu,
đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1,95 tỷ USD. Tính trung bình cả năm 2008, giá cà
phê xuất khẩu của Việt Nam đạt 2,044 USD/ tấn, có lúc lên đỉnh điểm là 2,240
USD/ tấn ,tăng 31% so với năm 2007. Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) cũng dự
báo giá cà phê robusta trong năm 2010 sẽ đứng ở mức 1,470 USD/tấn (tính theo giá
trị đồng Đô la năm 2000), tăng khoảng 6,5% so với năm 2009.
Kim ngạch cà phê xuất khẩu Việt Nam năm 2009 và quý I năm 2010
(Nguồn:lấy từ trang />phe-se-tiep-tuc-gap-kho-khan.htm)

961.200
Tây Nguyên 612.776
624.97
6
505.52
5
657.64
6
655.27
5
589.74
7
819.51
1
735.757
Tỷ trọng 76% 74% 72% 83% 78% 78% 83% 77%
(Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê-Nhà xuất bản Thống kê 2007)
Ở khu vực Tây Nguyên thì Đắc Lắc là địa phương có diện tích cà phê nhiều nhất,
với trên 185 ngàn hecta, trong đó có 173,4 ngàn hecta cà phê kinh doanh cho sản
phẩm, kế đến là tỉnh Lâm Đồng, với diện tích cho thu hoạch 128,289 ngàn hecta,
diện tích cà phê còn lại là các tỉnh Gia Lai, Đắk Nông.
Sự mở rộng diện tích trồng cà phê đặc biệt ở khu vực Tây Nguyên góp phần làm
cho Việt Nam nhanh chóng trở thành quốc gia đứng thứ hai trên thế giới (sau
Brazil) trong việc xuất khẩu cà phê, tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập, góp
phần cải thiện đời sống của người lao động, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ở Tây
Nguyên.
Tuy nhiên cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác, năng suất cà phê chịu sự ảnh
hưởng rất lớn của thời tiết. Khi nóng hạn, không đủ nước thì cây cà phê không ra
hoa hoặc chết, khi sương muối nhiều thì hạt lép, nhỏ… do đó, sản lượng của cà
phê cũng tăng giảm theo vụ mùa và từ đó ảnh hưởng đến giá cả. Ví dụ như năm

thương hiệu nổi bật trên thị trường thế giới, mà việc người nông dân trồng cà phê
Việt Nam phải đối mặt với việc giá cả không ổn định, mùa vụ bị sâu bệnh đe dọa,
…đã, đang và sẽ là một bài toán làm đau đầu các nhà quản lý.
II. NHỮNG HẠN CHẾ TRONG NGÀNH CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN:
Bên cạnh những đóng góp quan trọng của mình trong việc phát triển kinh tế- xã hội
thì ngành sản xuất cà phê ở Tây Nguyên nói riêng và ở Việt Nam nói chung vẫn
còn những hạn chế, yếu kém và khó khăn từ giai đoạn quy hoạch, cải tạo giống,
trồng trọt, thu hoạch đến giai đoạn bảo quản và chế biến cà phê sau thu hoạch…
Chính những điều này là nguyên nhân dẫn đến việc giá trị xuất khẩu cà phê Việt
Nam chưa cao cho dù sản lượng cà phê xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới và cà
phê Việt Nam chưa tạo được cho mình một thương hiệu nổi bật trên thị trường thế
giới.
4
1. Vấn đề về giống cây trồng:
Hiện nay, đa số các loại giống ở Việt Nam cho năng suất và chất lượng không cao,
bị sâu bệnh nhiều. Tuy nhiên Nhà nước vẫn chưa quan tâm và đầu tư đúng mức cho
việc cải tạo giống mới.
Diện tích trồng bị chênh lệch giữa 2 loại giống Robusta (cà phê vối) và Arabica (cà
phê chè) quá lớn trong khi cây cà phê Robusta có chất lượng kém hơn cây cà phê
Arabica. Mặt khác, người dân trồng cà phê thì vẫn làm theo kinh nghiệm, trồng
trọt nhỏ, lẻ, manh mún chủ yếu vẫn trồng các loại giống cũ đã qua nhiều năm sử
dụng nên mức độ thoái hóa cao, năng suất thấp. Kiến thức người dân về chuyên
môn không cao, vấn đề thâm canh cây cà phê còn hạn chế. Trong khi đó thị trường
thế giới thì bấp bênh nên tâm lý người dân luôn lo sợ đầu ra dẫn đến việc trồng rồi
chặt bỏ rồi lại trồng lại là vấn đề thường xuyên. Do đó,việc đầu tư cho giống còn
nhiều hạn chế.
2. Vấn đề về suy thoái đất trồng cà phê:
Tài nguyên đất là lợi thế to lớn của Tây Nguyên. Với diện tích đất đỏ bazan chiếm
25% diện tích đất tự nhiên, kết hợp với đặc điểm về độ cao và khí hậu rất phù hợp
với những cây công nghiệp dài ngày. Tuy nhiên trong quá trình canh tác chúng ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status