MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CHÈ Ở VIỆT NAM
I. VỊ TRÍ CỦA CÂY CHÈ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM
1. Đặc điểm của cây chè Việt Nam
Cây chè là cây công nghiệp dài ngày được trồng lâu đời trên đất nước ta
và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế xã hội đất nước.
Về mặt lịch sử: Cây chè là cây có nguồn gốc từ Trung Quốc truyền bá ra
khắp thế giới. Cây chè có lịch sử từ rất lâu đời: từ khi phát hiện, sử dụng,
truyền bá và phát triển đến nay đã có gần 4000 năm. Do đặc tính sinh trưởng
của bản thân cây chè, sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc nên cây chè đã du
nhập vào Việt Nam từ khoảng 3000 năm trước. Nhân dân vùng biên giới của
Việt Nam đã học được cách trồng và chế biến của người Trung Quốc để phát
triển các vườn chè trồng phân tán rải rác và hái lá để uống. Ngay từ trước thế
kỷ thứ XVII, ở Việt Nam đã hình thành hai vùng sản xuất chè: chè vườn miền
trung du và chè rừng miền núi.
-Vùng chè miền trung du chủ yếu sản xuất chè tươi, chè nụ và chè băm,
chế biến đơn giản.
- Vùng chè miền núi sản xuất loại chè chi, chè mạn, lên men nửa chừng
của đồng bào dân tộc Mông, Dao,...
Kỹ thuật trồng chè thời kỳ này chủ yếu là quảng canh, có nơi coi đó là một
cây rừng chế biến đơn giản, mang tính tự cung, tự cấp trong gia đình hoặc
trong cộng đồng lãnh thổ phạm vi nhỏ.
Đến thế kỷ thứ XIX, một số người Pháp bắt đầu kiểm soát việc sản xuất và
buôn bán chè ở Hà Nội. Đến năm 1980 Paul Chaffajon xây dựng đồn điền đầu
tiên của Việt Nam tại Tĩnh Cương (Phú Thọ) nay thuộc huyện Sông Thao tỉnh
Phú Thọ với diện tích khoảng 60 ha. Đến năm 1918, thành lập Trung tâm
nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ tại Phú Hộ. Từ năm 1925, cây chè bắt
đầu phát triển mạnh, cả nước hình thành ba vùng chè chính:
-Vùng chè Tây Nguyên: Có diện tích tính đến năm 1939 là 2.759 ha, sản
lượng bình quân mỗi năm đạt 900 tấn. Đã có những đồn điền quy mô 400-500
ha. Bắt đầu hình thành một số nhà máy (thiết bị của Anh) có sản phẩm chính là
du Miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên, góp phần thúc đẩy trung du, miền núi có
điều kiện hoà hợp với miền xuôi về kinh tế, văn hoá, xã hội.
2. Vai trò của ngành sản xuất chè Việt Nam
Việt Nam là nước có tiềm năng về đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát
triển cây chè. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, theo phân công trong khối
SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế) Việt Nam là nước sản xuất chè cho các nước
XHCN. Trong những năm qua, ngành chè đã góp phần sử dụng hiệu quả đất đai
ở vùng trung du, miền núi, đặc biệt là Trung du Miền núi Bắc Bộ, đã tạo công
ăn việc làm cho hàng vạn người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo,
chuyển nền kinh tế tự cấp tự túc của đồng bào dân tộc miền núi bằng một nền
kinh tế sản xuất hàng hoá, góp phần phân công lao động giữa miền ngược và
miền xuôi. Chè cũng đem lại nguồn lợi tương đối lớn cho Ngân sách Nhà nước.
Chè có vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực:
2.1. Sản xuất chè với phát triển nông nghiệp:
Chè là cây trồng rất lâu đời ở Việt Nam, đến nay xác định được 33 tỉnh có
khả năng thích hợp nhất để trồng chè, tập trung chủ yếu ở Trung du Miền núi
Bắc Bộ và Tây Nguyên. Bên cạnh ưu thế về khí hậu, đất đai của tự nhiên nhiệt
đới Việt Nam có lợi cho sinh trưởng cây chè (mùa hái chè dài, thời gian kiến
thiết ngắn) và các nguồn gen phong phú (chè rừng miền núi), cây chè còn có
nghĩa to lớn đối với người dân:
- Những năm gần đây, việc triển khai giao đất và khoán chè cho người lao
động theo Nghị định 01 của Chính phủ cùng với những giải pháp của ngành
chè Việt Nam được giải quyết tốt việc làm cho người lao động. Cùng với cơ chế
và phương thức mua chè thuận lợi cho người lao động đã tạo động lực khuyến
khích ngươì lao động phấn khởi chủ động đầu tư thâm cạnh chè để đạt năng
suất, chất lượng cao. Ở trung du miền núi người dân có tập quán trồng lúa
nương với thu nhập trung bình là 1-2 triệu đồng/ha trong khi đó 1 ha chè trên
vùng đồi núi khô cằn thu được 10-12 triệu đồng. Điều này dẫn tới quan điểm
chuyển sang trồng chè thay vì lúa nương trong nhân dân miền núi.
- Chè là mặt hàng có thị trường và giá cả ổn định với mức dao động về giá
bước đầu đưa vào các thị trường khó tính như Tây Âu và Nhật Bản, do đó đã
đem lại một nguồn kim ngạch nhập khẩu đáng kể cho đất nước. Mỗi năm bình
quân chúng ta xuất khẩu được khoảng 50 nghìn tấn đem lại cho đất nước
khoảng 50 triệu USD.
2.4. Sản xuất chè với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Chè chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn sự phát triển của nó với việc
phát triển kinh tế xã hội các vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc khai
hoang ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Ở đây cây chè gần gũi với từng gia
đình, góp phần định cư, ổn định cuộc sống và xoá đói giảm nghèo cho đồng bào
dân tộc ít người. Hơn nữa cây chè đã tạo công ăn việc làm cho hơn 20 vạn lao
động góp phần ổn định đời sống cho 10 vạn hộ gia đình. Việc quy hoạch các
vùng sản xuất chè tập trung bao gồm sản xuất nông - công nghiệp -dịch vụ,
hình thành các cụm dân cư đã góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân.
Cây chè là cây công nghiệp lâu năm, có chu kỳ kinh tế dài nhưng nhanh
cho sản phẩm thu hoạch, là cây trồng xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế
ở vùng núi và trung du Việt Nam, góp phần thúc đẩy trung du miền núi có điều
kiện tiến kịp với các vùng khác trong cả nước. Cây chè là cây trồng có thể áp
dụng rộng rãi vào các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế trang trại. Trồng
chè sẽ mở rộng diện tích canh tác ở vùng cao cho người dân ở đây.
Ngoài ra, về mặt y học, từ xưa đến nay nước chè là thứ nước uống giải
khát phổ biến của nhân dân ta có tác dụng chống lại được lạnh, khắc phục sự
mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho
tinh thần minh mẫn, sảng khoái, hưng phấn trong thời gian lao động căng
thăng về trí óc và chân tay. Ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ sức khoẻ. Chất
catesin của chè xanh có chức năng phòng ngừa bệnh ung thư bằng cách củng
cố hệ thống miễn dịch, phòng ngừa bệnh cao huyết áp, chống lão hoá.
Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước giai đoạn 2000-
2010, và do giá trị dinh dưỡng, kinh tế, xã hội, văn hoá và bảo vệ sức khoẻ con
người nên cây chè đã được ghi vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà