MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
TẠI CÔNG TY VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP
I. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NÓI CHUNG VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI SẢN
CỐ ĐỊNH NÓI RIÊNG
Công ty Vật liệu nổ công nghiệp đã khẳng định được chỗ đứng và vai trò
quan trọng trong sản xuất và cung ứng vật liệu nổ công nghiệp, dịch vụ nổ
mìn... trên thị trường. Là một công ty có chặng đường phát triển gần 40 năm,
công ty Vật liệu nổ công nghiệp có nhiều tiềm lực để phát triển. Kể từ ngày
thành lập đến nay công ty đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh thể hiện
trong việc công ty luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, mức thu
nhập bình quân của cán bộ công nhân viên tăng lên rõ rệt, cơ sở kỹ thuật
không ngừng nâng cao cũng như trình độ quản lý đang hoàn thiện dần...
1. Ưu điểm
- Công ty có quy mô sản xuất kinh doanh lớn, có nhiều đơn vị thành viên
nằm phân tán trên cả nước, vì thế công ty tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình
kế toán nửa tập trung, nửa phân tán là rất phù hợp.
- Việc áp dụng hình thức sổ Nhật ký chứng từ cho thấy trình độ nhân viên
kế toán của công ty cao, đồng đều, phù hợp với quy mô và yêu cầu quản lý của
công ty. Tại công ty, các nhân viên kế toán đều được phân công công việc phù
hợp với trình độ chuyên môn của mỗi người. Thêm vào đó, trình độ của kế toán
viên không ngừng nâng cao do công ty luôn tạo điều kiện cho nhân viên đi học
nâng cao trình độ, cập nhật những thay đổi về chế độ kế toán bằng việc mở các
lớp huấn luyện. Ngoài ra bản thân mỗi kế toán luôn thường xuyên nghiên cứu
tài liệu để trau dồi nghề nghiệp, luôn tích cực học hỏi, tranh thủ sự hướng dẫn
của những nhân viên giàu kinh nghiệm từ đó tạo hiệu quả cao trong công việc.
- Việc hạch toán kế toán trong công ty được thực hiện quá nhiều trên máy
tính do vậy công tác xử lý thông tin nhanh chóng, chính xác, các bảng tổng hợp,
sổ sách kế toán được in ra kịp thời đảm bảo cập nhật thông tin kế toán cho
người quản lý.
- Kế toán TSCĐ đã phân loại các TSCĐ hiện có theo nguồn hình thành và
theo loại tài sản, các cách phân loại này không những giúp nhà quản lý dễ
ngay trong tháng đó. Ví dụ tại tháng 7/2003 văn phòng công ty có điều chuyển
01 máy vi tính Toshiba Notebook nguyên giá 21.433.800 đồng (TSCĐ này được
đưa vào sử dụng từ tháng 01/2003 với thời gian sử dụng ước tính là 3 năm)
cho 1 đơn vị thành viên thì ngay tại tháng 7/2003 văn phòng công ty đã ngừng
trích khấu hao cho TSCĐ trên (mức khấu hao ghi giảm là 2.976.915 đồng).
- "Sổ chi tiết khấu hao TSCĐ và khấu hao TSCĐ" được kế toán mở chung
cho tất cả các loại TSCĐ. Sổ này được thiết kế có ưu điểm là theo dõi cụ thể,
chính xác nguồn hình thành TSCĐ song lại gây khó khăn trong việc quản lý,
theo dõi TSCĐ do số lượng TSCĐ tại công ty khá nhiều. Hơn thế nữa, sổ kế toán
không phản ánh rõ TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt
động phúc lợi. Điều này gây khó khăn cho việc quản lý, hạch toán TSCĐ.
- Việc lập "Thẻ TSCĐ" giúp kế toán theo dõi chi tiết từng TSCĐ dễ dàng
hơn, cho biết số chứng từ, ngày tháng ghi tăng, giảm TSCĐ, nguồn gốc TSCĐ,
cập nhật kịp thời nguyên giá, giá trị hao mòn của TSCĐ cùng lý do giảm TSCĐ
(nếu có). Song kế toán TSCĐ văn phòng công ty không lập "Thẻ TSCĐ", điều này
làm giảm hiệu quả quản lý TSCĐ tại công ty.
- Trong hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ theo chế độ kế toán và theo quy
định của Tổng công ty Than Việt Nam phải tập hợp toàn bộ chi phí sửa chữa
lớn TSCĐ phát sinh vào TK 241 (2413) rồi sau đó thực hiện bút toán kết chuyển
và phân bổ vào chi phí quản lý doanh nghiệp. Nhưng tại cơ quan văn phòng
công ty không sử dụng TK 2413 để hạch toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ. Lấy ví
dụ trường hợp thuê ngoài sửa chữa, đến khi bàn giao công trình sửa chữa
hoàn thành, đơn vị thanh toán với bên B thì kế toán mới tiến hành ghi sổ và
tập hợp luôn toàn bộ chi phí sưả chữa lớn TSCĐ vào TK 642 căn cứ vào "Hoá
đơn GTGT" do bên B lập và giao cho công ty. Điều này sẽ gây nên sự biến động
khá lớn về chi phí trong kỳ kế toán, hơn nữa thời điểm công ty thanh toán với
bên B và thời điểm khi công trình hoàn thành nhiều khi không cùng trong một
tháng nên sẽ làm cho việc phản ánh chi phí quản lý doanh nghiệp trong tháng
đó không chính xác.
- Tất cả TSCĐ tăng do đầu tư, mua sắm mới đều được kế toán tập hợp
độ quản lý, và sử dụng và trích khấu hao TSCĐ (thay thế cho Quyết định số
166/1999/QĐ - BTC) quy định việc trích hay thôi trích khấu hao TSCĐ được
thực hiện bắt đầu từ ngày mà TSCĐ tăng, giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt
động kinh doanh (Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2004).
1.2. Hạch toán sửa chữa lớn tài sản cố định
- Để phản ánh đúng tình hình sửa chữa lớn TSCĐ tại công ty, kế toán
TSCĐ cần phải sử dụng TK 241 (2413) để tập hợp chi phí sửa chữa lớn TSCĐ,
kế toán ghi:
Nợ TK 241 (2413)
Nợ TK 133 (nếu có)
Có TK 111, 152, 331...
Khi công việc sửa chữa hoàn thành, kế toán tính giá thành thực tế của
công trình sửa chữa để quyết toán số chi phí này:
Nợ TK 142, 242 (nếu sửa chữa ngoài kế hoạch)
Nợ TK 335 (nếu sửa chữa theo kế hoạch)
Có TK 241 (2413)