PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH THANH
HOÁ TRONGTHỜI KỲ 2003 ĐẾN 2010
I. ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ THANH HOÁ GIAI ĐOẠN
2003-2010.
1. Ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế, trong nước và thị trường tới sự
phát triển của tỉnh Thanh Hoá thời kỳ 2003-2010.
1.1. Bối cảnh quốc tế khu vực và thị trường nước ngoài.
Trong những năm cuối thế kỷ XX công cuộc phát triển kinh tế xã hội theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đất nước ta đang đứng trước những
thách thức gay gắt trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và có nhiều biến
động phức tạp. Toàn cầu hoá và khu vực hoa đã trở thành một trong những xu
thế phát triển chủ yếu của quan hệ quốc tế hiện đại. Toàn cầu hoá và khu vực
hoá đã phát triển mạnh mẽ trong những năm qua và sẽ tiếp tục xu thế phát
triển này trong những năm của thế kỷ mới. Quá trình này thể hiện rất rõ trong
sự gia tăng rất nhanh trong trao đổi quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, tài chính và
các yếu tố sản xuất.
Ảnh hưởng của toàn cầu hoá kinh tế đối với nước ta: sau khi trở
thành thành viên chính thức của ASEAN và tổ chức Hợp tác kinh tế Châu á-
Thái Bình Dương (APEC), Việt Nam sắp tới sẽ tham gia vào tổ chức thương
mại quốc tế (WTO). Đây là những bước đi đầu tiên để hội nhập vào nền kinh tế
toàn cầu và tự do hoá thương mại, mà biểu hiện rõ nét nhất là đẩy mạnh vệc
gia nhập vào khu vực tự do hoá thương mại AFTA/CEPT. Bên cạnh những
thuận lợi đem lại từ quyền lợi là các thành viên của các tổ chức quốc tế như
trao đổi hàng hoá, thu hút vốn đầu tư, công nghệ kỹ thuật...Việt Nam cũng có
khó khăn trong việc điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư, các vấn đề
khu vực hành chính, dịch vụ quản lý Nhà nước song song với việc hoàn thiện
các khuôn khổ pháp lý.
Ngày nay nhiều quá trình kinh tế đã vượt ra ngoài khuôn khổ từng quốc
gia riêng lẻ. Liên kết hội nhập quốc tế và khu vực đã trở thành cơ hội và thách
thức cho sự phát triển của nhiều nước. Vì thế đã xuất hiện Liên minh Châu Âu
tiềm ẩn và tạo ra sức bật mới đưa đất nước ta phát triển, tạo điều kiện chủ
động hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát
của chiến lược 10 năm 2001-2010 là "Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân;
tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công
nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường;
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ
bản; vị thế trên trường quốc tế được nâng cao" (Trích văn kiện Đại hội IX).
Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta với sự ổn định chính trị
và thành công bước đầu trong cải cách kinh tế đã được quốc tế công nhận. Nhà
nước ta đang đứng từng bước tạo môi trường thuận lợi và hấp dẫn các nhà
đầu tư nước ngoài.
Căn cứ vào tình hình khu vực và tốc độ tăng trưởng của cả nước bình
quân hàng năm giai đoạn 1996-2000 là 7%. Chiến lược phát triển 10 năm đưa
GDP năm 2010 lên ít nhất 2 lần so với năm 2000. Tuy vậy nền kinh tế nước ta
còn phải đối mặt với những khó khăn gay gắt về thiên tai, khủng hoảng kinh tế
khu vực và thế giới ... Điều này làm cho nền kinh tế của tỉnh Thanh Hoá không
tránh khỏi ảnh hưởng của những khó khăn. Với Thanh Hoá là một tỉnh có
chính trị ổn định, kinh tế quan trọng, còn nhiều tiềm năng. Những thành tích
đã đạt được và những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của hơn 15 năm đổi mới,
những công trình hạ tầng, một số cơ sở sản xuất công nghiệp đã và đang được
đưa vào sử dụng. Tình hình chính trị -xã hội ổn định. Đó là điều kiện để phát
triển mới, với tốc độ cao và bền vững.
Tuy nhiên, những yêu cầu phải giải quyết của một tỉnh đất rộng người
đông, điểm xuất phát nền kinh tế còn thấp, tích luỹ ít trong khi trình độ kinh
nghiệm quản lý trước yêu cầu hội nhập còn nhiều bất cập: sự phân hoá giàu
nghèo, sự ô nhiễm môi trường, tệ nạn tham nhũng, quan liêu, sự gia tăng của
các tệ nạn xã hội... và những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực
hưóng nâng cao sức cạnh tranh, thực hiện hợp tác kinh tế với các nước trong
khu vực và trên thế giới. Đến năm 2006, theo tiến trình hội nhập kinh tế chúng
ta phải giảm thuế nhập khẩu, buôn bán tự do. Do vậy trong thời gian tới
chúng ta phải ra sức để tác động tích cực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói
chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng theo các quan điểm định hướng sau:
- Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước hình
thành và phát triển nền kinh tế tri thức trong tỉnh.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm tới phải tập
trung làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế xã hội, cụ thể là tiếp tục nâng cao tỷ
trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao
động, (đặc biệt là ở nông thôn) theo hướng là giảm mạnh lao động trong nông
nghiệp và tăng nhanh lao động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ. Như vậy
mới thì số lao động có kỹ thuật, trình độ chuyên môn ngày càng được nâng
cao.
- Đổi mới cơ cấu đầu tư gắn liền với nâng cao chất lượng công tác quy
hoạch đầu tư và sử dụng vốn trong các dự án đầu tư.
Quy hoạch đầu tư cần được xây dựng phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế xã hội. Trong đó cần ưu tiên vào những ngành có lợi thế về tài nguyên,
vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, nhằm khai thác những hàng hoá có chất
lượng giá rẻ, để cạnh tranh với các nước như các sản phẩm lạc
chè,đường...Trong những năm tới cần hoàn chỉnh quy hoạch chung và quy
hoạch chi tiết, trước hết là chú ý đến quy hoạch các khu trung tâm, các huyện
thị, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị giao thông cấp thoát nước...Đầu
tư phát triển nông nghiệp hàng hoá toàn diện kèm công nghiệp chế biến nông
lâm thuỷ sản, công bố các quy hoạch được duyệt đồng thời chú trọng kiểm tra
giám sát việc thực hiện quy hoạch ở cấp dưới, tạo cơ sở cho các ngành, các
huyện thị xây dựng phương án đầu tư và tổ chức thực hiện đầu tư theo kế
hoạch.
- Cải thiện và nâng cấp môi trường đầu tư và đa dạng hoá thu hút nguồn
vốn đầu tư phát triển.
ích cục bộ của từng ngành, từng địa phương.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước hoạt động một cách đầy đủ đồng bộ, đảm bảo khách quan hoá
việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Hình thành và phát triển các ngành
trọng điểm mũi nhọn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh
chóng tạo ra cơ cấu ngành kinh tế mới.
Do tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và do ảnh hưởng của nhu
cầu thị trường, danh mục mỗi ngành trọng điểm, mũi nhọn sẽ thay đổi theo
từng thời kỳ 5 năm, 10 năm, có thể ngành hiện nay chưa là mũi nhọn, trọng
điểm nhưng thời kỳ sau này sẽ trở thành ngành trọng điểm mũi nhọn. Ngành
trọng điểm có thể là ngành mới, ngành truyền thống, ngành gặp thuận lợi,
ngành gặp khó khăn trong sự phát triển, những ngành hướng về xuất khẩu
hay những ngành thay thế nhập khẩu... Thanh Hoá là một tỉnh có điểm xuất
phát thấp do vậy một mặt phải chú trọng phát triên các ngành nghề truyền
thống, khai thác thế mạnh vốn có về tài nguyên lao động, một mặt phải phát
hiện và chú trọng vào một số ngành có tính chất mũi nhọn như chế biến nông
lâm thuỷ sản, vật liệu xây dựng... vừa chú ý phát triển khai thác thế mạnh của
từng vùng, miền trong tỉnh, vừa tập trung phát triển một số vùng trọng điểm
làm động lực thúc đẩy toàn tỉnh.
- Điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế đòi hỏi phải tiến hành từng bước với
sự nỗ lực đồng bộ của các ngành, các cấp, cả người lao động trong việc huy
động sức người sức của và tổ chức thực hiện. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế phải đi đôi với quá trình đô thị hoá thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hoá
đi đôi vói đô thị hoá. Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển
xã hội, tập trung giải quyết tốt những vấn đề bức xúc nhằm tạo được chuyển
biến rõ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hộ, gắn chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế với đổi mới kỹ thuật công nghệ phù hợp.
3. Phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Thanh
Hoá.
Xuất phát từ thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh té trong những
Cơ cấu kinh tế:
Nông lâm ngư 2010 là 30%
Công nghiệp, xây dựng 33%
Dịch vụ 37%
Tỷ lệ đô thị hoá 15%
Đầu tư trung bình hàng năm 5 nghìn tỷ.
Phương án II: (Phương án trung bình)
Trên cơ sở phương án xu thế, phương án trung bình tính tới một số đột
phá trong xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất và dịch vụ ngay từ những năm
2001, tạo đà cho phát triển cao trong giai đoạn tiếp theo 2006-2010. Phấn đấu
GDP /người năm 2005 bằng 80% và năm 2010 đạt mức trung bình
GDP/người của cả nước.
Phương án này yêu cầu:
- Phát triển mạnh công nghiệp theo hướng xuât khẩu và mở rộng trao
đổi hàng hoá với bên ngoài. Chuẩn bị cơ sở cho sự phát triển công nghiệp có
hàm lượng khoa học và công nghệ cao, tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh
tranh vềgiá cả và chất lượng sau năm 2005.
- Phát triển nhanh cơ sở hạ tầng để thúc đẩy các ngành nông nghiệp,
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ...của tỉnh phát triển theo.
- Chú trọng mở mang dân trí, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Giải quyết những vướng mắc trong chính sách vay vốn, cải cách hành chính, để
thúc đẩy kinh tế ngoài quốc doanh phát triển.
Các giả thiết trên mà được thực hiện thì theo phương án này, nhịp độ
tăng GDP hàng năm thời kỳ 2001-2010 là 10,5%. Trong đó nông lâm ngư
nghiệp tăng 5% do áp dụng các biện pháp canh tác, tiên tiến, hoàn chỉnh hệ
thống thuỷ lợi, kiên cố kênh mương nội đồng, áp dụng một cách rộng rãi giống
mới vào trồng trọt và chăn nuôi...nhằm tăng năng suất, chất lượng cây trồng
và vật nuôi. Công nghiệp và xây dựng tăng từ 16-175, cao hơn phương án I, do
sự đột phá trong xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất và xã hội đã tạo điều kiện và
Tỷ lệ đô thị hoá 25%
Tổng đầu tư cần khoảng 77 nghìn tỷ
Phương án III: (Phương án cao)
Trên cơ sở của phương án II, với tăng trưởng cao hơn, có sự đột phá
trong công nghiệp và dịch vụ, phát triển mạnh công nghiệp có hàm lượng cao
ngay từ những năm 2001 và phấn đấu đến năm 2010 không những đuổi kịp
mà còn vượt mức trung bình của cả nước.
Phương án này yêu cầu:
- Phát triển thật mạnh cơ sở hạ tầng sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là tập
trung phát triển nhanh các ngành công nghiệp hướng mạnh vào xuất khẩu, có
hàm lượng khoa học và vốn cao hơn phương án II.
- Công nghiệp, xây dựng, đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây
dựng và công nghiệp lọc dầu, công nghiệp điện lực, công nghiệp chế biến nông
lâm sản phát triển ở mức độ cao hơn phương án trung bình.
- Có cơ hội hợp tác đầu tư với bên ngoài thuận lợi.
- Phải tăng cường xuất nhập khẩu và trao đổi hàng hoá, dịch vụ với cả
nước và ngoài nước, phát triển mạnh du lịch.
Kết quả của phương án III:
+ Nhịp độ tăng trưởng GDP trong thời kỳ 2001-2010 vào khoảng 12,6%,
trong đó nhịp độ tăng GDP nông lâm ngư nghiệp 6%, công nghiệp và xây dựng
19,5%, dịch vụ 11%.
+ Giá trị GDP năm 2010 tăng gấp 3,3 lần năm 2000.
+ Chuyển dịch cơ cấu GDP diễn ra cao hơn hai phương án trên. Cơ cấu
nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ năm 2005 tương ứng
là: 33,3%; 33,0%; 33,7%. Đến năm 2010 cơ cấu sẽ là: 20-22%; 42-44%; 34-
35%.
+ Cơ cấu lao động dịch chuyển nhanh hơn hai phương án trên, một phần
do chuyển dịch mạnh cơ cấu ngành. Đến năm 2010 cơ cấu lao động nông lâm
ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ tương ứng là:70%;16%;14%.
Dân số thành thị: 30% năm 2010.
Thực hiện mục tiêu phát triển trên của tỉnh trong điều kiện nền kinh tế
nước ta đang từng bước hôị nhập với khu vực và thế giới. Bởi vậy, để vừa đạt
được mục tiêu phát triển, vừa đảm bảo quá trình hội nhập, chúng ta phải kiên
quyết đồng bộ nhiều vấn đề có tính chiến lược về kinh tế - xã hội - tổ chức và
quản lý, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp với tiến trình chung
là một đòi hỏi bức xúc trong việc điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo hướng
tiến bộ, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh, sớm hoà nhập với nền
kinh tế khu vực và thế giới. Trong những năm tới, cơ cấu ngành kinh tế của
Thanh Hoá có thể chuyển dịch theo các hướng sau đây:
Cần tiếp tục giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP của tỉnh
đồng thời tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ lên một cách tương ứng.
Hiện nay, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp là 37%; của công nghiệp là 29,8%;
của dịch vụ là 33,2%. Theo mục tiêu đề ra, trong những năm tới cần tiếp tục
đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành sao cho tỷ trọng của ngành
nông nghiệp còn khoảng 24-25%, công nghiệp và dịch vụ tăng lên tương ứng
là 39-41% và 34-37% trong GDP của tỉnh vào năm 2010. Đương nhiên cũng
cần phải hiểu rằng, khu vực nông nghiệp giảm về tỷ trọng, còn khối lượng các
sản phẩm do nông nghiệp làm ra thì vẫn tăng lên. Tuy nhiên vấn đề đặt ra làđể
có được một cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế hợp lý thì quan trọng là phải tạo
ra được cơ cấu hợp lý trong từng ngành, từng lĩnh vực và trong từng nội bộ
từng ngành, từng khu vực và trong từng nội bộ từng ngành cụ thể:
* Khu vực nông nghiệp:
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm 3 ngành cơ bản là nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Trong những năm vừa qua, thực hiện công
nghiệp đổi mới, nông- lâm- ngư nghiệp có một vị trí quan trọng trong nền kinh
tế của tỉnh. Bằng các chương trình 327, chương trình đánh bắt xa bờ... Thanh
Hoá đã khai thác được thế mạnh của tỉnh diện tích rừng và đất rừng chiếm tới
63,7% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh và hơn 1,7 vạn km² diện tích vùng lãnh
hải và nhiều vùng, đầm nước mặn, nước lợ rất phù hợp cho việc nuôi trồng
thuỷ sản. Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể cơ cấu giưã nông- lâm- ngư nghiệp
nông lâm ngư nghiệp, phục vụ đời sống và xuất khẩu. Đây là những ngành
đáng quan tâm và phải được đầu tư trong thời gian tới. Cùng với quan tâm
đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị , nâng cao chất lượng, khả năng cạnh
tranhcủa các ngành nói trên, trong những năm tới cần tập trung thu hút đầu
tư xây dựng mới các khu công nghiệp động lực như các thép, chế biến sữa...
Đặc biệt xúc xây dựng nhà máy lọc dầu số 2 tạo động lực phát triển và chuyển
dịch cơ câcú ngành, các vùng trong tỉnh.
* Khu vực du lịch .
Trong thời kỳ tới đẩy mạnh phát triển thương mại, du lịch và các ngành
nghề phục vụ sản xuất đời sống. Xúc tiến các hoạt động tìm kiếm thị trường
cho hang hoá xuất khẩu đồng thời hạn chế thấp nhất viẹec xuất khẩu nguyên
liệu thô hoặc sơ chế. Tập trung đầu tư mở rộng và phát triểnmột số ngành dịch
vụ quan trọng, có tiềm năng lợi thế để phát triển, có ảnh hưởng trực tiếp sự
phát triển kinh tế của giao thông vận tải, tài chính ngân hàng , bưu chính viễn
thông. Đồng thời từng bước không ngừng nâng cao chất lượng và đa dạng hoá
các loại hình dịch vụ, tạo sự hấp dẫn thu hút đối với người sử dụng dịch vụ và
đưa dịch vụ trở thành ngành đóng góp nhiều cho ngân sách tỉnh.
4. Mục tiêu phát triển của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnhThanh
Hóa.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nghị định, chủ
trương và các biện pháp từng bước thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nghị
quyết hội nghị trung ương VII khoá VII là khâu đột phá quan trọng thúc đẩy