CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ
VÀ SỰ CAN THIỆP CỦA NHTW
I-/ CÁC LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ
Tỷ giá từ trước tới nay là một vấn đề khó, khó trong cả cách xác định và
trong cả cách can thiệp, điều chỉnh. Chẳng thế mà nhà kinh tế tiền tệ nổi tiếng
Milton Fridman phải nói rằng: chúng ta đang dong buồm trên hải trình chưa
được lập hải đồ và cần phải có thời gian để nhận biết tuyến đường an toàn. Từ
trước tới nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu vấn đè này trên nhiều
góc độ khác nhau và đưa ra cáclý thuyết về tỷ giá với các quan điểm khác
nhau. Mỗi người đều gắng tìm cho được một mô hình, kết luận "đứng ngoài
thời gian" nhưng chưa ai thành công cả. Chính vì vậy, các kết luận của các nhà
kinh tế này vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện phát triển cho đến ngày nay tạo
lên sự duyên dáng và hấp dẫn cho " tỷ giá".
1-/ Các lý thuyết về tỷ giá:
Tỷ giá được đề cập đến sớm nhất bởi David Ricardo vào đầu thế kỷ 19 với
lý thuyết thông số sức mua dưạ vào đồng tiền được được đảm bảo bằng vàng.
Sau đó được Karl Marx chuyển sang một hướng tiếp cận khác từ góc độ giá trị
lao động. Sang thế kỷ 20, tỷ giá được các nhà kinh tế hiện đại tiếp xúc ở các
góc độ rất khác nhau đưa ra những kết luận có khi đối lập. Để có thể tiếp nhận
được những nội dung cơ bản các các lý thuyết về tỷ giá, xin được chia thành
hai quan điểm lớn như sau:
1.1-/ Quan điểm của Karl Marx và các nhà Marxist
Dựa trên học thuyết về giá trị lao động và lý thuyết tiền tệ thế giới- tiền tệ
có chức năng thước đo giá trị, Marx cho rằng tỷ giá là tương quan sức mua
giữa hai đồng tiền của hai quốc gia, do đó phản ánh tỷ lệ thước đo giá trị lao
động giữa hai quốc gia. K.Marx đưa ra một kết luận hết sức biện chứng là chỉ
cái quan trọng không phải là cung- cầu tiền tệ mà là các nhân tố đứng đằng
sau tác động lên cung cầu nghĩa là tỷ giá quyết định bởi tương quan sức mua
giữa đồng nội tệ, ngoại tệ và hàng loạt các nhân tố khác, về bản chất. Đây là
một kết luận quan trọng mở ra một hướng nghiên cứu mở về sau, phù hợp với
từng thờikỳ. Do vậy, trong quá trình ngiên cứu các nhà Marxist đã kết luận
khẩu, cạnh tranh với bên ngoài. ở lý thuyết này, J.Keynes đã đưa ra hàngloạt các
quan hệ giữa tỷ giá- việc làm, giá cả, xuất nhập khẩu và cạnh tranh một cách xác
thực.
* Lý thuyết tỷ giá cân bằng: Lý thuyết này không đề cập đến tỷ giá như là
tương quan giữa sức mua của hai đồng tiền mà họ cho rằng nó là một cái gì đó
khác ngoài tương quan sức mua mà nó đem lại sự cân bằng của nền kinh tế
(của các yếu tố kinh tế vĩ mô cơ bản). Đây là một lý thuyết hết sức có ý nghĩa
cho việc can thiệp của các chính phủ nhằm đem lại một trạng thái kinh tế lý
tưởng, nhưng nó rất khó xác định thế nào là cân bằng, có thể đồng thời cân
bằng tất cả các cân bằng cơ bản mâu thuẫn nhau hay không?
* Lý thuyết các ngoại tệ chủ chốt: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự
phát triển của kỹ thuật quân sự, Mỹ tiến hành thao túng nền kinh tế tư bản.
Thông qua kế họach Marshall, Mỹ ra sưc bành trướng và củng cố sức mạnh
đồng USD lý thuyết các ngoại tệ mạnh ra đời chỉ ra sự cầnthiết phải có một/
một số ngoại tệ mạnh làm cơ sở dự trữ và thanh toán quốc tế, USD trở thành
đồng tiền có sức mạnh độc tôn cùng với một số đồng tiền của một số nước tư
bản mạnh khác (về sau này) như: GBP, JPY, FRF, DEM. Lý thuyết này được áp
dụng cho sau này khi với sự ra đời của đồng SDR (Special Drawing Right).
Trong lý thuyết này, tỷ giá bị can thiệp bởi yêú tố chính trị, quân sự và phản
ánh sự tương quan sức mạnh kinh tế chứ không phản ánh một mối quan hệ
cung cầu cụ thể.
* Lý thuyết tỷ giá linh hoạt: Chế độ tỷ giá hối đoái cố định của Bretton
Wood sụp đổ đòi hỏi cần phải có chế độ tỷ giá phù hợp với điều kiện mới.
Milton Friedman cùng một số nhà kinh tế đại học Chicago đưa ra học thuyết
tiền tệ (thuyết trọng tiền) trong đó đề xuất một chế độ tỷ giá linh hoạt (thả
nổi) chế độ này dựa trên việc tỷ giá phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường
và không có sự can thiệp của chính phủ. Học thuyết này cho rằng, tỷ giá có mối
liên hệ trực tiếp bởi mức cung tiền, giá cả, việc làm. Chính phủ thực hti các
chính sách tiền tệ thường không hiệu quả và bóp méo giá cả (thông tin của thị
trường). Do vậy, Chính phủ không nên can thiệp nhiều vào tiền tệ, tỷ giá. Lý
Sau đây chúng ta lần lượt xem các nội dung cơ bản của một số mô hình
chủ yếu:
2.1-/ Mô hình ngang giá sức mua: (Purchasing Power Parity- PPP)
Lý thuyết này do David Ricardo đề xướng, nó tiếp cận tỷ giá thông qua thị
trường hàng hoá và định nghĩa tỷ giá là tương quan sức mua ( tương quan giá
cả của hàng hoá) giữa hai đồng tiền của hai quốc gia. Mô hình này dựa trên
điều kiện thương mại quốc tế cạnh tranh hoàn hảo ( thị trướng tự do mua đi
bán lại, chi phí vận chuyển bằng không, không có bảo hộ mậu dịch).Khi đưa
vào điều kiện này, mô hình đưa ra một quy luật dó là quy luật một giá (Law of
one price): với điều kiện cạnh tranh thương mại quốc tế hoàn hảo, giá của
cùng một loại hàng hoá bán được bán ở các thị trường khác nhau là như nhau
nếu tính bằng một loại tiền tệ
Quy luật này được thể hiện ở hai hình thức: tương đối vàtuyệt đối như sau:
2.1.1-/ Hình thức PPP tuyệt đối
Hình thức này được thể hiện qua công thứcthính tỷ giá là
S = P/ P* (1)
Trong đó: S: Tỷ giá số đồng nội tệ cần thiết để đổi một đồng ngoại tệ
P: Mức giá trong nước
P*: Mức giá nước ngoài.
Mô hình này cho ta thấy sự tăng mức giá chung trong nước sẽ ngay lập
tức tạo ra sự giảm giá của đồng nội tệ và ngược lại. Tỷ giá ở đây là linh hoạt
hoàn toàn để phản ánh sức mua của các đồng tiền( tình trạng giá cả hàng hoá
của hai quốc gia).
2.1.2. Hình thức PPP tương đối.
Hình thức này phát triển hình thức trên thông qua việc xem xét ảnh
hưởng của tỷ lệ lạm phát lên giá cả ( sức mua tiền tệ) và đưa ra phương trình:
d(∆ S) = d(∆P) - d(∆ P*) (2)
Trong đó:
d(∆ S): Tỷ lệ giảm giá đồng nội tệ
d(∆P): Tỷ lệ lạm phát nội địa
PP
ββ
αα
−+
−+
=
−+
−+
=
**
*
/)1(
/)1(
./
TN
TN
ii
PP
PP
SPP
ββ
αα
2.2-/ Mô hình lý thuyết đàn hồi:
Mô hình này do Robinson đề xướng năm 1947 nhằm giải quyết mối quan
hệ giữa tỷ giá-độ nhạy của hoạt động xuất nhập khẩu với giá cả.
Robinson cho rằng: Sự điều hoà trên thị trường sản phẩm quốc tế về cung
đàn hồi là không hoàn thiện. Khi có sự thặng dư trong cán cân thương mại
(Balance of Trade BOT), tỷ giá thực sẽ điều chỉnh cho đến khi BOT là cân bằng.
Sự biến động của tỷ giá thực cànglớn/ nhiều nếu cung-cầu hàng hoá càng ít co
giãn theo giá cả.
Alexander (1952), Johnson (1958) hoàn chỉnh lý thuyết này và nhấn mạnh
tính đàn hồi của xuất nhập khẩu với thu nhập, nghĩa là các biến đổi của thu
nhập tác động đến xuất nhập khẩu và những biến đổi của xuất nhập khẩu
mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào trạng thái thu nhập.
Năm 1989, 1991, Krugman bổ sung và chỉ ra rằng: Giá xuất khẩu là kém
nhạy cảm so với giá nội điạ; có tính không thể đảo ngược của đầu tư thương
mại cần thiết cho sản xuất ( ví dụ như các nước đang phát triển phải nhập
khẩu với mọi mức giá để hiện đại hoá công nghệ). Do hai đặc tính này nên sự
co giãn giữa giá cung và giá cầu sẽ giảm nhẹ. Điều đó giải trình tại sao lại có
sự biến động lớn của tỷ giá thực khi hệ thống Bretton Wood sụp đổ. Krugman
cũng chỉ ra rằng hoạt động ngoại thương đàn hồi còn phụ thuộc cả vào tốc độ
tăng trưởng.
Tóm lai, mô hình lý thuyết đàn hồi chỉ tập trung vào thị trường hàng hoá
thông qua cân bằng thương mại và đã khá thành công khi giaỉ quyết mối quan
hệ tỷ giá- độ co giãn xuất nhập khẩu theo giá.
2.3-/ Các mô hình từ cách tiếp cận tiền tệ:
Các mô hình từ góc độ tiếp cận tiền tệ tập trung xem xét mối quan hệ giữa
tỷ giá và mức cung tiền của các đồng tiền. Nó được phát triển dựa trên ba giả
thiết cơ bản như sau:
1. Vốn được tự do luân chuyển ở cả phạm vi trong, ngoài quốc gia do vậy
nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển từ tài sản này sang tài sản khác được định
danh bằng các đồng tiền khác nhau sao cho có lợi nhất
Dựa trên ba giả thiết trên, hướng tiép cận tiền tệ đưa ra ba mô hình xác
định tỷ giá như sau:
2.3.1. Mô hình giá cả linh hoạt
Vì giá cả là linh hoạt nên ta thấy quy luật PPP được duy trì liên tục tức là
S = P/P*⇔ Log S =logP - log P* ⇔ s = p - p* (6)
Mô hình này sử dụng hàm cầu tiền nội địa thông thường như sau:
m - p = αy- βi (7)
Trong đó:
m: log (cơ số tiền nội địa)
p: log(mức giá chung nội đia)
y: log(thu nhập thực tế trong nước)
i: lãi suất danh nghĩa trong nước.
Tương tự, ta có hàm cầu tiền ngoại tệ như sau:
m* - p* = αy* - βi* (8)
Trong đó:
m*: log(cơ số tiền nước ngoài)
p*: log(mức giá chung ngoại tệ)
y*: log(thu nhập thực tế nước ngoài)
i*: lãi suất danh nghĩa ngoại tệ.
Từ (7)-(8) ta có:
p -p* = (m-m*)- α (y -y*)+β (i- i*) (9)
Theo (5) ta có S= p- p*, nên (9) thành:
.s = (m-m*)-α (y -y*) + β (i-i*) (10)
Như vậy, theo phương trình này: ba nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá là:
tương quan mức tiền cơ sở (m-m*), tương quan thu nhập thực tế (y- y*),
tương quan lãi suất (i-i*).
Với các điều kiện khác không đổi thì: sự tăng lên của lãi suất danh nghĩa
đồng nội tệ sẽ dẫn tới sự giảm giá đồng nội tệ; sự tăng lên của thu nhập thực
tế nội địa sẽ dẫn tới sự lên giá của đồng nội tệ; sự tăng lượng tiền cơ sở (tăng
cung tiền)sẽ dẫn tới giảm giá đồng nội tệ.
Trong ngắn hạn, sự thay đổi của tỷ giá tuỳ thuộc vào tốc độ điều chỉnh
S2
S*
t1
t
S
S1
i
( a, a>0) của tỷ giá trở về trạng thái cân bằng PPP. Do đó, ta có:
d(∆S) = i -i* ( trong ngắn hạn) nên:
i -i* = -a (s - s
l
) ⇔ s = s
l
-1/a (i -i*) (17)
Thay (16) vào ta có:
s = (m-m*)-α (y -y*) - 1/a (i -i*)
Như vậy, theo mô hình này, sự tăng lãi suất trong ngắn hạn, dẫn đến sự
tăng giá đồng nội tệ, ngược lại so với mô hình giá cả linh hoạt.
Mô hình Dornburch còn có thể được mô tả đơn giản qua sơ đồ như sau:
(Biểu đỏ ở trang sau)
Qua biểu đồ trên ta có thể thấy như sau:
- Tại thời điểm trước t1, các yếu tố cân bằng nhau: S1 tương ứng với M1,
i1, P1. Tại thời điểm t1, khi có sự tăng cung tiền ( M1→ M2) thì:
- Trongngắn hạn, do giá cả cố định nên nhà đầu tư có xu hướng muốn giữ
tiền( đầu cơ), làm lãi suất giảm từ i1→i2 dẫn đến tỷ giá tăng mạnh từ S1→S2.
- Trong dài hạn, do lãi suất thấp, nhà đầu tư đầu cơ, nhu cầu hàng hoá
tăng dẫn tới giá tăng dần dần lên đến P2. ở thị trường tiền tệ, do giá ở thị
trường hàng hoá tăng dẫn tới lãi suất tăng dần và tỷ giá cũng giảm dần đến S*
là mức cần bằng dàihạn mới:
l
- 1/a β .(-m+p- αy-βi*)
. s =- 1/a β .P + s
l
- 1/a β .(m - αy-βi*) (20)
0
P
M2
M2
G2
G2
PPP
45o
M1
A
M1
G1
G1
P2
C
P1
S1 S*2 S'2
S
* GG là đường diễn trả sự cân bằng thị trường hàng hoá ứng với mức giá
và tỷ giá khác nhau. Đường này được lập lên từ giả thiết:
Tỷ lệ lạm phát = c(d - y), trong đó d= log(tổng cầu), y= log( tổng cung), c
là cơ số tỷ lệ. Đường GG cho rằng: sự giảm giá của đồng nội tệ (tỷ giá tăng)
dẫn tới sự tăng cầu xuất khẩu và sự tăng lên này sẽ dẫn tới sự tăng giá. Nhưng
sự tăng giá hàng hoá lại dẫn tới tăng lãi suất, trong dài hạn, sự tăng lãi suất
lại làm giảm cầu và làm giảm bớt sự tăng giá hàng hoá. Do đó, giá tăng ít hơn
Trong dài hạn ta có:
s
l
= (m- m*) - α (y-y*) +β( r-r*) (25)
Vì i- i* =r- r* ( các biến động lãi suất thực triệt tiêu)
Thay (25) vào (24) ta có:
.s =(m- m*) - α (y-y*) +β( r-r*)-1/a.[ (i- r) -(i*-r*)] (26)
Công thức (26) cho thấy tỷ giá bị ảnh hưởng bởi chênh lệch lãi suất thực
giữa hai đồng tiền. .[ (i- r) -(i*-r*)]; sự tăng lên của lãi suất thực đồng nội tệ sẽ
dẫn đến sự lên giá của đồng nội tệ trong ngắn hạn.
Tóm lại, trong cách tiếp cận tiền tệ, ta có một số nhận xét như sau:
- Các mô hình tập trung giải quyết mối quan hệ cung cầu tiền nội, ngoại
tệ- tỷ giá. Rõ ràng rằng, tỷ giá là giá của tiền nên nó chịu sự tác động của khối
lượng tièn tệ, tỷ giá là một hiện tượng tiền tệ.
- Các mô hình tiền tệ đều dựa trên PPP về dài hạn.
- Qua các mô hình cũng có thể thấy được tác động của các nhân tố như
thu nhập quốc dân, lạm phát, lãi suất thực, danh nghĩa lên tỷ giá nhưng
thôngqua việc nó liên hệ trực tiếp tới khối lượng tiền tệ:
(m = p +α y -β i)
- Mô hình tiền tệ đã bỏ qua sự lựa chọn tài sản khác nhau do tính rủi ro
của mỗi loại khác nhau ( điều kiện 2: No premium risk). Nó cũng chưa giải
thích tình trạng tài khoản vãng lai tác động như thế nào lên tỷ giá.
2.4-/ Các mô hình tiếp cận từ thị trường tài sản:
Mô hình tiền tệ đã bỏ qua sự khác nhau giữa độ rủi ro của các tài sản, do
đó đã không cho thêm tỷ lệ lợi tức yêu cầu phụ trội trong tỷlệ lợi tức mong đợi.
Trong cácmô hình tài sản, vấn đề này được đề cập đến qua công thức:
i -i* = d(∆ s) + PR (27)
Trong đó:
i, i* là lãi suất danh nghĩa ( tỷ lệ lợi tức mong đợi) của đồng nội, ngoại tệ.
d(∆ s) : tỷ lệ giảm giá đồng nội tệ
Sơ đồ 1:
Trong số các mô hình đưa ra, có một mô hình đáng được chủ ý là mô hình
áp dụng cho các quốc gia nhỏ. Mô hình này dựa trên giả thuyết là quốc gia
đang xét nhỏ đến mức mà sự thay đổi tièn tệ của nó không dẫn đến phản ứng
của các quốc gia khác. Mô hình này được tiến hành lần lượt như sau:
Thị trường có thể chia thành hai bộ phận là chính phủ và các cá nhân. Mỗi
bên có thể giữ : tiền mặt (M), trái phiếu bằng nội tệ(B) và trái phiếu bằng
ngoại tệ(F). Chính phủ không qun tâm tới sự lỗ lãi của hoạt động can thiệp mà
chỉ thực thi các can thiệp chức năng. Ta quan tâm hơn tới giới tư nhân và
tỏng của từngloại tài sản. ở đây ta có: B =Bp +Ba
B: Tổng số trái phiếu bằng nội tệ hiện có
Bp: Số trái phiếu nội tệ tư nhân giữ.
Ba: Số trái phiế nội tệ do Chính phủ giữ
F =Fp + Fa
F: Tổng số trái phiếu ngoại tệ hiện có
Fp: Số trái phiế ngoại tệ tư nhân giữ