Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI
CHI NHÁNH CÔNG TY DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TẠI HÀ NỘI.
I - SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH VIỆT NAM VÀ THỊ TRƯỜNG DU LỊCH VIỆT NAM
TRONG TƯƠNG LAI:
Ngành du lịch Việt Nam đã có qúa trình hoạt động từ đầu những năm
1960. thời kỳ 1960-1975 chủ yếu phục vụ các đoàn khách của Đảng, Nhà nước,
hoạt động kinh doanh du lịch chiếm tỷ lệ không đáng kể. Sau năm 1975, hoạt
động kinh doanh du lịch được tổ chức trong cả nước. Đặc biệt kể từ những
năm trở lại đây, lượng khách du lịch tăng nhanh do kết quả của chính sách đổi
mới của Đảng và Nhà nước ta. Tình hình chính trị trong nước ổn định, đời sống
nhân dân đực cải thiện từng bước nên khách du lịch trong nước cũng tăng
nhanh.
Năm 1970, Việt Nam mới chỉ đón được 1816 khách du lịch quốc tế. Đến
năm 1980 đạt 4111 khách. Năm 1982 đạt 4666 khách. Cho đến những năm
1989, những khách du lịch quốc tế tới Việt Nam chủ yếu thuộc khối COMECON
theo các hiệp định ký kết và hợp tác, trao đổi chính trị – kinh tế. Nhiệm vụ của
ngành du lịch Việt Nam là đón tiếp và tổ chức tham quan trên lãnh thổ Việt
Nam.
Đặc biệt khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, lượng
khách du lịch quốc tế và đặc biệt từ những nước khu vực châu á-Thái Bình
Dương tăng nhanh. Số lượng khách quốc tế tăng liên ỵuc trong những năm trở
lại đây, thậm chí còn tăng nhanh hơn là dự tính.
Là một nước nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa với những cảnh quan tự nhiên
và điều kiện tự nhiên ưu đãi. Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển du
lịch.”phát triển du lịch cho xứng đáng với tiềm năng của du lịch Việt Nam” là
chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước ta. Nắm bắt được sự phát triển
của Việt Nam cùng với số lượng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam là mối
quan tâm của nhiề nhà lập chính sách nhằm qui hoạch phát triển du lịch một
cách có hiệu quả cũng như định hướng đúng hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp du lịch. Chính phủ đã phê duyệt dự án qui hoạch tổng thể phát
200
5
10 6.200.00 5.5 4092.0
201
0
7 8.700.00
0
6 8352.0
(Nguồn: báo cáo tóm tắt dự án qui hoạch tổng thể phát triển du
lịch Việt Nam tới năm 2010 - Tổng cục du lịch )
II - THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CỦA CHI
NHÁNH:
Là một công ty lớn kinh doanh trên nhiều lĩnh vực: lữ hành, khách sạn,
khu du lịch, vận chuyển... đối tượng khách chủ yếu của công ty du lịch Thành
phố Hồ Chí Minh là khách du lịch nước ngoài. Tổng lượng khách du lịch quốc tế
của công ty du lịch Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 là 862.110 khách.
Kinh doanh lữ hành là một mặt mạnh của công ty du lịch Thành phố Hồ
Chí Minh. Năm 2000, công ty dẫn đầu cả nước về kinh doanh lữ hành. Năm
2001 công ty du lịch Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì vị trí dứng đầu này
với 862.110 khách quốc tế.
III - MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MARKETING Ở CHI
NHÁNH:
1 - Áp dụng chiến lược marketing - mix:
1.1 Về tư tưởng:
Hiện nay vai trò của marketing trong Chi nhánh chỉ được xác định chủ yếu
ở hai hoạt động xây dựng chương trình và tính giá. Còn lại các hoạt động khác
(phân phối và khuyếch trương) là do công ty du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
đảm trách toàn bộ. Tư tưởng này là hoàn toàn đúng trong giai đoạn đầu tiên
khi mà gần như toàn bộ lượng khách tới Chi nhánh là qua đầu mối công ty.
Nhưng cho tới hiện nay thì việc xác định vai trò của hoạt động marketing ở Chi
Phàn nàn về chương trình 69 100
Cần thêm các điểm du lịch nông thôn 11 15.94
Cần thêm các điểm du lịch miền núi dân
tộc
5 7.24
Cần thêm thời gian rỗi 1 1.45
Cần thêm các điểm du lịch thành phố 5 7.27
Thêm các dịch vụ đặc trưng như xem múa
rối, đi xích lô trong thành phố
4 5.8
Cần thêm các điểm tham quan tự nhiên 2 2.9
Cần thêm các điểm tham quan nói chung 7 10.14
Chương trình chưa phù hợp 34 49.27
3
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
BẢNG :CÁC YÊU CẦU CỦA KHÁCH VỀ CHƯƠNG TRÌNH.
Khách phàn nàn chương trình chưa phù hợp là do các nguyên nhân:
- Chương trình quá dài hoặc quá ngắn.
- Các tuyến điểm sắp xếp không thuận tiện cho đi lại.
- Các điểm lưu trú ăn uống không phù hợp.
Cũng qua nhận xét của khách, ta thấy một số điểm cần quan tâm là:
- Cần nhận thức rõ yêu cầu của khách khi xây dựng chương trình bởi lẽ
cùng một chương trình có những đoàn khách cho rằng như vậy là quá dài khi
nghỉ ở một điểm này, trong khi đó có những đoàn khác lại cho rằng như vậy là
quá ngắn, chưa đủ để thưởng thức hết vẻ đẹp ở đây. (ví dụ như chương trình
tham quan vịnh Hạ Long, những khách Pháp thì thường cho rằng 3, 4 tiếng
đồng hồ đi chơi trên vịnh là chưa đủ. Trong khi đó một số khách khác lại cho
rằng chỉ cần đi chơi ở đây 1, 2 tiếng là đủ).
- Cần chú ý tới đặc điểm nghề nghiệp của khách trong xây dựng chương
điểm tham quan du lịch. do vậy Chi nhánh nên căn cứ vào yêu cầu của khách
tiến hành nghiên cứu và xây dựng thêm những chương trình phụ tạo thêm khả
năng lựa chọn để nối tour cho khách. Các chương trình phụ cần quan tâm là:
- Các chương trình du lịch về các vùng nông thôn tiêu biểu của Việt Nam,
về những vùng có nghề truyền thống cũng như có truyền thống trong xây dựng
bảo vệ tổ quốc. (hiện Chi nhánh đã có điểm du lịch Bát Tràng nên chăng xây
dựng thêm những điểm khác tương tự như vậy nhưng có nét độc đáo riêng
như gốm Bát Tràng vậy ).
- Nghiên cứu bổ sung thêm các dịch vụ như đi tham quan thành phố bằng
xích lô, cũng như tham dự các loại hình văn hoá dân gian khác.
- Với những chương trình du lịch nhỏ để khách lựa chọn nhằm nối tour thì
tiếp tuc hoàn thiện và tăng cuờng dịch vụ nhằm tăng sự hấp dẫn trong chương
trình.
Về sản phẩm Chi nhánh mà nói thì hiện thời các sản phẩm du lịch Việt
Nam nói chung và các chương trình du lịch miền Bắc nói riêng đang trong giai
đoạn phát triển của chu kỳ sống của sản phẩm. Ta có thể nhận ra điều này bởi
lẽ số lượng khách du lịch (người mua) sản phẩm vẫn đang tiếp tục tăng và số
lượng các công ty tham gia vào kinh doanh ở đây ngày một nhiều. Do vậy, hoạt
động marketing của Chi nhánh nên hướng vào hoạt động nhằm cải tiến những
chương trình du lịch, thêm những tour phụ nhằm tăng thêm tính hấp dẫn của
các sản phẩm của mình. Theo lý thuyết marketing việc cải tiến này nhằm tăng
“đặc tính của sản phẩm” và làm tăng sự thoả mãn khi tiêu dùng của khách.
1.3 Chính sách giá:
Như phần trên đã trình bày, việc xây dựng giá của Chi nhánh chủ yếu dựa
vào chi phí, doanh thu và yêu cầu về lợi nhuận đem lại. Vấn đề ưu đãi giá cho
các hãng, đại lý chưa được đề cập tới nhiều. Ngoài ra các chính sách ưu giá
marketing khác như giá đánh vào tâm lý khách chưa được vận dụng.
Đặc điểm tiêu dùng của khách của Chi nhánh và việc tính toán giá thành
như sau:
Chỉ tiêu Pháp Nhật Mỹ Khác Trung