Hoàn thiện chương trình Kiểm toán chu kỳ Hàng tồn kho, chi phí và giá thành tại Công ty TNHH kiểm toán và Tư vấn Nexia ACPA - Pdf 64

LỜI NÓI ĐẦU
Trong các loại hình kiểm toán hiện đang tồn tại ở Việt Nam, kiểm toán độc lập
ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình. Kiểm toán độc lập được hiểu
là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm
toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu kế toán cũng như các báo cáo
quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi
có yêu cầu của các đơn vị này. Một trong những hoạt động chủ yếu của kiểm toán độc
lập là kiểm toán Báo cáo tài chính, đó là sự xác minh và bày tỏ ý kiến về Báo cáo tài
chính của khách hàng. Thông qua công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động tài chính của
doanh nghiệp, kiểm toán độc lập đã góp phần vào việc làm trong sạch hoá, lành mạnh
hoá nền tài chính Quốc Gia.
Để có thể đưa ra những ý kiến trung thực và hợp lý về các Báo cáo tài chính,
kiểm toán viên cần kiểm tra xem xét từng bộ phận cấu thành nên Báo cáo tài chính
trong đó có khoản mục hàng tồn kho. Số dư các khoản mục hàng tồn kho luôn được
đánh giá là trọng yếu, liên quan đến nhiều chỉ tiêu quan trọng trên Báo cáo tài chính và
đặc biệt rất dễ chứa đựng các gian lận và sai sót, do đó kiểm toán chu chu kỳ hàng tồn
kho, chi phí, giá thành là một trong những công việc quan trọng cần phải tiến hành
trong mỗi cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính. Qua thời gian tìm hiểu thực tế, nhận thức
sâu sắc tầm quan trọng của công tác này tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện chương trình
Kiểm toán chu kỳ Hàng tồn kho, chi phí và giá thành tại Công ty TNHH kiểm toán
và Tư vấn Nexia ACPA”.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiếp cận công tác kiểm toán hàng tồn kho theo
chu trình trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty kiểm toán và Tư vấn Nexia
ACPA thực hiện.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng lý thuyết về kiểm toán đặc biệt là
kiểm toán chu chu kỳ hàng tồn kho, chi phí, giá thành trong kiểm toán Báo cáo tài
chính kết hợp với những kiến thức thực tế từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cùng những
kiến nghị để hoàn thiện chương trình kiểm toán phần hành này.
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
Trên cơ sở phạm vi, mục đích nghiên cứu nêu trên, nội dung của Luận văn ngoài
phần mở đầu và kết luận bao gồm ba chương:

Như vậy, có rất nhiều hình thức tồn tại khác nhau của hàng tồn kho, tuỳ thuộc
vào từng loại hình doanh nghiệp. Trước hết, phải thấy hàng tồn kho là tài sản lưu động
của doanh nghiệp biểu hiện dưới hình thái vật chất, có thể được mua ngoài hoặc tự sản
xuất để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp thương
mại, HTK chủ yếu là hàng hóa mua về để bán. Đối với các doanh nghiệp sản xuất HTK
thường bao gồm nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng cho sản xuất, sản
phẩm dở dang trong dây chuyền sản xuất, thành phẩm trong kho chờ bán.
1.1.1.2. Đặc điểm của hàng tồn kho ảnh hưởng đến công tác kiểm toán
Hàng tồn kho luôn là trung tâm của sự chú ý trong cả lĩnh vực kế toán và kiểm
toán cũng như trong các cuộc thảo luận của các chuyên gia kế toán. Kiểm toán HTK
thường được coi là một trong những công việc quan trọng, mất nhiều thời gian nhất đối
với mỗi cuộc kiểm toán BCTC. Sở dĩ kiểm toán HTK quan trọng như vậy là vì:
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
3
TK 911
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
- Hàng tồn kho thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản lưu động của
doanh nghiệp, các nghiệp vụ liên quan đến HTK diễn ra thường xuyên, do đó rất dễ xảy
ra các gian lận và sai sót với quy mô lớn, ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.
- Trong kế toán có nhiều phương pháp khác nhau để xác định giá trị của HTK
như: phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp giá thực tế đích danh, phương
pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước... nếu áp dụng các
phương pháp khác nhau sẽ đưa ra những kết quả khác nhau. Điều này có ảnh hưởng trực
tiếp tới giá trị HTK, đặc biệt, việc xác định giá vốn hàng bán có thể gây ra sai sót trên
bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Hàng tồn kho trong doanh nghiệp được bảo quản và cất trữ ở nhiều nơi khác
nhau, do nhiều người quản lý, với mỗi loại HTK khác nhau thì điều kiện bảo quản cũng
khác nhau, tuỳ thuộc vào yêu cầu của từng loại. Vì thế mà công việc kiểm kê, quản lý và
sử dụng HTK gặp nhiều khó khăn, dễ xảy ra gian lận, sai sót.
- Thêm vào đó có một số khoản mục HTK rất khó đánh giá, phân loại như các linh

vào Phiếu nhập kho. Sau đó, thủ kho chuyển Phiếu nhập kho lên phòng kế toán để thông
báo số lượng hàng nhập kho. Trong khâu này kiểm toán viên cần khảo sát quá trình bảo
quản hàng tồn kho như điều kiện hệ thống kho tàng, bến bãi…đánh giá trình độ, trách
nhiệm, tính trung thực và đáng tin cậy của thủ kho.
1.1.2.4. Chức năng xuất kho vật tư hàng hoá
Bộ phận kho phải chịu trách nhiệm về số hàng mà mình quản lý, trong bất kỳ
trường hợp xuất hàng nào, bộ phận kho cũng yêu cầu người nhận vật tư phải có Phiếu
yêu cầu sử dụng vật tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
1.1.2.5. Chức năng sản xuất
Việc sản xuất được kiểm soát chặt chẽ thông qua kế hoạch sản xuất nhằm bảo
đảm cho doanh nghiệp sản xuất hàng hoá đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng đồng
thời phải bảo đảm chuẩn bị đầy đủ các yếu tố về nguyên vật liệu và nhân công cho yêu
cầu sản xuất trong kỳ. Sản phẩm sau khi kết thúc quá trình sản xuất luôn được kiểm
định chất lượng trước khi nhập kho thành phẩm hoặc chuyển đi tiêu thụ. Hoạt động
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
5
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
kiểm soát này nhằm phát hiện ra những sản phẩm hỏng hoặc kém chất lượng đồng thời
ngăn tình trạng giá trị HTK cao hơn giá trị thực của nó. Quá trình sản xuất cũng bao
gồm quá trình kiểm kê xác định số lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ và đánh giá mức độ
hoàn thành của các sản phẩm dở này.
1.1.2.6. Chức năng lưu kho thành phẩm
Sau khi đã được kiểm tra chất lượng, sản phẩm sẽ được nhập kho chờ bán. Để
nhập kho thành phẩm cần phải xác định được số lượng và giá thành của thành phẩm
nhập kho. Khi thành phẩm đã được nhập kho, phiếu nhập kho được chuyển lên phòng
kế toán để thông báo số lượng thành phẩm đã nhập kho.
1.1.2.7. Chức năng xuất thành phẩm đi tiêu thụ
Để xuất thành phẩm ra khỏi kho phải có sự phê chuẩn của người có trách nhiệm.
Khi xuất kho thành phẩm, thủ kho lập phiếu xuất kho.
Hệ thống KSNB được xây dựng dựa trên các chức năng của chu kỳ hàng tồn kho,

Tính đầy đủ
Tất cả các nghiệp vụ mua, kết
chuyển và tiêu thụ hàng tồn
kho xảy ra trong kỳ đều được
phản ánh trên sổ sách kế toán
và các báo cáo
Số dư tài khoản hàng tồn kho
đã bao hàm tất cả nguyên vật
liệu, công cụ, dụng cụ, sản
phẩm, hàng hoá hiện có tại
thời điểm lập Bảng cân đối kế
toán
Quyền và nghĩa
vụ
Doanh nghiệp có quyền sở
hữu và sử dụng đối với số
hàng tồn kho đã ghi trên sổ
sách kế toán của doanh
nghiệp
Doanh nghiệp có quyền đối
với số dư hàng tồn kho tại
thời điểm lập Bảng cân đối kế
toán
Tính toán và đánh
giá
Chi phí nguyên vật liệu và
hàng hoá thu mua, giá thành
sản phẩm, sản phẩm dở dang
phải được xác định chính xác
và phù hợp với quy định của

nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện khác cho KTV và công ty
kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA số 300 về Lập kế hoạch kiểm toán đã
nêu rõ "Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm
bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả".
Như vậy, việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu của chính
cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản đã được quy định thành chuẩn mực và đòi
hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành cuộc kiểm toán
có chất lượng và hiệu quả. Bên cạnh đó, lập kế hoạch kiểm toán hỗ trợ đắc lực cho việc
thực hiện kiểm toán, giúp cho công ty kiểm toán tiết kiệm chi phí kiểm toán nhưng vẫn đảm
bảo hiệu quả công tác kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán đối với hàng tồn kho bao gồm
các bước công việc như sau:
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
8
Giai đoạn I
Lập kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn II
Thực hiện kiểm toán
Giai đoạn III
Kết thúc kiểm toán
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
Sơ đồ 1.2: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
1.2.2.1. Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán được bắt đầu bằng khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán
tiếp nhận một khách hàng, trên cơ sở thư mời kiểm toán kiểm toán viên sẽ tiến hành các
công việc cần thiết bao gồm:
- Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng, điều tra về khách hàng và đánh giá khả
năng chấp nhận kiểm toán. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá việc
chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng truyền
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
9

hưởng trọng yếu đến BCTC”.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310 về “Hiểu biết về tình hình kinh
doanh” quy định: “Để thực hiện kiểm toán BCTC, kiểm toán viên phải có hiểu biết cần
thiết, đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích được các sự kiện, các
nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo kiểm toán viên thì
có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo
cáo kiểm toán”.
Theo các quy định này thì khi lập kế hoạch kiểm toán hàng tồn kho kiểm toán
viên cần thực hiện ở bước:
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
10
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
 Tìm hiểu các thông tin về hàng tồn kho của khách hàng: như các chủng
loại, đặc điểm từng chủng loại hàng, công tác bảo quản hàng tồn kho và quy trình mang
tính pháp lý của khách hàng. Đối với khách hàng năm đầu tiên, kiểm toán viên thường
thu nhập các thông tin sau:
- Ngành nghề kinh doanh
- Các chủng loại và đặc điểm của từng chủng loại hàng tồn kho
- Công tác bảo quản hàng tồn kho
- Báo cáo tài chính, Biên bản thanh tra hay kiểm tra của các năm trước và năm
hiện hành, Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc liên
quan đến hàng tồn kho...
Đối với những khách hàng thường xuyên của công ty kiểm toán thì các thông tin
này được lưu trữ trên hồ sơ kiểm toán chung của khách hàng đó và các kiểm toán viên
chỉ cần thu nhập thêm các thông tin liên quan đến năm hiện hành.
Những thông tin này được kiểm toán viên thu thập thông qua một số phương
pháp như: phòng vấn Ban Giám đốc, Kế toán trưởng, các nhân viên của khách hàng và
quan sát thực tế.
 Xem xét lại kết quả kiểm toán hàng tồn kho của cuộc kiểm toán trước và
hồ sơ kiểm toán chung: các hồ sơ kiểm toán năm trước chứa đựng rất nhiều thông tin về

thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán và thường thực hiện trong
tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA số
520 về "Quy trình phân tích" quy định "Kiểm toán viên phải thực hiện các quy trình
phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể về cuộc kiểm toán".
Nhìn chung trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán hàng tồn kho, thủ tục phân
tích sơ bộ rất đơn giản. Kiểm toán viên chỉ tiến hành công việc phân tích đối với một số
chỉ tiêu liên quan đến hàng tồn kho trên BCTC.
- Sau đó kiểm toán viên có thể so sánh tỷ trọng của từng loại hàng tồn kho
(nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá, hàng gửi đi bán...) để tìm
hiểu sự bất thường của từng khoản mục chi tiết. Tuy nhiên, khi tiến hành so sánh giữa
các kỳ, kiểm toán viên phải loại trừ sự ảnh hưởng do biến động của yếu tố giá cả.
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
12
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
1.2.2.5. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro tiềm tàng của hàng tồn kho
Đánh giá tính trọng yếu
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA số
320 về "Tính trọng yếu trong kiểm toán" quy định rõ: "Khi lập kế hoạch kiểm toán,
kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được để làm tiêu chuẩn
phát hiện những sai sót trọng yếu về mặt định lượng".
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải đánh giá mức độ trọng yếu
để ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được từ đó xác định phạm vi
của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC. Kiểm toán viên
cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC sau đó phân bổ cho từng khoản mục
trên BCTC.
Mức độ trọng yếu được xác định trong từng cuộc kiểm toán và chỉ có ý nghĩa
trong cuộc kiểm toán đó. Mức độ trọng yếu phụ thuộc vào các yếu tố sau: qui mô và
hoạt động của doanh nghiệp; hệ thống tổ chức và quản lý của doanh nghiệp; kinh
nghiệm của kiểm toán viên đối với doanh nghiệp; các yếu tố định tính như quy định
của pháp luật, quy chế của doanh nghiệp.

mang nặng tính chủ quan dễ gây sai phạm.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 về “Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ” quy định “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do công ty kiểm toán và KTV đưa ra ý
kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng
yếu”. Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải sử dụng óc xét đoán nghề
nghệp của mình để đánh giá mức độ rủi ro kiểm toán trong từng trường hợp từ đó xác
định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm các rủi ro kiểm toán xuống thấp tới mức có thể
chấp nhận được.
Do Ban Giám đốc doanh nghiệp thường có xu hướng trình bày giá trị hàng tồn
kho cao hơn thực tế bằng cách ghi tăng số lượng hoặc khai tăng đơn giá, nên khi lập kế
hoạch kiểm toán đối với hàng tồn kho, kiểm toán viên phải chú ý rủi ro tiềm tàng
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
14
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
thường xảy ra đối với cơ sở dữ liệu về tính có thật hoặc đo lường và tính giá của hàng
tồn kho.
1.2.2.6. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát đối
với hàng tồn kho
Khi tiến hành tìm hiểu cơ cấu KSNB đối với hàng tồn kho, kiểm toán viên cần
tìm hiểu những vấn đề:
- Môi trường kiểm soát: bao gồm toàn bộ các nhân tố bên trong và bên ngoài
của khách hàng có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ
liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ như: đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức phân
công phân nhiệm, theo dõi HTK, hệ thống quản lý và giám sát HTK, công tác kế hoạch
trong việc dự trữ, bảo quản, dự phòng HTK... Kiểm toán viên xem xét quan điểm của
Ban Giám đốc về quản lý HTK, xem xét tính trung thực trình độ đội ngũ bảo vệ, ghi
chép kiểm tra kiểm soát HTK, đồng thời đánh giá xem cơ cấu nhân sự có phù hợp với
yêu cầu thực tế quản lý HTK không…
- Hệ thống kế toán HTK: bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, sổ kế toán, tài
khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp HTK, trong đó vấn đề lập và luân chuyển

Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số 310 thì “Chương trình kiểm toán là tập
hợp các hướng dẫn cho các thành viên tham gia kiểm toán, là phương tiện để kiểm tra
việc thực hiện các công việc”. Chương trình kiểm toán cũng có thể bao gồm các mục
tiêu kiểm toán cho từng chu trình, các ước tính thời gian cần thiết để kiểm tra từng chu
trình hay để thực hiện từng
Khi tiến hành thiết kế chương trình kiểm toán hàng tồn kho, kiểm toán viên phải
xác định các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với hàng tồn kho (thông qua phỏng
vấn, quan sát hàng tồn kho, đối chiếu sổ kế toán hàng tồn kho...), quy mô chọn mẫu
hàng tồn kho (hàng tồn kho được lựa chọn phải mang tính đại diện cao), những phần tử
được chọn và thời gian áp dụng các thủ tục kiểm toán hàng tồn kho đã được lựa chọn.
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
16
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
Chương trình kiểm toán hàng tồn kho là căn cứ để phối hợp công việc giám sát và
kiểm tra cuộc kiểm toán đồng thời nó còn được kiểm toán viên sử dụng để ghi chép các
công việc đã thực hiện làm căn cứ để kiểm soát chất lượng công tác kiểm toán hàng tồn
kho. Chương trình kiểm toán này sẽ theo kiểm toán viên trong suốt quá trình kiểm toán
hàng tồn kho và có thể có những sửa đổi trong từng trường hợp cụ thể.
1.2.3. Thực hiện kiểm toán hàng tồn kho
Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán
thích hợp đối với mỗi đối tượng cụ thể nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán. Khi thực
hiện kiểm toán hàng tồn kho, kiểm toán viên phải thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
và các thử nghiệm cơ bản theo chương trình kiểm toán hàng tồn kho đã được thiết kế
trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Các căn cứ để KTV thực hiện kiểm toán HTK gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Sổ tổng hợp, chi tiết các tài khoản HTK và tài khoản chi phí
- Sổ kho, báo cáo kho, biên bản kiểm kê HTK
- Bảng tổng hợp HTK

nghiệp vụ mua đều được ghi sổ.
 Thủ tục kiểm soát quá trình nhập xuất kho hàng:
- Kiểm tra tính có thật của các yêu cầu sử dụng vật tư hàng hoá bằng việc kiểm tra
lại các phiếu yêu cầu và sự phê duyệt đối với các yêu cầu đó như chữ ký và dấu của
những người có liên quan.
- Xem xét các thủ tục về nhập, xuất kho hàng hoá, vật tư có đúng quy định, có tổ
chức kiểm nhận hàng đúng quy trình hay không
- Khảo sát việc thực hiện nguyên tắc kiểm tra chất lượng hàng nhập, xuất kho
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
18
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
- Xem xét tính độc lập của thủ kho với người giao hàng, người nhận hàng, nhân
viên kế toán kho, sự độc lập của người làm nhiệm vụ kiểm tra chất lượng vật tư với
người giao hàng hoặc người sản xuất.
- Kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán có liên quan đến việc hạch toán nghiệp vụ xuất
vật tư, hàng hoá như lệnh sản xuất, đơn đặt hàng, phiếu xuất kho và các sổ chi tiết, sổ
phụ nhằm khẳng định độ tin cậy đối với các thông tin về nghiệp vụ xuất vật tư, hàng
hoá.
- Tìm hiểu quy trình luân chuyển chứng từ và quy định ghi sổ kế toán hàng nhập,
xuất kho ở phòng kế toán.
 Thủ tục kiểm soát đối với quá trình sản xuất
- Xem xét việc tổ chức theo dõi sản xuất ở các bộ phận sản xuất bởi quản đốc
các bộ phân, nhân viên kinh tế của các bộ phận
- Kiểm tra việc ghi chép nhật ký sản xuất, lập báo cáo sản xuất của các bộ phận.
- Kiểm tra quy trình làm việc của bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm sản
xuất; xem xét tính độc lập của bộ phận này với bộ phận sản xuất.
- Xem xét việc kiểm tra, kiểm soát chi phi của các bộ phận liên quan; các ghi
chép của kế toán về chi phí; việc đối chiếu số liệu giữa bộ phận kế toán và bộ phận
quản lý sản xuất.
- Quan sát việc bảo quản vật liệu, sản phẩm dở ở các bộ phận sản xuất.

bất thường của giá thành sản phẩm sau khi đã loại bỏ sự ảnh hưởng của biến động giá cả
nhằm tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó.
 Phân tích dọc (phân tích tỷ suất)
- So sánh tỷ lệ hàng tồn kho trong tài sản lưu động của công ty để xem xét xu
hướng biến động:
Tỷ trọng HTK trong TSLĐ =
Trị giá HTK
Tổng TSLĐ
Kiểm toán viên có thể so sánh tổng giá trị HTK trên bảng cân đối kế toán với tỷ
trọng tương ứng của các kỳ trước sau đó có thể so sánh tỷ trọng của từng khoản mục
HTK nhằm đánh giá được những bất thường đối với từng khoản mục chi tiết.
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
20
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
- Để đánh giá tính hợp lý của giá vốn hàng bán và để phân tích hàng hoá hoặc
thành phẩm nhằm phát hiện những hàng tồn kho đã cũ, lạc hậu, kiểm toán viên có thể
sử dụng chỉ tiêu sau:
Tỷ suất lãi gộp =
Tổng lãi gộp
Tổng doanh thu
Tỷ lệ quay vòng hàng tồn kho =
Tổng GVHB
Số dư bình quân HTK
Việc so sánh hệ số vòng quay HTK so với các kỳ trước thường áp dụng cho các
khoản mục như thành phẩm, hàng hoá tồn kho. Nếu hệ số vòng quay của kỳ này so với
kỳ trước chênh lệch quá nhỏ hoặc quá lớn thì có thể có sự bất thường. Tuy nhiên nếu hệ
số vòng quay của kỳ này xấp xỉ kỳ trước thì cũng chưa hẳn tốt do đó kiểm toán viên cần
phải so sánh với hệ số vòng quay bình quân ngành để có kết luận chính xác hơn. Nếu tỷ
lệ lợi nhuận quá thấp hoặc tỷ lệ hàng tồn kho quá cao so với dự kiến của kiểm toán viên
thì có thể đơn vị khách hàng đã khai tăng giá vốn hàng bán và khai giảm giá hàng tồn

chứng từ tăng hàng tồn kho và thực hiện lấy mẫu tính lại nếu thấy cần thiết
- Đảm bảo việc phân loại và hạch toán đúng các nghiệp vụ tăng hàng tồn kho:
KTV kiểm tra chính sách phân loại và sơ đồ hạch toán tăng HTK của đơn vị,
đảm bảo sự hợp lý và phù hợp với các quy định hiện hành; thực hiện lấy mẫu
và kiểm tra lại.
- Đảm bảo việc hạch toán đầy đủ, đúng kỳ các nghiệp vụ tăng HTK: Đối chiếu
các chứng từ tăng HTK với các sổ chi tiết nhằm đảm bảo việc hạch toán
không bị bỏ sót; kiểm tra đối chiếu ngày, tháng các chứng từ tăng hàng tồn
kho với ngày tháng ghi sổ các nghiệp vụ này (đặc biệt với các nghiệp vu phát
sinh vào cuối các niên độ kế toán).
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
22
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
- Đảm bảo tính cộng dồn, tính toán, tổng hợp đúng đắn các nghiệp vụ tăng
HTK: KTV tiến hành cộng tổng hợp các sổ chi tiết hàng tồn kho trong kỳ và
đối chiếu với sổ tổng hợp, các bảng kê với sổ cái tổng hợp.
* Kiểm tra các nghiệp vụ giảm hàng tồn kho:
HTK giảm trong kỳ cũng thường do hai loại nghiệp vu: xuất kho để bán và xuất
kho dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các nghiệp vụ xuất kho để bán về cơ bản đã được thực hiện trong chu kỳ bán
hàng và thu tiền. Do vậy, trong chu kỳ này KTV chỉ cần kiểm toán để khẳng định kế
toán của đơn vị đã ghi nhận giá vốn hàng bán phù hợp với doanh thu bán hàng hay
chưa? Và đảm bảo tính đúng đắn của giá vốn hàng bán. Để thực hiện các mục tiêu
kiểm toán này, KTV có thể thực hiện các thủ tục sau:
- Thu thập số liệu về số lượng hàng tồn kho tiêu thụ trong kỳ, tiến hành ước tính
giá vốn hàng bán.
- Kiểm tra phương pháp tính giá đơn vị áp dụng: kiểm tra tính hợp lý, tính nhất
quán và tính hiện hữu của phương pháp này.
- Thực hiện kiểm tra tính phù hợp của giá vốn hàng bán thông qua mối quan hệ
giữa các khoản mục: chi phí sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang, thành

tham gia kiểm kê HTK
 Thu thập danh mục hàng tồn kho và đối chiếu với sổ sách kế toán
Kiểm toán viên cần thu thập danh mục hàng tồn kho và đối chiếu chúng với hệ
thống sổ tổng hợp và chi tiết hàng tồn kho nhằm khẳng định sự khớp đúng giữa các thẻ
kho với sổ sách kế toán cũng như với Báo cáo tài chính.
 Quan sát kiểm kê vật chất hàng tồn kho
Công việc này được thực hiện để xác định hàng tồn kho ghi sổ thực tế hiện có
tại ngày lập bảng cân đối kế toán. Khi quan sát kiểm kê kiểm toán viên cần chú ý các
vấn đề sau:
Lê Thị Vân Dung CH2009 - C4
24
Học viện Tài chính Luận văn Cao học
- Xác định cuộc kiểm kê của khách hàng đang thực hiện có tuân thủ theo
đúng quy định và hướng dẫn của doanh nghiệp không.
- Sự hiểu biết của kiểm toán viên về mặt hàng kinh doanh của doanh
nghiệp. Đối với những hàng tồn kho đặc thù như điện tử, hoá chất, kim loại...kiểm toán
viên nên mời các chuyên gia để giám sát về quá trình đánh giá hàng tồn kho.
- Tham quan và xem xét các phương tiện kho bãi, nơi bảo quản hàng tồn
kho, khu vực sản xuất.
- Theo dõi và xem xét sổ kế toán ghi chép các nghiệp vụ nhập xuất kho
hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu, sổ theo dõi chi phí sản xuất, sản phẩm dở
dang....đối chiếu số liệu thực tế với số liệu trên sổ kế toán xem có phù hợp hay không?
- Khẳng định các hàng tồn kho được kiểm kê đã được đánh dấu riêng
Kết thúc quá trình tham gia kiểm kê hàng tồn kho kiểm toán viên phải báo cáo
tóm tắt quá trình kiểm kê và nhận xét những vấn đề lớn phát sinh trong quá trình kiểm
kê. Đưa ra ý kiến về cuộc kiểm kê có được tiến hành theo thủ tục thích hợp và có được
ghi chép đầy đủ hay không.
Đối với trường hợp hàng tồn kho cuối kỳ thuộc sở hữu của đơn vị nhưng không
nằm trong kho của đơn vụ cuối kỳ (như hàng gửi đại lý, hàng đang đi đường…), để xác
nhận sự tồn tại của lượng hàng này KTV có thể thực hiện các thủ tục như: kiểm tra các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status