Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia,
kể cả những nớc đã đạt đến trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất
chủ yếu, đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trờng rộng lớn
(cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm) của nền kinh tế, nguồn nhân
lực và nguồn tích luỹ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Kinh
nghiệm của Mỹ, Nhật Bản tuy đã đạt đến trình độ cao, cũng nh các nớc trở
thành nớc công nghiệp mới, trong những thập niên gần đây vẫn rất coi
trọng phát triển sản xuất nông nghiệp.
ở nớc ta, nền kinh tế vẫn còn mang tính thuần nông, GDP từ nông
nghiệp còn lớn, năng suất khai thác từ ruộng đất và năng suất lao động còn
thấp thì vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp lại càng quan trọng, nh ông
cha ta từng nói: "Nông suy bách nghề bại" - Nông nghiệp phát triển là tiền
đề để phát triển các ngành còn lại trong nền kinh tế. Điều đó chứng tỏ rằng,
việc đầu t phát triển sản xuất nông nghiệp là một nhiệm vụ cực kỳ quan
trọng nhng cũng rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải là sự nỗ lực của toàn
Đảng, toàn dân.
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn luôn khẳng định vai
trò to lớn của nông nghiệp. Trong công cuộc đổi mới, Đảng cũng lấy nông
nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá nhằm ổn định đời sống
kinh tế- xã hội, đa đất nớc vợt qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn và tạo
điều kiện để đẩy mạnh Công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nớc. Song nông
nghiệp không thể tự mình phát triển, mà phải có sự tác động mạnh của các
ngành công nghiệp, dịch vụ và hơn hết là phải có đầu t thích hợp.
Nghệ An là một tỉnh nông nghiệp, hội tụ đầy đủ những mặt mạnh,
mặt yếu của nền nông nghiệp nớc ta; có nhiều tiềm năng và thế mạnh trong
sự nghiệp đổi mới, đã từng bớc phá thế độc canh, tăng cây công nghiệp, cây
ăn quả và chăn nuôi để phát triển hàng hoá. Tuy nhiên, kinh tế Nghệ An
vẫn là nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cấp tự túc, trình độ thâm canh
còn thấp, giá trị sản phẩm về cây công nghiệp và chăn nuôi còn ít, cha tạo
các chú, bác trong phòng Kế hoạch Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn
thuộc Sở Kế hoạch và Đầu t tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
này
Đầu t phát triển t nông nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn 1996 -2005: Thực trạng và
giải pháp
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I:
Một số vấn đề về đầu t và
đầu t phát triển nông nghiệp
I. Lý luận về đầu t
1.Khái niệm
Đầu t nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tơng lai lớn
hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đợc kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền
vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đờng xá...), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá,
chuyên môn, khoa học kỹ thuật,...) và nguồn lực có đủ điều kiện để làm
việc có năng suất trong nền sản xuất xã hội.
Tuy nhiên, nếu xét trên toàn bộ nền kinh tế, thì đầu t là sự hy sinh
giá trị hiện tại gắn liền với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế. Các
hoạt động này đợc gọi là đầu t phát triển.
Nh vậy, đầu t phát triển là loại đầu t trong đó ngời có tiền bỏ ra để
tiến hành các hoạt động nhằm taọ ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng
tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện
chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống mọi ngời dân trong xã hội. Đó
chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ
là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia.
Khi tăng đầu t, cầu của các yếu tố của đầu t tăng làm cho giá của
hàng hoá có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật t-
,...) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lợt mình, lạm
phát làm cho nền sản xuất đình trệ, đời sống của ngời lao động gặp nhiều
khó khăn do tiền lơng ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát
triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu t làm cho cầu của của các yếu tố có liên
quan tăng, sản xuất các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm
tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống ngời lao động, giảm tệ nạn xã hội.
Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu t cũng dẫn đến tác động hai mặt, nhng theo chiều h-
ớng ngợc lại so với các tác động trên đây. Vì vậy, trong điều hành vĩ mô
nền kinh tế, các nhà hoạt động chính sách cần thấy hết tác động hai mặt
này để đa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác
động tích cực, duy trì đợc sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.3.Đầu t tác động đến tốc độ tăng tr ởng và phát triển kinh tế:
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ
tăng trởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt đợc từ 15-25% so với
GDP tuỳ thuộc và ICOR của mỗi nớc.
ICOR = vốn đầu t/mức tăng GDP
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn
đầu t.ở các nớc phát triển, ICOR thờng lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao
động, vốn đợc sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công
nghệ hiện đại có giá trị cao. Còn ở nớc chậm phát triển, ICOR thấp từ 2-3
do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động rẻ để
thay thế vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. Chỉ tiêu ICOR của
mỗi nớc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thay đổi theo trình độ phát triển và cơ
độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt
Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một chiến lợc đầu t
phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Chúng ta biết rằng có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự
nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù là
tự nghiên cứu hay nhập từ nớc ngoài cần phải có vốn đầu t. mọi phơng án
đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những phơng án
không khả thi.
3.Nguồn vốn đầu t
Vốn đầu t là tiền tích luỹ của xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác đợc đa
vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có
và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ; sinh hoạt xã
hội và sinh hoạt trong mỗi gia đình.
Nh vậy, hoạt động đầu t là quá trình sử dụng vốn đầu t nhằm duy trì
tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và sinh hoạt đời sống.
Vốn đầu t của đất nớc nói chung đợc hình thành từ hai nguồn cơ
bản: đó là vốn huy động trong nớc và vốn huy động từ nớc ngoài.
-Vốn đầu t trong nớc đợc hình thành từ các nguồn sau:
+Vốn tích luỹ từ ngân sách
+Vốn tích luỹ từ các doanh nghiệp
+Vốn tiết kiệm của dân
-Vốn huy động từ nớc ngoài bao gồm vốn đầu t trực tiếp và vốn đầu
t gián tiếp.
+Vốn đầu t trực tiếp là vốn của các doanh nghiệp, các cá nhân ngời
nớc ngoài đầu t sang các nớc khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản
lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn đã bỏ ra.
6
bị máy móc, để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác
theo quy định của thiết kế dự toán và đợc ghi trong dự án đầu t đợc duyệt.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
4.1.2.Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng
thêm
-Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình,
đối tợng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm,
hàng hoá hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội đã đợc ghi trong
dự toán đầu t) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ
tục nghiệm thu sử dụng, có thể đa vào hoạt động đợc ngay.
-Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu
sản xuất phục vụ các tài sản cố định đã đợc huy động và sử dụng để sản
xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định đợc
ghi trong dự án đầu t.
4.2.Hiệu quả của hoạt động đầu t .
Hiệu quả của hoạt động đầu t đợc xem xét trên hai góc độ là hiệu
quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội.
4.2.1.Khái niệm
-Hiệu quả tài chính (E
t c
) của hoạt động đầu t là mức độ đáp ứng nhu
cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống
của ngời lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở
số vốn đầu t mà cơ sở đã sử dụng so với các chu kỳ khác, các cơ sở khác
hoặc so với định mức chung. Chúng ta có thể biểu diễn khái niệm này
thông qua công thức sau:
E
tc
mà xã hội dành cho đầu t thay vì sử dụng các công việc khác trong tơng lai
không xa.
4.2.2.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội.
4.2.2.1.Các tiêu chuẩn đánh giá
Để xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội, phải dựa
vào các tiêu chuẩn sau:
-Nâng cao mức sống của dân c đợc thể hiện gián tiếp qua các số liệu
cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức
gia tăng đầu t, tốc độ phát triển tốc độ tăng trởng.
-Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của công cuộc đầu
t vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống các
tầng lớp dân c.
-Gia tăng số lao động có việc làm
-Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ
-Các mục tiêu kế hoạch kinh tế quốc dân khác là:
+Tận dụng hay khai thác tài nguyên cha đợc quan tâm hay mới phát
hiện.
+Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản
ứng dây chuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác.
+Phát triển kinh tế- xã hội ở các địa phơng nghèo, các vùng xa xôi
dân c tha thớt nhng có nhiều triển vọng về tài nguyên để phát triển kinh tế.
4.2.2.2.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội của đầu t ở tầm vĩ
mô
-Tổng giá trị sản xuất (GO) là tổng sản phẩm vật chất và dịch vụ tạo
ra trong một thời kỳ nhất định (thờng là một năm) do lao động trong các
ngành của nền kinh tế quốc dân tạo ra.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
GO = GO
của những kết cấu hạ tầng sẵn có, bổ sung năng lực phục vụ mới của kết
cấu hạ tầng mới.
+Tác động đến môi trờng: đây là những ảnh hởng của các đầu vào,
đầu ra của dự án đến môi trờng.
+Nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, trình độ nghề nghiệp của ngời
lao động, trình độ quản lý của những nhà quản lý, nâng cao năng suất lao
động, nâng cao thua nhập của ngời lao động.
+Những tác động về xã hội, chính trị và kinh tế khác (tận dụng và
khai thác tài nguyên cha đợc quan tâm hay mới phát hiện, tiếp nhận đợc
công nghệ mới nhằm hoàn thiện cơ cấu sản xuất, những tác động đến các
ngành, lĩnh vực khác, tạo thị trờng mới, tham gia phân công lao động quốc
tế, phát triển các địa phơng yếu kém, các vùng xa xôi có tiềm năng về tài
nguyên...)
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Ngoài ra, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau để phân tích hiệu quả của
các hoạt động đầu t:
+Chỉ tiêu tỷ lệ GO (hay GDP) tăng thêm so với vốn đầu t thực hiện
của kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc.
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đầu ra (GO hay
GDP tăng thêm) so với vốn đầu t của năm đó hay thời kỳ đó).
ý nghĩa: chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn đầu t thực hiện (đã
thực sự đem vào sản xuất kinh doanh) sẽ tạo ra giá trị đầu ra là bao nhiêu.
+Chỉ tiêu tỷ lệ GO (hay GDP) tăng thêm so với vốn đầu t
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn đầu t tăng thêm làm tăng thêm
đợc bao nhiêu giá trị đầu ra (GO hay GDP). Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ nền
kinh tế mạnh, kết quả đầu t đạt tỷ lệ cao, tạo cơ sở vững chắc cho nền kinh
tế.
+Chỉ tiêu tỷ lệ GDP/GO.
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con ngời càng đợc nâng cao
thì nhu cầu của con ngời về lơng thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng cả
về số lợng, chất lợng và chủng loại. Sự tăng lên này do hai yếu tố:
-Do sự tăng lên không ngừng của dân số
-Do sự tăng lên của nhu cầu bản thân từng con ngời
chỉ có một nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao mới có hy
vọng đáp ứng đợc những nhu cầu tăng lên thờng xuyên đó.
Nông nghiệp giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố
đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. điều này đợc thể hiện chủ
yếu ở các mặt sau:
Thứ nhất, nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp của các nớc đang
phát triển, là khu vực cung cấp lao động cho sự phát triển của công nghiệp
và đô thị. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt nó tạo ra nhu
cầu rất lớn về lao động, mặt khác - nhờ đó mà năng suất lao động trong
nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lợng lao động lại đợc giải phóng từ
nông nghiệp ngày càng nhiều. Số này lại chuyển dịch vào công nghiệp và
thành phố - nhà kinh tế học Lewis coi đây là quá trình tạo ra tiết kiệm, thúc
đẩy đầu t và tăng trởng kinh tế. Mặt khác, việc chuyển dịch lao động từ
nông nghiệp sang khu vực công nghiệp còn khắc phục đợc tình trạng lạc
hậu về kinh tế - đây là một xu hớng có tính quy luật của mọi quốc gia trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Tuy nhiên, chuyển dịch
lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp nh thế nào đó là bài toán mỗi
quốc gia phải nghiên cứu để giải quyết cho phù hợp với điều kiện cụ thể
của quốc gia mình.
Thứ hai, nông nghiệp là khu vực cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn
và quý báu cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua
công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp đợc nâng lên nhiều
lần. Điều này vừa góp phần tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm,
vừa tăng thu nhập cho ngời lao động và tăng nguồn tài chính cho quốc gia.
Nông nghiệp và nông thôn là thị trờng tiêu thụ rộng lớn của công
quốc dân. ngay từ khi đất nớc thống nhất, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IV (1976) đã khẳng định: "...u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây
dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nớc trở thành một cơ cấu công - nông
nghiệp". Vai trò của nông nghiệp tiếp tục đợc khẳng định qua các kỳ Đại
hội V (1981), Đại hội VI (1986), Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996),
và với kỳ đại hội IX (2001) có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến lợc
phát triển kinh tế- xã hội đất nớc những năm đầu thế kỷ XXI, Đảng ta tiếp
tục khẳng định con đờng đi lên Chủ nghĩa xã hội của nớc ta là con đờng
duy nhất đúng với "Chiến lợc đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá theo
định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ
bản trở thành một nớc công nghiệp", và nông nghiệp nông thôn vẫn tiếp tục
đợc u tiên đầu t phát triển: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp, nông thôn theo định hớng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá
lớn"...
Trên thực tế ở Việt Nam, có 80% dân số sống ở nông thôn, hơn 70%
lực lợng lao động toàn xã hội làm việc ở khu vực này (trong đó có 63,11%
lao động làm việc ở khu vực nông - lâm nghiệp - vào thời điểm năm 2000).
Ngành nông nghiệp Việt Nam cung cấp xấp xỉ 1/4 GDP của đất nớc, tạo ra
trên 1/3 kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù tỷ trọng của ngành đã giảm dần do
các hộ nông dân tiếp tục đa dạng hoá sản xuất sản phẩm của mình, nhng
gạo vẫn chiếm gần 1/2 tổng giá trị sản lợng nông nghiệp. Các loại cây lơng
thực khác chiếm 15%, cây công nghiệp chiếm 16%, chăn nuôi chiếm 17%.
Sản lợng nông nghiệp đạt mức cao kỷ lục vào năm 1998 và 1999 với tổng
sản lợng lơng thực tăng 2 triệu tấn mỗi năm, đạt 34 triệu tấn quy thóc vào
năm 1999. Việt Nam đã chuyển từ một nớc nhập khẩu lơng thực vào giữa
những năm 80 sang trở thành một nớc xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới
nghiệp cần hết sức lu ý các vấn đề sau:
-Tổ chức tốt điều tra các nguồn tài nguyên nông nghiệp của đất nớc
cũng nh mỗi vùng để có sự quy hoạch, bố trí các loại cây trồng, các con
vật nuôi thích hợp.
-Việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phải đợc tiến hành phù hợp
với đặc điểm sinh học của từng loại cây trồng, từng con vật nuôi, cũng nh
phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế cụ thể của mỗi vùng.
-Cần có chính sách phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng khu
vực nhất định. đặc biệt là chính sách ruộng đất, chính sách đầu t và chính
sách thuế.
2>Trong nông nghiệp, ruộng đất là t liệu sản xuất chủ yếu không
thể thay thế đợc.
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhng
nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp và các ngành
kinh tế khác, đất đai chỉ là nền móng để xây dựng các công xởng, trụ sở
phục vụ cho việc sản xuất - kinh doanh. Trái lại, trong nông nghiệp, đất đai
là t liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế đợc và nó là loại t liệu sản
xuất đặc biệt vì nó hạn chế về mặt diện tích, cố định về mặt vị trí và sức sản
xuất của nó không có giới hạn. chính vì vậy, cần phải tích cực mở rộng diện
tích đất nông nghiệp bằng khai hoang, tăng vụ. Đẩy mạnh đầu t chiều sâu,
thâm canh sản xuất - coi thâm canh là con đờng chủ yếu phát triển sản xuất
nông nghiệp.
3>Sản xuất nông nghiệp gắn liền với cơ chế sống
Cây trồng và vật nuôi -đối tợng sản xuất của nông nghiệp là những
cơ thể sống, chúng sinh trởng và phát triển theo những quy luật sinh học
nhất định. Là cơ thể sống do đó chúng rất nhạy cảm với môi trờng tự nhiên;
mỗi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, về sự chăm sóc của con ngời đều tác
động trực tiếp đến quá trình phát sinh và phát triển của chúng, và đơng
nhiên là ảnh hởng đến kết quả cuối cùng của sản xuất.
trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc
Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nớc ta một số thuận lợi khá
cơ bản:
-Chúng ta có nguồn nớc phong phú, nguồn ánh sáng d thừa nhờ đó
có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp quanh năm.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Tập đoàn cây trồng và con vật nuôi của ta phong phú đa dạng (cả
nhiệt đới và ôn đới), nhờ đó rất có điều kiện sản xuất những nông sản có
giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Tuy nhiên, đặc điểm này cũng mang lại cho nông nghiệp nớc ta
những khó khăn không nhỏ, đó là thờng xuyên bị sâu bệnh phá hoại. Ngoài
ra, bình quân đất nông nghiệp trên một đầu ngời của nớc ta thấp cũng là
một khó khăn đáng kể.
Bởi thế, trong quá trình phát triển nền nông nghiệp nớc nhà theo h-
ớng sản xuất hàng hoá, hiện đại, chúng ta tìm cách phát huy cao độ những
mặt thuận lợi và hạn chế đến mức tối đa những mặt khó khăn của nó, bảo
đảm cho nông nghiệp nớc ta có sự phát triển nhanh và vững chắc.
3.Điều kiện để đầu t phát triển nông nghiệp
Xuất phát từ đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp - chúng ta thấy
rằng để sản xuất nông nghiệp phát triển một cách nhanh chóng và bền vững
thì cần phải có những điều kiện sau:
3.1.Điều kiện tự nhiên
Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất có những nét đặc thù, là ngành gắn
với đối tợng là sinh vật (cây trồng và vật nuôi), bị chi phối bởi quy luật sinh
học, điều kiện ngoại cảnh (đất đai, thời tiết, khí hậu). Chính vì vậy, sự sản
xuất nông nghiệp phát triển trớc hết phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự
nhiên. Mỗi một loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng điều kiện tự nhiên
nhất định. Nắm bắt đợc vấn đề này để ngời nông dân lựa chọn loại cây
nghiệp.
-Nó thúc đẩy quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá sản
xuất. Trên cơ sở đó, sự hiệp tác lao động, sự kết hợp xã hội trong quá trình
lao động sản xuất cũng nh quá trình trao đổi đợc diễn ra với quy mô ngày
càng to lớn hơn. Đó là cơ sở khách quan đòi hỏi không ngừng xây dựng và
hoàn thiện quan hệ sản xuất với quy mô và phạm vi rộng lớn hơn và hình
thức quản lý phức tạp hơn.
-Nó cải tạo triệt để tâm lý và tập quán sản xuất của nông dân
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vẫn diễn ra nhanh
chóng trên thế giới. Vì vậy, để đa nền nông nghiệp đất nớc phát triển bắt
kịp với nhịp độ tăng trởng của thế giới đòi hỏi phải áp dụng rộng rãi tiến bộ
khoa học kỹ thuật.
3.5.Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà n ớc
Hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nớc có một vai trò
vô cùng to lớn với chức năng điều tiết của việc quản lý Nhà nớc đối với
nông nghiệp, thúc đẩy hữu hiệu nền nông nghiệp hàng hoá nhiều thành
phần phát triển theo đúng định hớng. Bất kỳ một nền sản xuất nông nghiệp
hàng hoá nào cũng lấy thị trờng làm chỗ dựa. Việc kinh doanh nông nghiệp
chịu sự tác động của các quy luật của thị trờng cả về mặt tích cực cũng nh
tiêu cực. Các chính sách kinh tế có khả năng hạn chế mặt tiêu cực của thị
trờng bằng cách kích thích những ngời kinh doanh nông nghiệp hoạt động
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
theo hớng đã đề ra không những vì lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc đân
mà còn vì lợi ích thiết thân đối với họ. Vì vậy, Nhà nớc phải thực hiện hàng
loạt chính sách kinh tế để thực thi có hiệu quả việc quản lý Nhà nớc đối với
nông nghiệp. Đó là điều vô cùng quan trọng không thể thiếu đợc đối với bất
kỳ chế độ xã hội nào.
3.6.Mở rộng thị tr ờng quốc tế theo h ớng kinh tế mở
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đảm bảo an toàn lơng thực quốc gia. Phần lỗ của các Bulog do Nhà nớc bù,
trích từ ngân sách đầu t cho nông nghiệp. Bên cạnh đó, ở Inđônêsia còn
quan tâm đến đầu t cho nghiên cứu, triển khai mời chuyên gia đến trao đổi
kinh nghiệm, nhập nội các giống tốt và công nghệ tiên tiến, hình thành ban
khuyến nông -năm 1988 có 20.000 cán bộ khuyến nông và cứ 817 hộ thì có
1 cán bộ khuyến nông, các khoản chi cho công tác khuyến nông chiếm
21% tổng ngân sách chi hàng năm của Bộ Nông nghiệp.
ở Thái Lan, để khuyến khích đầu t phát triển sản xuất nông nghiệp,
Chính phủ rất quan tâm đến bù giá vật t nông nghiệp. Mỗi năm, nớc này sử
dụng khoảng 2,1 triệu tấn phân hoá học trong sản xuất nông nghiệp, trong
đó 27% qua khu vực công cộng, 73% qua kênh t nhân. Hiện nay, tất cả các
mặt hàng do nông dân sản xuất ra đều đợc miễn thuế. Chủ trơng này nhằm
tạo điều kiện nâng cao mức sống của nông dân, hạn chế dòng ngời đang bỏ
nông thôn ra thành thị. Ngay đối với xuất khẩu gạo cũng không phải chịu
thuế xuất khẩu nhằm tạo cho gạo Thái Lan có sức cạnh tranh trên thị trờng
thế giới (Thái Lan hiện là nớc đứng đầu về xuất khẩu gạo). ngoài ra, hàng
năm Vụ khuyến nông thuộc Bộ nông nghiệp sử dụng 1.358 triệu bạt (54
triệu USD) cho công tác khuyến nông.
Trung Quốc là nớc nông nghiệp lớn, sau thời kỳ "Cách mạng văn
hoá", "công xã nhân dân" nớc này bớc vào thời kỳ cải cách và mở cửa. Một
trong những thành tựu đáng ghi nhận của Trung Quốc là phát triển công
nghiệp hơng trấn, thực hiện "Li nông bất ly hơng", chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn, từ đó tăng trởng kinh tế với tốc độ cao. Chính phủ Trung
Quốc đã đa ra chính sách đầu t rất hợp lý, một mặt tăng đầu t cho công
nghiệp nông thôn, mặt khác tăng vốn đầu t trực tiếp cho nông nghiệp để tạo
ra những tiền đề vật chất cho việc tăng trởng. Ngoài nguồn vốn trong nớc,
Nhà nớc Trung Quốc còn dành các nguồn vốn vay nớc ngoài để đầu t cho
Đông. Có toạ độ địa lý 18
0
33'- 20
0
01' vĩ độ Bắc, 103
0
52'-105
0
48' kinh độ
Đông. Chiều dài lớn nhất từ Bắc vào Nam khoảng 132 km, chiều rộng lớn
nhất từ đông sang tây khoảng 200 km.
Nghệ An có diện tích tự nhiên 16.487 km
2
, dân số tính đến năm
2005 là 3.506.000 ngời. Về diện tích và dân số đứng thứ 3 trong cả nớc. Có
các vùng ven biển, đồng bằng, trung du, miền núi thấp, miền núi cao là
điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp toàn diện.
Nghệ An có mạng lới giao thông đờng bộ, đờng sắt, đờng thuỷ, đ-
ờng không tiện lợi và quan trọng, tạo thế mạnh trong giao lu, phát triển
kinh tế- văn hoá- xã hội của tỉnh.
Phía đông có bờ biển dài 82 km và 6 cửa sông là một thuận lợi để
xây dựng và phát triển kinh tế biển và kinh tế đối ngoại trong giai đoạn mới
Phía tây giáp nớc CHDCND Lào, với đờng biên giới 419 km. Hai n-
ớc đã có lịch sử đoàn kết và hữu nghị lâu đời, là điều kiện thuận lợi để mở
rộng hợp tác quốc tế và khai thác tiềm năng phát triển của nớc bạn Lào.
Các dòng sông hẹp và dốc chẳng những không thuận lợi cho phát
triển vân tải thuỷ mà còn hạn chế khả năng điều hoà nguồn nớc mặt trong
mùa phục vụ cho sản xuất nông -lâm nghiệp. Vùng đồng bằng có diện tích
nhỏ, xen kẽ đồi núi hạn chế việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp.
Về khí hậu, nằm trong vùng có nhiều đặc thù phân dị rõ rệt trên
2.Đất Lâm nghiệp 684.398,3 41,57
3.Đất chuyên dùng 59.221,08 3,59
4.Đất ở 14.893,51 0,90
5.Đất cha sử dụng 693.166,46 42,04
(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu t tỉnh Nghệ An)
Theo nguồn gốc phát sinh, có thể phân đất đai Nghệ An thành 2
nhóm chính: Đất thuỷ thành và đất địa thành.
Đất thuỷ thành:247.774 ha chiếm gần 16% diện tích thổ nhỡng toàn
tỉnh; đất này phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng ven biển và
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bao gồm 4 nhóm đất: Đất phù sa, đất mặn, đất nâu vàng, đất lúa vùng đồi
núi. Chiếm vị trí quan trọng trong số này là đất phù sa có 189.000 ha; đất
phù sa bao gồm 2 loại chính sau:
Đất cát biển: 21.400 ha (tập trung ở vùng ven biển) đất có thành
phần giới thô, không có kết cấu, dung tích hấp thụ thấp. Các chất dinh dỡng
nh mùn, đạm, lân đều nghèo, kali tổng số cao nhng kali trao đổi thấp. đây
là loại đất thích hợp cho cây trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày...
lúc sử dụng cần hết sức chú ý phát triển cây họ đậu, cây phân xanh, triệt để
áp dụng phơng thức xen canh, gối vụ.
Đất phù sa thích hợp với cây lúa nớc và màu: Đất phù sa đợc bồi
hàng năm, đất phù sa không đợc bồi, đất phù sa có sản phẩm Feralit. Nhóm
này có diện tích khoảng 144.500 ha, trong đó đất phù sa không đợc bồi
hàng năm khoảng 60%. Nhìn chung, so với đất sông Hồng và phù sa đất
Cửu Long thì đất phù sa ở Nghệ An có chất lợng kém hơn nhiều: đất thờng
bị chia cắt mạnh, nghiêng dốc và lồi lõm, quá trình rửa trôi diễn ra liên tục
cả về bề mặt và chiều sâu, độ dày tầng canh tác mỏng, dung tích hấp thụ
thấp. Đất thờng chua, các chất dinh dỡng nói chung là nghèo, đặc biệt là
lân (riêng phù sa đợc bồi đắp hàng năm giàu dinh dỡng hơn, nhng sản xuất
phát triển kinh tế- xã hội thời kỳ 1996-2004, cùng với toàn Đảng toàn dân
có quyết tâm cao, khắc phục khó khăn, u tiên cho đầu t phát triển Nông
-Lâm -Ng nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh
uỷ, UBND tỉnh sâu sát và có hiệu quả nên đã phát huy đợc sức mạnh tổng
hợp của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh; đợc sự quan tâm giúp đỡ của các
cấp bộ, ngành trung ơng và các tổ chức quốc tế trong việc thu hút nguồn lực
phát triển của thời kỳ 1996-2004; khí hậu thời tiết trong 10 năm qua không
có đột biến xấu là điều kiện thuận lợi cho phát triến sản xuất đặc biệt là sản
xuất Nông -Lâm -Ng nghiệp. Nên kinh tế trong 10 năm đổi mới có bớc phát
triển khá.
+Tốc độ tăng bình quân GDP (1996-2004) là 8%
Trong đó: giai đoạn 1996-2000 là 8,7%
Giai đoạn 2001-2004 là 7,27%, -Tổng sản phẩm trong tỉnh GDP
tăng từ 2926,6 tỷ đồng năm 1995 lên 4448,6 tỷ đồng năm 2000 và 6317,9
tỷ đồng năm 2004, đa mức bình quân GDP đầu ngời tăng từ 151,5 USD
năm 1995 lên 207 USD năm 2000 và 281 USD năm 2004.(Mức thu nhập
bình quân năm 2000 bằng 75% mức bình quân chung cả nớc; trong khi đó
năm 1996 mức thu nhập bình quân của cả tỉnh chỉ bằng 60% mức bình
quân chung của cả nớc)
-Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hớng, giảm dần tỷ trọng Nông -
Lâm - Ng nghiệp, tăng tỷ trọng Công nghiệp - xây dựng và các ngành dịch
vụ trong cơ cấu kinh tế.
+Nông - Lâm - Ng nghiệp giảm từ 60,9% năm 1990 xuống 49,09%
năm 1996 và 44,27% năm 2004.
+Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 12,2% năm 1990 lên 14,23% năm
1996 và 18,62% năm 2004.
25