CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
2.1.1. Một số khái niệm về hộ nông dân và kinh tế nông hộ
2.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân đã có và tồn tại từ rất lâu, nó gắn liền với sự phát triển của
xã hội loài người và trải qua với nhiều hình thức khác nhau. Nó là một trong
những đối tượng được các nhà khoa học, các tổ chức trên các lĩnh vực khác
nhau quan tâm. Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, họ đưa ra những quan điểm
khác nhau về hộ.
- Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế người ta đã định nghĩa về
hộ như sau: "Hộ là tất cả ngững người sống chung một mái nhà, nhóm
người đó bao gồm cả những người cùng chung một huyết tộc và những
người làm công".
- Trên phương diện thống kê, Liên Hợp Quốc cho rằng: "Hộ là những người
cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ"
- Theo Raul Hunnena Giáo sư đại học Tổng hợp Lisbon thì: "Hộ là những
người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình
sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng đồng"
- Về hộ nông dân thì theo Giáo sư Fnan Kellis -1988: " Hộ nông dân là các
nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao
động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn
nhưng cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường
hoạt động với một trình độ không cao.
2.1.1.2. Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Thông thường trong mỗi quá trình nghiên cứu về hộ nông dân đều bao
hàm cả nghiên cứu về kinh tế nông hộ. Giống như hộ gia đình, hộ nông dân
cũng được xác định dưới nhiều quan điểm khác nhau, song dù xem xét ở góc độ
nào thì bản chất của nó vẫn không thay đổi.
Theo "kinh tế hộ nông dân" XB năm 2000 của TS. Đỗ Văn Viện và Th.S
Đặng Văn Tiến thì: " Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của
nền sản xuất xã hội. Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động,
tế hộ có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp nông
nghiệp khác. Nếu gặp điều kiện thuận lợi hộ có thể tập trung mọi nguồn lực
vào sản xuất để mở rộng sản xuất, khi gặp điều kiện bất lợi họ dễ dàng thu hẹp
quy mô, thậm chí hộ có thể trở về sản xuất tự cung tự cấp.
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích người lao động.
Trong kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế lẫn huyết tộc
và có chung ngân quỹ nên dễ dàng có được sự nhất trí, sự đồng tâm, hiệp lực
để cùng nhau phát triển kinh tế hộ của mình. Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa
kết quả sản xuất với người lao động. Lợi ích kinh tế đã thực sự trở thành động
lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản
xuất của kinh tế hộ.
- Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất nhỏ nhưng lại rất hiệu quả, quy mô
nhỏ lại không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp. Trên thực tế nông hộ
vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao
năng xuất lao động. Trong thực tế đã chứng minh nông hộ là lao độngơn vị sản
xuất kinh doanh thích hợp nhất với đặc điểm trong sản xuất nông nghiệp.
-Kinh tế hộ nông dân sử dụng các lao động và tiền vốn của chủ hộl là
chủ yếu.
2.1.3. Phân loại nông hộ.
Trong sản xuất nông nghiệp kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế được
phát triển từ thấp đến cao, từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa.
Vì vậy nếu căn cứ vào mức độ phát triển kinh tế nông hộ ta có thể chia
ra các nhóm sau:
- Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển thấp của kinh tế hộ, các hộ
thuộc nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây trồng vật nuôi chủ yếu nhằm duy
trì cuộc sống của gia đình họ. Họ hầu như không có hoặc có rất ít vốn, công cụ
sản xuất thì thô sơ, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp và họ tiến hành
sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
- Nhóm kinh tế hộ tự túc: Nhóm này sản xuất ra lương thực thực phẩm
cung cấp cho nhu cầu gia đình hàng ngày, sản xuất còn manh mún, lạc hậu
không có đất đai, số lượng và chất lượng đất đai sẽ quy định lợi thế so sánh
của mỗi vùng trong sản xuất nông nghiệp. Hướng sử dụng đất quy định hướng
sử dụng các tư liệu sản xuất khác, chất lượng đất cao hay thấp lại ảnh hưởng
đến năng suất cây trồng, vật nuôi. Vì vậy đất đai ảnh hưởng rất lớn đến sự
phát triển của kinh tế nông hộ. Chính vì vậy với một diện tích đất canh tác có
hạn mỗi hộ cần có kế hoạch sử dụng sao cho phù hợp để có được hiệu quả kinh
tế cao nhất.
+ Vốn đầu tư cho sản xuất: vốn là giá trị của toàn bộ đầu vào, bao gồm
những tài sản, vật phẩm trong sản xuất kinh doanh. Cũng như các ngành sản
xuất khác. Trong nông nghiệp vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hóa. Vốn quyết định đến quy mô sản xuất từ đó ảnh hưởng
đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến
khả năng khai thác các nguồn lực vào sản xuất. Vốn được xếp vào các yếu tố
chủ quan vì chủ hộ có quyền huy động hoặc quyết định phân bổ vốn theo chu
kỳ sản xuất. Vốn được tạo ra từ hai nguồn cơ bản là vốn tự có và vốn đi vay.
Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không nó quyết định đến sự phát triển của
kinh tế hộ. Nếu ta cố định các yếu tố khác, chỉ xét riêng ảnh hưởng của vốn
đến thu nhập của hộ thì vốn đầu tư cho sản xuất và thu nhập của hộ là hai đại