Việt Nam và WTO
I. Lịch sử hình thành WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được thành lập ngày 1 tháng 1
năm 1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ
chức tiền thân của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
(GATT).GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ 2 trong trào lưu hình
thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế,
mà điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết
đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
ngày nay. Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho
thương mại quốc tế điều tiếtcác lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại
hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát
triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về
thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ
chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên
Hiệp Quốc. Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm
phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn
lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu
tự do hoá mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công
ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên.
Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được
thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana
từ 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê
chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực
hiện được.Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ
1
đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng
giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế
giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948.
Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan.
trên chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi Hiệp định WTO về từng lĩnh vực
thương mại tương ứng. Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên:
- Hội đồng hàng hoá điều hành công việc của 11 Uỷ ban và Cơ quan giám
sát hàng dệt.
- Hội đồng dịch vụ gồm các Uỷ ban về dịch vụ tài chính và Uỷ ban về các
cam kết cụ thể. Ngoài ra còn có các nhóm công tác chuyên trách một số lĩnh
vực.
Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng
thuận. Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự đồng thuận,
các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu. Khác với nhiều tổ chức khác, mỗi
thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành
viên có giá trị ngang nhau. Hầu hết các thành viên hiện tại của WTO đều là
thành viên trước đây của GATT. Các quốc gia và lãnh thổ tự chủ về chính
sách thương mại cũng có thể gia nhập WTO với điều kiện thông thường là
được tất cả thành viên chấp thuận. Khi không thể đạt được đồng thuận, việc
3
kết nạp có thể chỉ cần 2/3 số phiếu bầu. Quá trình gia nhập được dựa trên cơ
sở xem xét các chính sách kinh tế, thương mại của nước đang xin gia nhập và
các cuộc đàm phán song phương về mở cửa thị trường. Việc gia nhập của một
nước được chính thức hoá bằng việc ký vào Nghị định thư gia nhập, và có
hiệu lực 30 ngày sau khi nộp văn bản thông báo việc cơ quan có thẩm quyền
đã thông qua hay phê chuẩn Nghị định thư gia nhập.
III. Những nguyên tắc cơ bản của WTO:
Toàn bộ hoạt động của WTO dựa trên một loạt các văn bản pháp lý chặt
chẽ đề cập tới rất nhiều lĩnh vực thương mại liên quan tới hàng hoá, dịch vụ
và sở hữu trí tuệ.Tuy nhiên các văn bản pháp lý này chỉ dựa trên một số
nguyên tắc sau:
1. Nguyên tắc thứ nhất: Không phân biệt đối xử.
Mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm của một thành viên khác đối xử
không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một
5
quốc tế đưa ra có chú ý đến ngữ cảnh của chúng và phù hợp với các đối tượng
và mục tiêu của Hiệp định này.
1.2 Tuy nhiên, nội dung của các thuật ngữ nêu trong Phụ lục 1 được áp dụng
vì các mục tiêu của Hiệp định này.
1.3 Tất cả các sản phẩm bao gồm sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp, là
đối tượng thi hành các điều khoản của Hiệp định này.
1.4 Các yêu cầu đối với việc mua sản phẩm và các yêu cầu đối với việc tiêu
thụ sản phẩm do các cơ quan chính phủ đề ra không phải là đối tượng thi hành
các điều khoản của Hiệp định này mà được đề cập đến trong Hiệp định về
mua sắm của Chính phủ, phù hợp với nội dung của Hiệp định đó.
1.5 Các điều khoản của Hiệp định này không áp dụng cho các biện pháp vệ
sinh động vật và thực vật như đã quy định tại Phụ lục A của Hiệp định về việc
áp dụng các biện pháp Vệ sinh Động vật và Thực vật.
1.6 Tất cả các dẫn chiếu trong Hiệp định này về các quy định kỹ thuật, tiêu
chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp phải được coi là bao gồm cả những
sửa đổi của chúng và các bổ sung đối với quy chế hoặc phạm vi sản phẩm của
chúng, ngoại trừ các sửa đổi và bổ sung không quan trọng.
V. Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại :
(WTO Agreement on TBT)
Các Thành viên,
- Tham gia Vòng đàm phán Urugoay về Thương mại Đa biên;
6
- Mong muốn thúc đẩy các mục tiêu của GATT 1994.
- Thừa nhận sự đóng góp quan trọng của các tiêu chuẩn quốc tế và các hệ
thống đánh giá sự phù hợp có thể mang lại trong vấn đề này thông qua việc
nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế;
- Do đó mong muốn tăng cường việc xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế và các
hệ thống đánh giá sự phù hợp này;
- Tuy nhiên cũng mong muốn đảm bảo rằng các tiêu chuẩn và quy định kỹ
VI. Quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn:
Điều 2 :Soạn thảo, ban hành và áp dụng các quy định kỹ thuật ở cấp
các cơ quan chính phủ trung ương
Liên quan đến các cơ quan chính phủ trung ương:
2.1 Các Thành viên phải đảm bảo rằng theo các quy định kỹ thuật, các sản
phẩm nhập khẩu từ một lãnh thổ của bất cứ Thành viên nào đều phải được đối
8
xử không ít thuận lợi hơn cách đối xử được áp dụng cho các sản phẩm nội địa
tương tự và cho các sản phẩm tương tự xuất xứ từ bất cứ nước nào khác.
2.2 Các Thành viên phải đảm bảo rằng các quy định kỹ thuật không được soạn
thảo, ban hành và áp dụng với quan điểm hoặc nhằm để tạo ra những trở ngại
không cần thiết đối với thương mại quốc tế. Với mục đích như vậy, các quy
định kỹ thuật không được hạn chế thương mại quá mức cần thiết để thực hiện
một mục tiêu hợp lý, có tính đến những rủi ro do việc không thực hiện nó có
thể gây ra. Ngoài những yếu tố khác, các mục tiêu hợp lý đó là: các yêu cầu
về an ninh quốc gia; ngăn ngừa hành động gian lận; bảo vệ cuộc sống hoặc
sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật, bảo vệ môi trường. Để đánh
giá các rủi ro đó, ngoài những yếu tố khác, yếu tố liên quan cần xem xét là:
những thông tin khoa học và kỹ thuật hiện có, công nghệ xử lý có liên quan
hoặc thời hạn sử dụng sản phẩm dự kiến.
2.3 Các quy định kỹ thuật không được duy trì áp dụng, nếu tính hình thực tế
hoặc các mục tiêu đề ra khi ban hành chúng không còn tồn tại hoặc nếu tình
hình thực tế hoặc các mục tiêu đã thay đổi có thể tiến hànhtheo phương thức ít
gây hạn chế thương mại hơn.
2.4 Một khi các quy định kỹ thuật là cần thiết và các tiêu chuẩn quốc tế có liên
quan còn hiệu lực hoặc sắp ban hành, các Thành viên phải áp dụng toàn bộ
hoặc một phần của chúng như là căn cứ đối với các quy định kỹ thuật của
mình, trừ trường hợp khi các tiêu chuẩn quốc tế hoặc các phần có liên quan đó
bị vô hiệu hoặc không còn thích hợp để thực hiện các mục tiêu pháp lý cần
thiết, ví dụ vì các yếu tố khí hậu hoặc địa lý cơ bản hoặc các vấn đề công nghệ
2.9.2 Thông báo cho các Thành viên khác thông qua Ban Thư ký về các sản
phẩm sẽ được điều chỉnh trong quy định kỹ thuật dự kiến ban hành cùng với
bài giới thiệu ngắn gọn về mục tiêu và lý do cơ bản để ban hành quy định này.
Các thông báo này phải đuợc thực hiện sớm, khi mà các sửa đổi bổ sung còn
có thể tiến hành và các góp ý còn có thể xử lý được.
2.9.3Khi có yêu cầu, phải cung cấp cho các Thành viên khác văn bản hoặc bản
sao của quy định kỹ thuật dự kiến ban hành và nếu có thể cần chỉ rõ những
phần khác biệt nhiều với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan;
2.9.4 Đưa ra thời hạn không phân biệt đối xử để các Thành viên khác góp ý
bằng văn bản; thảo luận về các góp ý này khi có yêu cầu và tiếp thu các văn
bản góp ý và các kết quả thảo luận này.
2.10 Liên quan đến các khoản nêu trong mục 2.9 trên đây, khi phát sinh hoặc
có nguy cơ phát sinh các vấn đề khẩn cấp về an toàn, sức khoẻ, bảo vệ môi
trường hoặc an ninh quốc gia đối với một Thành viên nào đó, Thành viên này
có thể bỏ qua một trong các bước nêu trong đoạn 9 nói trên nếu thấy cần thiết,
nhưng Thành viên đó khi ban hành quy định kỹ thuật phải:
2.10.1 Thông báo ngay cho các Thành viên khác thông qua Ban Thư ký về
quy định kỹ thuật cụ thể đó và các sản phẩm được đề cập tới với những lời
giải thích ngắn gọn về mục tiêu và lý do cơ bản để ban hành quy định này, bao
gồm cả nội dung của các vấn đề khẩn cấp đó.
11