Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An
I.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN
1.Vị trí địa lý
Tỉnh Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên tuyến
giao lưu kinh tế- xã hội bắc nam, phía tây giáp CHDNND Lào, phía nam
giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía đông giáp biển
Đông. Có toạ độ địa lý 18
0
33'- 20
0
01' vĩ độ Bắc, 103
0
52'-105
0
48' kinh độ
Đông. Chiều dài lớn nhất từ Bắc vào Nam khoảng 132 km, chiều rộng lớn
nhất từ đông sang tây khoảng 200 km.
Nghệ An có diện tích tự nhiên 16.487 km
2
, dân số tính đến năm
2005 là 3.506.000 người. Về diện tích và dân số đứng thứ 3 trong cả nước.
Có các vùng ven biển, đồng bằng, trung du, miền núi thấp, miền núi cao là
điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp toàn diện.
Nghệ An có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường
thuỷ, đường không tiện lợi và quan trọng, tạo thế mạnh trong giao lưu,
phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội của tỉnh.
Phía đông có bờ biển dài 82 km và 6 cửa sông là một thuận lợi để
xây dựng và phát triển kinh tế biển và kinh tế đối ngoại trong giai đoạn
mới
Phía tây giáp nước CHDCND Lào, với đường biên giới 419 km. Hai
nước đã có lịch sử đoàn kết và hữu nghị lâu đời, là điều kiện thuận lợi để
Tổng diện tích tự nhiên 1.648.729 100
1.Đất nông nghiệp 195.944,4 11,80
-Đất cây hàng năm 142.333,5
+Đất lúa 98.987.0
-Đất cây lâu năm 12.400,88
2.Đất Lâm nghiệp 684.398,3 41,57
3.Đất chuyên dùng 59.221,08 3,59
4.Đất ở 14.893,51 0,90
5.Đất chưa sử dụng 693.166,46 42,04
(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An)
Theo nguồn gốc phát sinh, có thể phân đất đai Nghệ An thành 2
nhóm chính: Đất thuỷ thành và đất địa thành.
Đất thuỷ thành:247.774 ha chiếm gần 16% diện tích thổ nhưỡng
toàn tỉnh; đất này phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng ven
biển và bao gồm 4 nhóm đất: Đất phù sa, đất mặn, đất nâu vàng, đất lúa
vùng đồi núi. Chiếm vị trí quan trọng trong số này là đất phù sa có 189.000
ha; đất phù sa bao gồm 2 loại chính sau:
Đất cát biển: 21.400 ha (tập trung ở vùng ven biển) đất có thành
phần giới thô, không có kết cấu, dung tích hấp thụ thấp. Các chất dinh
dưỡng như mùn, đạm, lân đều nghèo, kali tổng số cao nhưng kali trao đổi
thấp. đây là loại đất thích hợp cho cây trồng hoa màu, cây công nghiệp
ngắn ngày... lúc sử dụng cần hết sức chú ý phát triển cây họ đậu, cây phân
xanh, triệt để áp dụng phương thức xen canh, gối vụ.
Đất phù sa thích hợp với cây lúa nước và màu: Đất phù sa được bồi
hàng năm, đất phù sa không được bồi, đất phù sa có sản phẩm Feralit.
Nhóm này có diện tích khoảng 144.500 ha, trong đó đất phù sa không được
bồi hàng năm khoảng 60%. Nhìn chung, so với đất sông Hồng và phù sa
đất Cửu Long thì đất phù sa ở Nghệ An có chất lượng kém hơn nhiều: đất
thường bị chia cắt mạnh, nghiêng dốc và lồi lõm, quá trình rửa trôi diễn ra
liên tục cả về bề mặt và chiều sâu, độ dày tầng canh tác mỏng, dung tích
có quyết tâm cao, khắc phục khó khăn, ưu tiên cho đầu tư phát triển Nông
-Lâm -Ngư nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng; sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Tỉnh uỷ, UBND tỉnh sâu sát và có hiệu quả nên đã phát huy được sức mạnh
tổng hợp của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh; được sự quan tâm giúp đỡ
của các cấp bộ, ngành trung ương và các tổ chức quốc tế trong việc thu hút
nguồn lực phát triển của thời kỳ 1996-2004; khí hậu thời tiết trong 10
năm qua không có đột biến xấu là điều kiện thuận lợi cho phát triến sản
xuất đặc biệt là sản xuất Nông -Lâm -Ngư nghiệp. Nên kinh tế trong 10
năm đổi mới có bước phát triển khá.
+Tốc độ tăng bình quân GDP (1996-2004) là 8%
Trong đó: giai đoạn 1996-2000 là 8,7%
Giai đoạn 2001-2004 là 7,27%, -Tổng sản phẩm trong tỉnh GDP tăng
từ 2926,6 tỷ đồng năm 1995 lên 4448,6 tỷ đồng năm 2000 và 6317,9 tỷ
đồng năm 2004, đưa mức bình quân GDP đầu người tăng từ 151,5 USD
năm 1995 lên 207 USD năm 2000 và 281 USD năm 2004.(Mức thu nhập
bình quân năm 2000 bằng 75% mức bình quân chung cả nước; trong khi
đó năm 1996 mức thu nhập bình quân của cả tỉnh chỉ bằng 60% mức bình
quân chung của cả nước)
-Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng Nông -
Lâm - Ngư nghiệp, tăng tỷ trọng Công nghiệp - xây dựng và các ngành dịch
vụ trong cơ cấu kinh tế.
+Nông - Lâm - Ngư nghiệp giảm từ 60,9% năm 1990 xuống 49,09%
năm 1996 và 44,27% năm 2004.
+Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 12,2% năm 1990 lên 14,23% năm
1996 và 18,62% năm 2004.
+Dịch vụ tăng từ 26,89% năm1990 lên 36,68% năm 1996 và
37,10% năm 2004.
BIỂU 1.2: MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ- XÃ HỘI THỰC HIỆN 10 NĂM
Các chỉ tiêu Đơn vị
Thực hiện qua các năm
13,3
Dịch vụ " 873,0 1647,
1
2320,9 10,27 13,5
4
7,10
3.GDP (giá thực tế) Tỷ đồng 1004,
7
5087,
5
7935,6
Nông-Lâm- Ngư " 611,9 2497,
2
3513,2
Công nghiệp- XD " 122,6 724,0 1477,7
Dịch vụ " 270,2 1866,
3
2944,7
4.Cơ cấu kinh tế % 100 100 100
Nông-Lâm- Ngư " 60,90 49,09 44,27
Công nghiệp- XD " 12,21 14, 23 18, 62
Dịch vụ " 26, 89 36, 68 37,11
5.GDP bình quân đầu
người (theo giá 1994)
1000 đồng 1171,
6
1638,
5
2174,1
-Theo USD USD 148,0 207,0 281,0
nhằm đưa Nghệ An mau chóng thoát khỏi tỉnh nghèo, tụt hậu về kinh tế,
từng bước nâng cao đời sống dân cư và trình độ dân trí.
Những mặt còn yếu kém:
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm
so với tiềm năng và yêu cầu phát triển (Đặc biệt là thời kỳ 1996-2000).
Nhiều mục tiêu quy hoạch và mục tiêu của Đại hội tỉnh Đảng bộ khoá 14 đề
ra về phát triển kinh tế- xã hội đạt thấp, GDP bình quân đầu người năm
2000 mới bằng 75% mức bình quân cả nước.
-Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp còn chiếm tỷ trọng thấp trong
GDP (năm 2000 giá trị GDP ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
đạt759,7 tỷ /7935,6 tỷ đồng, chiếm 9,6% tổng GDP của tỉnh theo giá thực
tế). Chất lượng sản phẩm còn thấp, khó cạnh tranh trên thị trường, tiêu
thụ chậm, hiệu quả kinh doanh đạt thấp, sức mua của thị trường nội tỉnh
còn hạn chế. Các doanh nghiệp Nhà nước chưa giữ được vai trò tổ chức và
định hướng thị trường, nhiều doanh nghiệp Nhà nước còn kinh doanh
thua lỗ kéo dài để lại gánh nặng ngân sách tỉnh.
-Kinh tế đối ngoại và xuất nhập khẩu, tuy có tiến bộ, song vẫn là
tỉnh yếu kém. Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài còn ít, đến nay mới có 9
dự án liên doanh với nước ngoài, quy mô dự án không lớn (trừ dự án liên
doanh mía đường NAT&L, tổng vốn đầu tư 90 triệu USD, công suất 6.000
tấn mía/ngày và 80.000 tấn đường/năm).
-Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt thấp (bình quân đầu người năm
2004 là 9 USD/người, cả nước bình quân trên 160 USD/người.
-Thu chi ngân sách chưa đảm bảo (thu mới bằng 40-50% chi
thường xuyên)
+Tỷ lệ thu ngân sách bình quân so với tổng GDP còn thấp, mới đạt
8,1% trong lúc đó cả nước là 18%, hiện tượng thất thu còn nhiều.
+Chi ngân sách: tốc độ tăng chi ngân sách thường xuyên hàng năm
lớn (14,5%- riêng tổng chi ngân sách năm 2004 là 1182 tỷ đồng gấp 3,12
lần so với thu ngân sách trên địa bàn)
tục hành chính còn phiền hà, quan hệ phối hợp trong việc thực hiện các
mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh chưa chặt chẽ và
chưa ngang tầm với yêu cầu đổi mới.
Nhìn chung, nền kinh tế- xã hội tỉnh Nghệ An sau 10 năm đổi mới
(1996-2005) tiếp tục phát triển trên nhiều lĩnh vực, sản xuất Nông -Lâm
-ngư nghiệp tăng bình quân với tốc độ cao (5,27%), bước đầu đã có một số
sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong tỉnh và xuất khẩu.
Công nghiệp chế biến Nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất vật liệu xây dựng, hàng
tiêu dùng... phát triển nhanh, sử dụng lao động và nguyên liệu tại chỗ góp
phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho khu vực nông thôn. Tiểu thủ công
nghiệp, ngành nghề ở nông thôn phát triển và từng bước được khôi phục.
Các ngành dịch vụ như: thương mại, du lịch... phát triển tạo chuyển biến
lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kết cấu hạ tầng được cải thiện khá,
năng lực sản xuất được nâng lên tạo tiền đề để phát triển cho thời kỳ
2001-2010. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên
một bước. Tình hình chính trị, an ninh quốc phòng, trật tự và an toàn xã
hội được giữ vững, môi trường sinh thái được cải thiện một bước.
II/THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH
NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 1996 – 2004.
1.Một số cơ chế chính sách đầu tư đối với sản xuất nông nghiệp
Đầu tư cho tăng trưởng và phát triển kinh tế là vấn đề hết sức quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đang được nhiều nước quan tâm,
nhất là đối với các nước đang phát triển. Nông nghiệp là một ngành sản
xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước. Sự
tăng trưởng trong nông nghiệp có tác động lớn đến quy mô và tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế quốc dân. Song muốn có tăng trưởng phải có
những điều kiện nhất định, trong đó 1 điều kiện vô cùng quan trọng là phải
có chính sách đầu tư thoả đáng cho phát triển nông nghiệp nông thôn.
Mục đích của chính sách đầu tư trong nông nghiệp là tái tạo và
nâng cao năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nông nghiệp, thúc
Chính phủ đã có các văn bản chủ yếu nhằm tạo thuận lợi cho các hộ
nông dân có thể tiếp cận với các nguồn vốn vay tín dụng để phát triển sản
xuất. Các chủ trương, chính sách tín dụng cho phát triển nông nghiệp nông
thôn được thực hiện thông qua hai tổ chức Ngân hàng chính phục vụ cho
vay phát triển sản xuất nông nghiệp (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn; Ngân hàng phục vụ người nghèo); hệ thống quỹ tín dụng nhân
dân; ngân hàng cổ phần nông thôn, các dự án được tài trợ cho vay với lãi
suất ưu đãi của chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức
tài trợ đã hộ trợ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Tất cả các chính sách tín dụng trên đã và đang góp phần giúp nông
dân giảm khó khăn về vốn, tạo điều kiện tốt hơn cho phát triển sản xuất,
kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách tín dụng còn
bộc lộ nhiều vấn đề mà người nông dân đang có ý kiến như: giải quyết thủ
tục vay và thế chấp, mức vay, thời hạn vay và lãi suất vay. Nếu những vấn
đề này không được xử lý tốt sẽ gây thêm khó khăn cho cả người vay và
người cho vay.
2>Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước.
Trong hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn thì
chính sách ruộng đất chiếm vị trí quan trọng nhất, có thể coi đó là chính
sách trung tâm trong hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp nông
thôn.
Điểm mới và điều được quan tâm nhiều nhất trong chính sách
ruộng đất của Đảng ta sau Nghị quyết 10 được thể hiện trong Luật đất đai
năm 1993 (trên cơ sở Luật đât đai năm 1987 có sửa đổi, bổ sung) là xác
định các quan hệ ruộng đất, có thể nói việc giao quyền sử dụng đất ổn định
lâu dài cho người sử dụng đất tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng, loại đất sử
dụng và các vùng lãnh thổ khác nhau là bước quan trọng để khẳng định
tính "có chủ" của việc sử dụng đất, gắn đất đai tức là gắn điều kiện sản
xuất với người lao động cơ bản để sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên, đất đai hiếm hoi và quý giá, đồng thời sử dụng hợp lý nguồn
-Chính sách chuyển giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho các
tổ chức kinh tế, các hộ gia đình nông dân, cá nhân có kinh nghiệm có điều
kiện sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp.
-Chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế lợi tức trên đất.
-Chính sách đầu tư vốn, hỗ trợ nông dân sản xuất và một số chính
sách khác như khuyến nông, chính sách xã hội nông thôn.
Các chính sách nói trên đã phát huy tác dụng, tích cực và đem lại
những kết quả đáng kể. Nhiều cơ sở kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể đã
chuyển đổi thích ứng với cơ chế và các thành phân kinh tế nhiều thành
phần. Các tiềm năng trong nông nghiệp, nông thôn được khai thác, sử
dụng có hiệu quả và triệt để hơn. Các hình thức liên doanh, liên kết trong
nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn khơi dậy tính tích cực sáng
tạo của nông dân trong việc xây dựng các hình thức sản xuất kinh doanh
mới, cung cách làm ăn mới, tiếp cận dần với nền kinh tế thị trường, các
doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, các công ty cổ
phần cũng được hình thành trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đời
sống nông dân, bộ mặt nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực.
4>Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời và phát
triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá.ở đó diễn ra quá trình trao đổi,
chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá hay dịch vụ trên cơ sở thoả thuận với
hành vi mua bán.
Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nông thôn
là nhằm tăng cường sản xuất tạo nên khối lượng sản phẩm lớn, phục vụ
cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước và xuất khẩu, đảm bảo
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, thu nhập cho nông dân, nâng cao
sức mua của nông dân để tạo nên một thị trường sôi động ở nông thôn.
5>Chính sách khoa học -kỹ thuật và đào tạo cán bộ
-Chính sách khoa học kỹ thuật: Đây là một chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước ta, xuất phát từ vị trí vai trò của công tác khoa học - kỹ thuật
kỳ một chính sách kinh tế nào cũng mang tính chất xã hội, và bất kỳ một
chính sách xã hội nào cũng dựa trên các chính sách kinh tế. Thực tiễn phát
triển nông nghiệp nông thôn đã chỉ rõ các chính sách xã hội nông thôn có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong chiến lược kinh tế và chủ trương đầu tư
vào nông nghiệp, đó là chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, chính
sách lao động việc làm, đặc biệt là chính sách xoá đói giảm nghèo.
Cụ thể trong giai đoạn qua, Đảng, Chính Phủ và tỉnh Nghệ An ban
hành các chính sách cụ thể.hoá vào từng lĩnh vực đã có tác dụng rất lớn
trong việc đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp:
+Chính phủ ban hành Nghị định số 14/CP ngày 19/3/1996 về việc
quản lý giống vật nuôi, nhằm tăng hiệu lực quản lý Nhà nước về giống vật
nuôi để tăng năng suất, chất lượng và nhân nhanh đàn giống tốt phục vụ
sản xuất; Nghị định số 15/CP ngày 19/3/1996 về việc quản lý thức ăn gia
súc nhằm nâng cao chất lượng đàn gia súc.
+Các chính sách của Chính phủ về việc cấp bù kinh phí để duy trì và
nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm giống gốc nhằm bảo đảm việc
nuôi dưỡng đàn gia súc gia cầm giống gốc phục vụ cho mục tiêu phát triển
chăn nuôi
+Một số chính sách và cơ chế tài chính thực hiện chương trình kiên
cố hoá kênh mương theo quyết định số 66/2000 QĐ/TTg của Thủ tướng
Chính Phủ và chỉ thị số 12 NN-CS/CT ngày 8/7/1996 của Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn; tỉnh Nghệ An đã cụ thể hoá chính sách trên bằng
cách ban hành "Cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư, huy động vốn và tổ chức
thực hiện kiên cố hoá kênh thuỷ lợi", "Cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư phát
triển thuỷ lợi tưới nước cho cây cà phê, cam, chè và tiêu úng giữ ẩm cho
lạc"
+Chính sách đầu tư hỗ trợ khuyến khích phát triển một số cây công
nghiệp và cây ăn quả do UBDN tỉnh Nghệ An ban hành
+Một số cơ chế chính sách khuyến khích phát huy nội lực để đầu tư phát
triển, như: