CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ BỊ ĐỘNG
(OUTBOUND)
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Kinh doanh lữ hành:
Theo nghĩa rộng:
Dựa vào cách tiếp cận “ lữ hành” là thực hiện việc di chuyển từ nơi này
đến nơi khác bằng bất kỳ phương tiện gì, với bất kỳ lý do nào, bất kỳ thời gian
nào, có hay không trở về nơi xuất phát lúc đầu, thì kinh doanh lữ hành được
hiểu là tổ chức các hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ đã được sắp đặt
trước theo đúng yêu cầu của con người trong sự di chuyển đó.
Theo nghĩa hẹp:
Trong thực tế để tiện lợi, dễ dàng trong công tác quản lý, để phân biệt
kinh doanh lữ hành với các lĩnh vực kinh doanh khác trong du lịch thì người
ta định nghĩa kinh doanh lữ hành là kinh doanh chương trình du lịch.
Ở Việt Nam trong các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý nhà nước
về du lịch người ta định nghĩa kinh doanh lữ hành như sau:
Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các
chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.2. Các loại hình và điều kiện kinh doanh lữ hành:
1.1.2.1. Các loại hình kinh doanh lữ hành:
Thông tư số 04/2001/TT-TCDL ngày 24-12-2001 của Tổng cục Du lịch
phân loại kinh doanh lữ hành thành 2 loại chính, đó là:
+ Kinh doanh lữ hành nội địa.
+ Kinh doanh lữ hành quốc tế.
• Kinh doanh lữ hành nội địa: là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện
các chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa.
• Kinh doanh lữ hành quốc tế: là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện
các chương trình du lịch cho khách du lịch quốc tế.
1.1.2.2. Điều kiện kinh doanh lữ hành:
Thông tư số 04/2001/TT-TCDL ngày 24-12-2001 của Tổng cục Du lịch
quy định điều kiện kinh doanh lữ hành như sau:
thể gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa.
1.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH DOANH LỮ
HÀNH QUỐC TẾ BỊ ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH:
Trong hoạt động kinh doanh các công ty lữ hành thường chịu tác động
của nhiều nhân tố khác nhau. Những nhân tố đó được gọi là môi trường kinh
doanh của doanh nghiệp, người ta thường nghiên cứu dưới ba góc độ như sau:
1.2.1. Môi trường vĩ mô:
Bao gồm những yếu tố bên ngoài phạm vi của doanh nghiệp nhưng có
thể gây ra những ảnh hưởng lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp không thể kiểm soát được môi trường vĩ mô, hơn nữa sự thay
đổi phát triển của môi rtường vĩ mô là khó có thể dự đoán trước ví dụ như
tỷ gía, công nghệ.. Mặt khác ảnh hưởng của những thay đổi trong môi
trường hoàn toàn khác nhau đối với từng doanh nghiệp. Các tác động phụ
thuộc rất nhiều vào vai trò, vị trí, khả năng của doanh nghiệp và không phải
mỗi thay đổi của môi trường đều ảnh hưởng tới hoạt động của doanh
nghiệp.
1.2.2.Môi trường cạnh tranh trực tiếp :
Chứa đựng những yếu tố có tác động tương đối trực tiếp đến hoạt động của
doanh nghiệp. Môi trường này gồm ba thành phần chủ yếu là khách hàng, các
nhà cung cấp và các đối thủ cạnh tranh. Để nghiên cứu tác động của môi
trường cạnh tranh trực tiếp đến doanh nghiệp, Michael Porter đã đưa ra 5 thế
lực cơ bản:
Sự xâm nhập thị trường của các doanh nghiệp mới. Các doanh nghiệp
mới thâm nhập vào thị trường sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh của các doanh
nghiệp đang hoạt động. Sự cạnh tranh diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực từ
phân chia thị trường đến các nguồn cung cấp, các hoạt động khuyến mại.
Thế lực của các nhà cung cấp. Các nhà cung cấp có thể tác động tới
tương lai và lợi nhuận của doanh nghiệp nói riêng và cả ngành công nghiệp
nói chung. Họ có thể tăng giá bán hoặc hạ thấp chất lượng để đạt được lợi
nhuận cao hơn. Tuỳ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, doanh nghiệp có thể hạn
Giai đoạn 5: Tổ chức thực hiện các chương trình du lịch
Các hoạt động hỗ trợ sau khi thực hiện xong các chương trình
du lịch.
Sơ đồ 1- Quy trình kinh doanh chương trình du lịch trọn gói.
1.3.1. Giai đoạn 1: Thiết kế chương trình du lịch
Tổchức
kênhtiêu
thụ
- L aự
ch nọ
các
kênh
tiêu
th .ụ
Tổ chức
thực
hiện
- Th aỏ
thuậ
n
- Chuẩ
n bị
th cự
Tổchức
xúc tiến
- Tuyên
truyề
n
- Qu ngả
cáo
đến quyết định tổ chức chuyến đi vào thời gian nào của nhà thiết kế. Tuy nhiên,
quyết định này không nhất thiết phải sau thời điểm mà có thể trước nhưng
không quá lâu.
+ Quan hệ 4: Mức giá của chương trình phải làm sao phù hợp với thu
nhập và khả năng chi tiêu cho các nhu cầu vui chơi, giải trí, đi du lịch... của đa
số khách.
+ Quan hệ 5: Cơ cấu, số lượng, chủng loại các dịch vụ lưu trú, vận chuyển,
ăn uống... được lựa chọn phải phù hợp đặc điểm tập quán tiêu dùng của từng
loại khách.
• Nghiên cứu khả năng đáp ứng
Khả năng đáp ứng thường thể hiện ở hai yếu tố cơ bản là: tài nguyên
du lịch và khả năng sẵn sàng đón tiếp phục vụ khách du lịch. Vì vậy, nghiên cứu
khả năng đáp ứng chính là việc xem xét hai vấn đề sau:
+ Nghiên cứu các tài nguyên du lịch
Để lựa chọn được chính xác, ta phải căn cứ vào giá trị đích thực của tài
nguyên gồm:
- Uy tín và sự nổi tiếng của tài nguyên.
- Giá trị văn hóa, tinh thần, thẩm mỹ... mà tài nguyên đó có thể đem lại cho
khách du lịch.
- Điều kiện giao thông, an ninh trật tự và môi trượng tự nhiên ở nơi có tài
nguyên du lịch.
- Tài nguyên được lựa chọn phải phù hợp với mục đích và ý tưởng của
chương trình du lịch.
+ Nghiên cứu các nhà cung ứng dịch vụ cho chuyến:
Thông qua việc xem xét đánh giá trên các mặt uy tín, chất lượng, giá cả
của từng loại dịch vụ và mối quan hệ với chính công ty lữ hành, xác định khả
năng và vị trí của công ty. Sau khi đã nghiên cứu cung và cầu trên thị trường
du lịch, công ty phải xác định khả năng kết hợp hai nhân tố trên như thế nào
để có thể xây dựng một chuyến du lịch đạt hiệu quả cao nhất căn cứ vào vốn
(chi phí), cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ nhân viên.