Hoạt động thanh tra và giám sát ngân hàng - Pdf 64

Hoạt động thanh tra và giám sát ngân hàng.
2.1 Ủy ban Basel và hệ thống các nguyên tắc thanh tra giám sát
hoạt động Ngân hàng
Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Uỷ ban bao gồm các
chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi một số Thống đốc
Ngân hàng Trung ương vào năm 1975. Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp
của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng tại 10 quốc gia trên thế giới, bao
gồm Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Canada, Thụy Điển và Bỉ.
Quan điểm của Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc
gia có thể ảnh hưởng tới sự ổn định về tài chính không chỉ trong phạm vi quốc
gia đó mà trên phạm vi toàn cầu. Chính vì thế, đây là vấn đề cần được cơ quan
giám sát tại các quốc gia và Ủy ban Basel về Giám sát Nghiệp vụ ngân hàng đặc
biệt quan tâm.
Trong quá trình hoạt động, Uỷ ban đã xây dựng và xuất bản hai nhóm ấn phẩm
chủ yếu: 1) Bộ các nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt động của ngân
hàng một cách có hiệu quả; và 2) Bộ sách hướng dẫn (được cập nhật định kỳ)
với các khuyến nghị hiện nay của Uý ban Basel, các hướng dẫn và tiêu chuẩn.
Nhóm ấn phẩm nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel (25 nguyên tắc)
Bộ 25 nguyên tắc cơ bản Basel là tài liệu dành cho cán bộ thực hiện công tác
giám sát ở các quốc gia và cả trên phạm vi quốc tế. Các nguyên tắc này đã được
thiết kế cho các chuyên gia giám sát, nhóm giám sát khu vực và thị trường nói
chung theo nguyên tắc dễ áp dụng và kiểm chứng. Uỷ ban Basel sẽ cùng với các
tổ chức liên quan khác đóng vai trò nhất định trong việc giám sát tiến độ áp
dụng các nguyên tắc trên đây của các quốc gia nhằm xây dựng hệ thống giám
sát đủ mạnh. Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nhóm nội dung chủ yếu sau:
- Các Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát
ngân hàng hiệu quả: cụm chủ đề này được thể hiện bởi nguyên tắc 1. Nguyên
tắc chỉ ra điều kiện của một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng có hiệu quả
là: i) phải có một khung pháp lý phù hợp; ii) phân định mục tiêu, nguồn lực và
trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan giám sát; iii) quy định về chia sẻ và bảo
mật thông tin.

năng lực quản trị điều hành yếu...). Trong trường hợp khẩn cấp, hoạt động can
thiệp này bao gồm cả việc thu hồi giấy phép lập tức hoặc đề nghị thu hồi giấy
phép hoạt động.
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề nghiệp vụ ngân hàng xuyên biên giới: cụm
chủ đề này bao gồm từ nguyên tắc số 23 đến nguyên tắc số 25 với nội dung
hướng dẫn giám sát đối với các nghiệp vụ giao dịch ngân hàng quốc tế, yêu cầu
các ngân hàng nước ngoài hoạt động theo đúng các tiêu chuẩn cao bằng tiêu
chuẩn của các ngân hàng trong nước và thiết lập quan hệ và hệ thống trao đổi
thông tin với các chuyên gia giám sát khác, đặc biệt là với chuyên gia giám sát
của nước sở tại.
Bộ sách hướng dẫn được cập nhật tháng 6 năm 2006 (10 nguyên tắc)
Tháng 6 năm 2006, Uỷ ban Basel đã phát hành tài liệu hướng dẫn với nội dung
“Đánh giá chính xác rủi ro tín dụng và định giá khoản cho vay”. Tài liệu bao
gồm 10 nguyên tắc được chia làm 2 chủ đề chính: i) những vấn đề giám sát liên
quan đến đánh giá chính xác rủi ro tín dụng và định giá khoản cho vay và ii) vấn
đề đánh giá rủi ro tín dụng các khoản cho vay về phía cơ quan giám sát.
Về những vấn đề giám sát liên quan đến đánh giá chính xác rủi ro tín dụng và
định giá khoản cho vay. Phần này bao gồm 7 nguyên tắc đầu tiên với các vấn đề
được đề cập như sau:
_ Ban giám đốc của ngân hàng phải có trách nhiệm bảo đảm ngân hàng có
trình tự đánh giá rủi ro tín dụng phù hợp và hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả
phù hợp với tính chất, quy mô và tính phức tạp của nghiệp vụ cho vay của đơn
vị đồng thời phù hợp với chính sách, hệ thống kế toán và hướng dẫn giám sát
của nước sở tại
_ Ngân hàng phải có một hệ thống phân loại khoản cho vay đáng tin cậy dựa
trên cơ sở rủi ro tín dụng
_ Chính sách của ngân hàng phải được mô hình đánh giá rủi ro tín dụng nội bộ
nhất định phê chuẩn
_ Ngân hàng phải phê chuẩn và ban hành phương pháp quản lý tổn thất khoản
cho vay hợp lý trong đó đề cập đến: quy trình, chính sách đánh giá rủi ro tín

có chức năng thanh tra chuyên ngành như mọi cơ quan thanh tra trong các Bộ,
cơ quan ngang bộ khác. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế
việc thực thi có hiệu quả chính sách giám sát ngân hàng. Bên cạnh đó, việc phân
định chức năng, phối hợp nghiệp vụ và trao đổi thông tin giữa các cơ quan thực
hiện giám sát chủ yếu bao gồm: Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam và Bộ Tài chính chưa được quy định cụ thể gây khó khăn trong
quá trình tác nghiệp, hoạt động chồng chéo. Phương pháp thanh tra giám sát
đang từng bước được đổi mới nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý. Kiểm
tra tại chỗ, thanh tra tuân thủ vẫn là nội dung hoạt động chủ yếu, khả năng giám
sát toàn bộ thị trường tiền tệ, cảnh báo sớm và ngăn ngừa rủi ro còn yếu.
Những vấn đề nói trên đặt ra yêu cầu phải đổi mới toàn diện hệ thống giám sát
cả về tổ chức và phương pháp thực hiện. Cải cách là tất yếu, nhưng nếu cải cách
quá chậm sẽ khiến chúng ta phải gánh chịu chi phí cơ hội ngày càng lớn và rủi
ro đổ vỡ sẽ không chờ đợi bất kỳ ai, vì bất cứ nguyên nhân gì. Đề án phát triển
ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ban
hành kèm theo Quyết định 112/2006/QĐ-TTg ngày 24 tháng 5 năm 2006 của

Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra lộ trình xây dựng khung pháp lý quan trọng cho
hoạt động ngân hàng như xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (mới),
Luật các Tổ chức tín dụng (mới), Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Giám sát an toàn
hoạt động ngân hàng. Trong quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng và hoạt động
giám sát, Việt Nam cần nghiên cứu các quy trình, chuẩn mực quốc tế (Bộ các
nguyên tắc Basel là một trong số đó) để hoạt động giám sát thực sự là chốt chặn
an toàn cho nền kinh tế.
2.2 Hệ thống CAMELS trong giám sát hoạt động của các Ngân
hàng.
Hệ thống CAMELS là hệ thống đánh giá hoạt động Ngân hàng toàn diện,
được dùng phổ biến trên thế giới. Để góp phần nâng cao hiệu quả thanh tra giám
sát Ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Các thanh tra viên sử dụng báo cáo giám sát CAMELS để tiến hành xếp hạng

thấp hơn mức độ trung bình rất nhiều. Nếu không được tiến hành kiểm tra thì tổ
chức tín dụng này có thể dẫn đến nguy cơ mất năng lực hoạt động.
Xếp hạng 5 : Mức độ này cho thấy hoạt động của tổ chức tín dụng là rất kém và
đòi hỏi cần phải được chú ý giám sát ngay. Hoạt động này thường đi kèm với
những yếu kém và nguy cơ mất năng lực hoạt động của tổ chức tín dụng.
Việc xếp hạng cho từng cấu phần được tiến hành độc lập nhưng cũng cần xem
xét mối quan hệ với các cấu phần khác. Mức xếp hạng quá cao hoặc quá thấp
cho một cấu phần có thể dẫn đến điều chỉnh tăng hoặc giảm xếp hạng cho các
cấu phần khác.
Ví dụ, một Ngân hàng cho chỉ số xếp hạng cho cấu phần vốn được dự tính ở
mức 1 nhưng nếu cấu phần chất lượng tài sản có lại được xếp hạng ở mức 4 thì
mức xếp hạng của cấu phần vốn nên được điều chỉnh giảm xuống ít nhất là ở
mức 2 hoặc thấp hơn nữa để cho thấy sự thiếu mức vốn đảm bảo có mối quan
hệ với chất lượng tài sản xấu. Tương tự đối với việc xếp hạng cho cấu phần thu
nhập và thanh khoản vì những cấu phần này cũng chịu những tác động tiêu cực
khi chất lượng tài sản kém. Trong một tình huống khác, việc xếp hạng cao cho
cấu phần quản lý có thể dẫn đến không điều chỉnh thấp đi cho các xếp hạng của
các cấu phần khác bởi vì chất lượng của quản lý có thể giúp tổ chức tín dụng
vượt qua được những khó khăn tạm thời.
2.2.2 Xếp hạng cấu phần.
C – Mức đảm bảo vốn
Một ngân hàng cần duy trì một mức vốn đảm bảo chống đỡ với các loại rủi ro
đặc trưng của ngân hàng và khả năng quản lý để xác định, đo lường,kiểm soát
và điều chỉnh những rủi ro này. Những tác động của rủi ro tín dụng, rủi ro thị
trường và các rủi ro khác đối với hoạt động của ngân hàng có thể xem như
thước đo đánh giá mức độ đủ vốn của ngân hàng. Các loại hình và mức độ rủi ro
tác động đến hoạt động của một ngân hàng sẽ quyết định đến mức vốn cần duy
trì them trên mức vốn tối thiểu theo quy định để từ đó có thể đề phòng những
hậu quả xấu mà những rủi ro này có thể có đối với mức vốn của ngân hàng.
Mức đảm bảo vốn nên được xếp hạng dựa trên những yếu tố đánh giá sau :

khoản nợ có vấn đề. Mức đảm bảo dự phòng nợ và khả năng có thể xử lý và thu
hồi các khoản nợ có vấn đề chính là yếu tố tác động tốt, ở một chừng mực nào
đó, đến khả năng khắc phục những khó khăn có thể xảy ravới các nhóm nợ.
Việc đánh giá chất lượng tài sản có nên xem xét đến các mức độ tập trung tín
dụng hoặc đầu tư, bản chất và số lượng của các nhóm nợ đặc biệt, và tính hợp lý
của các chính sách cho vay và các quy trình thủ tục tín dụng.
Chất lượng tài sản có được đánh giá dựa trên những tiêu thức sau :
- Khả năng đảm bảo các tiêu chuẩn bảo lãnh nợ, khả năng điều hành và quản lý
tín dụng, và các năng lực quản lý rủi ro cần thiết khác.
- Số lượng, sự phân bổ tình trạng và xu hướng của các tài sản có vận động đã
phân loại, không tính cộng dồn, cơ cấu lại,quá hạn và không hoạt động trên cả
nội bảng lẫn ngoại bảng.
- Mức độ đảm bảo dự phòng cho mất nợ và các dự phòng tài sản khác.
- Những rủi ro tín dụng có thể tăng hoặc giảm thông qua các hoạt động ngoại
bảng như các cam kết nợ không được thực hiện, các cam kết tín dụng, các thư
tín dụng thương mại hoặc bảo lãnh.
- Khả năng đa dạng hóa vá chất lượng của các khoản nợ và các danh mục đầu
tư.
- Mức độ tập trung hóa tài sản.
- Tính hợp lý của các chính sách cho vay, đầu tư cũng như các thủ tục có liên
quan.
- Khả năng quản lý trong việc xử lý các tài sản bao gồm cả việc phát hiện kịp
thời và thu hồi được những khoản nợ có vấn đề.
- Năng lực kiểm soát nội bộ và hệ thống thông tin quản lý
- Số lượng và bản chất của những hồ sơ tín dụng đặc biệt.
Xếp hạng : Xếp chất lượng tài sản có ở mức 1 và 2 không đòi hỏi nhu cầu cần
thanh tra giám sát. Cả hai mức độ xếp hạng này đều cho thấy một danh mục nợ
và đầu tư của ngân hàng ở mức tốt, mặc dù xếp hạng ở mức 1 được hiểu là mức
độ và thực trạng của các nhóm nợ là tốt hơn mức 2. Xếp hạng ở mức 3 đòi hỏi
một mức giám sát nhất định, đặc biệt trong hoàn cảnh có những xu hướng tiêu

của mình, để lên kế hoạch và đối phó với những rủi ro có thể có do những thay
đổi trong điều kiện kinh doanh hoặc những cải cách để đưa ra những sản phẩm
dịch vụ và hoạt động mới.
- Khả năng đưa ra và thích ứng với những chính sách nội bộ và kiểm soát hoạt
động kinh doanh cũng như rủi ro của những hoạt động chư yếu.
- Tính chính xác kịp thời và hiệu quả của hệ thống thông tin quản lý và hệ thống
kiểm soát rủi ro tương ứng với quy mô sự phức tạp và rủi ro của ngân hàng.
- Tính hợp lý của kiểm toán và kiểm soát nội bộ nhằm tạo động lực cho các hoạt
động của ngân hàng được hiệu quả và đảm bảo tính tin cậy cho các báo cáo tài
chính và báo cáo thanh tra, các tài sản đảm bảo, đồng thời cũng đảm bảo sự tuân
thủ với các quyết định, chỉ thị và hướng dẫn của thanh tra và các chính sách nội
bộ.
- Mức độ thực hiện và tuân thủ với các quyết định và chỉ thị và khả năng đáp
ứng với các khuyến nghị của kiểm toán viên và các thanh tra viên có thẩm
quyền.
- Kết quả và sự thành công của các nhà lãnh đạo cao cấp.
- Mức độ mà ban quản lý và hội đồng quản trị phải chịu sự chi phối, tác động và
kiểm soát của chủ sở hữu chính.
- Tính hợp lý của các chính sách khen thưởng , tránh tình trạng tập trung quyền
lực và mâu thuẫn lợi ích.
- Xem xét khả năng thích ứng với các yêu cầu có tính pháp lý của ngân hàng
trong hệ thống, và hoạt động tổng thể của ngân hàng cũng như các rủi ro của nó.
Xếp hạng : Xếp hạng ở mức 1 tức là hoạt động quản lý của ngân hàng đảm bảo
ở mức hiệu quả toàn diện với tất cả các yếu tố và khả năng ứng phó và xử lý với
tất cả những vấn đề hiện tại và những vấn đề dự tính có thẻ xảy ra với hoạt động
của ngân hàng. Mức xếp hạng 2 cho thấy một vài điểm yếu những nhìn chung là
thỏa mãn những yêu cầu của hoạt động quản lý.Mức 3 cho thấy hoạt động quản
lý chưa đủ thỏa mãn để đối phó với những tình huống trong hoạt động ngân
hàng. Hoặc là hoạt động quản lý này được đánh giá ở mức vừa phải, có thẻ trên
trung bình một chút, hoặc dưới mức trung bình theo quy mô hoặc loại hình ngân

ngân hàng có mức thu nhập xoay quanh một mức tuyệt đối hoặc thậm chí có xu
h đi xuống có thể được xếp hạng 2 tức là mức thu nhập của ngân hàng này được
xem là thỏa mãn các đánh giá thu nhập đã neu trên. Thông thường ngân hàng
này có chỉ số thu nhập trùng hoặc trên một chút so với nhóm đồng hạng. Mức
xếp hạng 3 gắn liền với mức thu nhập được cho là không đủ để đảm bảo trích
dự phòng mất nợ và đảm bảo tăng trưởng vốn đều theo kịp với tố độ tăng
trưởng ngân hàng. Thu nhập của những ngân hàng này có thể chỉ thể hiện dưới
các mức thu nhập có tính tuyệt đối hoặc những xu hướng thu nhập không thống

Trích đoạn Phương pháp đánh giá và xếp loại các tổ chức tín dụng theo CAMELS vận dụng ở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status