TÌNH HÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH NHNo và PTNT ĐỊNH CÔNG
1. Tổng quan về chi nhánh NHNo&PTNT Định Công
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh
Sở giao dịch I (SGD I) là một bộ phận của Trung tâm điều hành NHNo&
PTNT Việt Nam và là một chi nhánh trong hệ thống ngân hàng nông nghiệp.
Ngày 14/04/2003, Sở giao dịch I đổi tên thành Chi nhánh NHNo& PTNT Thăng
Long. NHNo&PTNT Thăng Long ra đời và đi vào hoạt động trên cơ sở kế thừa
và mở rộng các hoạt động của SGD I trước đây. Hiện nay NHNo& PTNT
Thăng Long có 9 chi nhánh và 4 phòng giao dịch. Với mục đích mở rộng mạng
lưới chi nhánh hoạt động để thu hút nguồn vốn và cung cấp tín dụng và các dịch
vụ ngân hàng cho các tổ chức,cá nhân, dân cư trên khu vực Định Công cũng
như các khu vực lân cận khác, chi nhánh NHNo &PTNT Định Công- một chi
nhánh trực thuộc NHNo&PTNT Thăng Long đã được thành lập.
Chi nhánh NHNo&PTNT Định Công được thành lập theo Quyết Định số
112/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 19/05/2003 của chủ tịch hội đồng quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam,trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại phòng giao dịch Định
Công. Chi nhánh Định Công là chi nhánh cấp 2 loại 4, và là đơn vị phụ thuộc
NHNo&PTNT Thăng Long, có con dấu riêng, bảng cân đối tài khoản, có cơ cấu
tổ chức theo quy định tại khoản 3 điều 11 chương III và thực hiện các nhiệm vụ
theo điều 10 chương II Quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh
NHNo&PTNT Việt Nam.
Các căn cứ thành lập chi nhánh NHNo&PTNT Định Công:
Căn cứ Điều lệ về tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT Việt
Nam, ban hành kèm theo Quyết Định số 117/QĐ/HĐQT-NHNo, ngày 3/6/2002
của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam đã được Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước chuẩn y tại Quyết định số 571/2002/QĐ-NHNN ngày
5/6/2002.
Căn cứ Quyết định số 17/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 12/2/2003 của Chủ
tịch HĐQT- NHNo&PTNT Việt Nam về việc đổi tên Sở giao dịch
NHNo&PTNT thành chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
Căn cứ vào tờ trình số 383/CNTL-tt ngày 12/5/2003 của Giám đốc
trải qua không ít khó khăn cũng như thử thách. Dưới sự chỉ đạo của
NHNo&PTNT Việt Nam, mà trực tiếp là NHNo&PTNT Thăng Long cùng với
sự đoàn kết nhất trí cao của cán bộ công nhân viên tại chi nhánh, chi nhánh
NHNo&PTNT Định Công đã hoạt động có hiệu quả, hoàn thành được các
nhiệm vụ mà cấp trên giao. Chi nhánh đã khẳng định đượcvị trí và vai trò của
mình thông qua kết quả hoạt động. Hiện nay chi nhánh NHNo&PTNT Định
Công đang có những bước tiến vững chắc và tự tin, các năm hoạt động chi
nhánh đều có lãi. Sự phát triển của chi nhánh đã góp phần vào sự phát triển
chung của hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT
Thăng Long nói riêng. Bên cạnh đó nhờ sự hoạt động có hiệu quả của chi nhánh
mà đời sống của cán bộ công nhân viên của chi nhánh được đảm bảo và cải
thiện, từ đó giúp cán bộ công nhân viên tại chi nhánh yên tâm công tác và làm
việc có hiệu quả hơn.
1.2. Cơ cấu tổ chức của chi nhánh
Cùng với phương châm hoạt động chung của NHNo&PTNT Việt Nam là
cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả và an toàn, hiện nay cơ cấu tổ chức của chi
nhánh NHNo&PTNT Định Công bao gồm: Một giám đốc, một phó giám đốc,
17 cán bộ dài hạn, 10 cán bộ ngắn hạn. Đến nay chi nhánh mới chỉ có 2 phòng:
• Phòng kế toán với 10 cán bộ dài hạn, 7 cán bộ ngắn hạn.
• Phòng tín dụng với 7 cán bộ dài hạn, 3 cán bộ ngắn hạn.2. Tình hình hoạt động của chi nhánh NHNo&PTNT Định Công
Qua 4 năm đi vào hoạt động chi nhánh NHNo&PTNT Định Công đã thu
được những kết quả đáng ghi nhận về mọi mặt. Hoạt động của chi nhánh đã góp
phần cung ứng nhanh chóng về nhu cầu vốn cho khách hàng, số lượng khách
hàng đến giao dịch tại chi nhánh không ngừng tăng lên qua các năm. Chi nhánh
luôn hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao và có những mục tiêu hoạt động
đúng đắn.
2.1. Hoạt động huy động vốn
3 Tiền gửi tiết kiệm 100.000 87.002 90.153
3.1
Tiền gửi không kì
hạn
2.589 1.160 2.752
3.2
Tiền gửi có kì hạn
dưới 12 tháng
25.457 26.499 22.231
3.3
Tiền gửi có kì hạn từ
12 đến 24 tháng
63.362 51.789 55.660
3.4
Tiền gửi có kì hạn từ
24 tháng trở nên
8.592 7.554 9.510
4 Tổng nguồn 186.000 319.866 448.709
(Nguồn báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004,2005,2006)
Theo số liệu trên ta có thể nhận thấy, qui mô nguồn vốn của chi nhánh
không ngừng được mở rộng: Năm 2005 nguồn vốn huy động được tăng lên so
với năm 2004 là 133.866 triệu đồng, năm 2006 qui mô nguồn vốn tăng lên so
với năm 2005 là 128.843 triêu đồng. Qui mô nguồn vốn tăng lên do qui mô tiền
gửi của các thành phần kinh tế tại chi nhánh tăng lên. Trong đó, nguồn tiền gửi
tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn. Khoản tiền gửi có kì
hạn từ 12 đến 24 tháng có xu hướng giảm tuy nhiên vẫn luôn chiếm tỷ lệ cao
nhất trong khoản tiền gửi tiết kiệm, khoản tiền gửi có kì hạn từ 24 tháng trở lên
lại có xu hướng tăng lên. Điều này giúp cho ngân hàng có thể mở rộng được
nguồn vốn để cho vay trung và dài hạn. Bình quân vốn huy động trên một cán
bộ tại chi nhánh tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, qui mô nguồn vốn tại chi
53,825 50,845 44,238
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004,2005,2006)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng dư nợ có sự biến động giảm qua các
năm.Năm 2003 là năm chi nhánh chính thức đi vào hoạt động, năm 2004 tổng
dư nợ tăng lên so với năm 2003 là 136.951 triệu đồng. Nhưng sang đến năm
2005 tổng dư nợ giảm 17.879 triệu đồng so với năm 2004, năm 2006 tổng dư nợ
giảm 39.642 triệu đồng so với năm 2005. Cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trong
cao nhất trong tổng dư nợ tại chi nhánh, nhưng tỷ trọng này giảm dần qua các
năm. Trong khi ấy cho vay trung hạn có xu hướng tăng qua các năm. Điều này
thể hiện những chiến lược kinh doanh đúng đắn của chi nhánh và phù hợp với
xu thế phát triển chung của hệ thống ngân hàng là tăng tỷ trọng cho vay trung
và dài hạn, giảm tỷ trọng cho vay trung và dài hạn.
Bảng 2.6: Phân loại dư nợ theo thành phần kinh tế
Đơn vị: Triệu đồng
STT Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
1 Cho vay với DNNN 5.857
2 Cho vay DNNQD 127.787 78.818 128.572
3
Cho vay TD với cá
nhân, hộ gia đình
191.333 226.254 132.715
4 Tổng dư nợ 322.951 305.072 265.430
5 Nợ xấu 2.537 2.761 2.522
6
Tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ(%)
0.78 0.9 0.95
Nhìn vào bảng số liệu trên, ta nhận thấy rằng cho vay với cá nhân và hộ
gia đình luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ. Tuy nhiên có thể dễ
dàng nhận thấy rằng cho vay với cá nhân, hộ gia đình có xu hướng giảm cả về
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2004,2005, 2006)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy được, hoạt động của chi nhánh
NHNo&PTNT Định Công các năm đều có thu đủ bù chi và có lãi. Tổng thu
tăng dần qua 3 năm. Thu từ dịch vụ cũng có xu hướng tăng lên, điều này khẳng
định công tác tuyên truyền, quảng bá thương hiệu và sản phẩm đã được chi
nhánh làm khá tốt. Số lượng khách hàng đến giao dịch và sử dụng các dịch vụ
ngân hàng tại chi nhánh ngày càng tăng, điều này không phải dễ đối với một chi
nhánh mới đi vào hoạt động từ năm 2003.
Hệ số lương tại chi nhánh qua các năm đều tăng, điều này có ý nghĩa hết
sức quan trọng. Nó không chỉ có ý nghĩa khuyến khích cán bộ công nhân viên
của chi nhánh yên tâm công tác, gắn bó với chi nhánh, mà còn thể hiện hoạt
động ngày càng hiệu quả của chi nhánh.
3. Tình hình cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHNo&PTNT Định công
3.1. Tình hình cho vay tiêu dùng của chi nhánh qua các năm
Hiện nay cho vay tiêu dùng và cho vay với doanh nghiệp vừa và nhỏ
chiếm chủ yếu trong tổng dư nợ của chi nhánh. Tuỳ theo tình hình của từng năm
và những kế hoạch được NHNo& PTNT Thăng Long giao mà trong từng thời kì
chi nhánh có những chiến lược khác nhau với các loại hình cho vay trên.
Trong 3 năm 2004, 2005,2006 cho vay tiêu dùng luôn chiếm tỷ trọng cao
nhất trong tổng dư nợ của chi nhánh. Đặc biệt năm 2005 cho vay tiêu dùng
chiếm tới 74,16% dư nợ. Năm 2003 chi nhánh mới đi vào hoạt động, cho vay
tiêu dùng cũng đạt 105500 triệu đồng, chiếm 56,7% dư nợ. Như vậy có thể nói
cho vay tiêu dùng là hình thức tín dụng được quan tâm và chiếm vị trí quan
trọng trong hoạt động tín dụng của chi nhánh Định Công.