THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN KINH DOANH TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC II HAI BÀ TRƯNG.
I. giới thiệu về chi nhánh ngân hàng công thương khu vực ii- hai bà
trưng.
Ngân hàng Công thương Việt nam với tên giao dịch là Industrial and
Commercial bank of Vietnam (gọi tắt là Incombank) là một trong bốn ngân
hàng thương mại quốc doanh lớn ở Việt Nam, với tổng tài sản chiếm 25% thị
phần trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ngân hàng có mạng lưới tổ
chức rộng lớn bao gồm trụ sở chính đặt tại Hà Nội, hai Chi nhánh, một ở Hà
Nội và một ở TP. HCM, cùng với hơn 100 chi nhánh ngân hàng (68 chi nhánh
phụ thuộc và 30 chi nhánh trực thuộc) và gần 500 điểm giao dịch lớn nhỏ phân
bổ rộng khắp trong phạm vi cả nước. Trong đó, Chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực II- Hai Bà Trưng là một trong những chi nhánh hoạt động có
hiệu quả cao, có được vị trí quan trọng trong toàn hệ thống Ngân hàng Công
thương Việt Nam.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh.
Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Công thương
khu vực II- Hai Bà Trưng, mà tiền thân là ngân hàng kinh tế quận Hai Bà
Trưng, gắn liền với tiến trình cải cách và đổi mới hệ thống Ngân hàng của
Ngân hàng Nhà Nước khi ban hành hai pháp lệnh ngân hàng năm 1990. Ngân
hàng Công thương quận Hai Bà Trưng đã chuyển từ chi nhánh Ngân hàng nhà
nước sang trực thuộc thành phố Hà Nội. Tiếp theo đó, năm 1993, thực hiện chủ
trương đổi mới cơ cấu nhằm giảm bớt các khâu không cần thiết, đơn giản hoá
trong hoạt động tổ chức, tăng cường quản lý tập trung và nâng cao khả năng
cạnh tranh... bằng việc xoá bỏ Ngân hàng Công thương cấp thành phố, chỉ duy
trì Ngân hàng Công thương cấp quận- huyện, bỏ qua các cấp trung gian. Do
vậy, ngày 1 tháng 4 năm 1993, Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt
nam đã ban hành quyết định thành lập Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu
vực II- Hai Bà Trưng trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt nam có trụ sở tại
306_ phố Bà Triệu, nay chuyển về 285_ phố Trần Khát Chân, quận Hai Bà
Trưng, TP Hà Nội .
bàn Quận.
Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực II- Hai
Bà Trưng được thực hiện theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng
Công thương Việt nam ban hành theo quyết định số 16/NHCT- TCCB ngày
10/1/1991; Quy chế Tổ chức hoạt động của các phòng thuộc bộ máy Ngân
hàng Công thương Việt nam ban hành theo quyết định số 110/NHCT- TCCB
ngày 01/4/1992 và Công văn số 318/TCCB ngày 25/5/1992 của Tổng Giám
đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam, theo đó Chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực II- Hai Bà Trưng bao gồm: một Giám đốc, giúp việc cho Giám
đốc là ba Phó Giám đốc. Mỗi Phó Giám đốc được giao trách nhiệm quản lý và
điều hành một số phòng ban nhất định và chịu trách nhiệm trước Giám đốc.
Tại Chi nhánh bao gồm các phòng ban sau:
1- Phòng nguồn vốn.
2- Phòng kinh doanh.
3- Phòng tổ chức hành chính
4- Phòng kinh doanh đối ngoại.
5- Phòng thông tin điện toán.
6- Phòng kế toán tài chính
7- Phòng kho quỹ
8- Phòng kiểm soát.
Ngoài các phòng ban trên, trong cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân
hàng Công thương khu vực II- Hai Bà Trưng còn có các phòng chuyên doanh
khác như: Phòng kinh doanh ngoại tệ - vàng bạc; Cửa hàng kinh doanh ngoại
tệ - vàng bạc, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức mua bán ngoại tệ,
vàng bạc đáp ứng nhu cầu vàng bạc và ngoại tệ của dân cư.
Có thể hiểu rõ hơn về cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực II- Hai Bà Trưng qua sơ đồ sau :
PHÒNG KINH
DOANH
PHÒNG KẾ
Hiện nay, các phòng ban trong Chi nhánh đã được chuyên môn hoá hoạt
động theo chức năng nhiệm vụ công tác riêng của từng phòng, nhưng đều có
trách nhiệm chung là tham mưu cho Giám đốc trong việc tổ chức thực hiện tốt
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như các chế độ thể lệ của
ngành Ngân hàng.
PHÒNG KINH
DOANH ĐỐI
NGOẠi
PHÒNG
T CH C HÀNHỔ Ứ
CHÍNH
12 QUỸ
TIẾT
KIỆM
BAN
GIÂM
ĐỐC
PHÒNG KIỂM
SOÁT
PHÒNG
NGUỒN VỐN
PHÒNG
T.T I N TOÁNĐ Ệ
PHÒNG GIAO
D CHỊ
CH Ợ
HÔM
TỔ
NGHI PỆ
V Ụ
máy đóng tàu Hà Nội ...). Tuy nhiên hầu hết các công ty, nhà máy, xí nghiệp
trong địa bàn Quận đều trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất điều đó làm cho
hoạt động của Chi nhánh ít nhiều phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Với lợi thế so sánh về địa bàn hoạt động, đã tạo điều kiện thuận lợi để
Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II- Hai Bà Trưng mở rộng lĩnh vực
kinh doanh của mình, không chỉ dừng lại ở các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho
vay truyền thống mà còn tích cực đa dạng hoá các loại hình dịch vụ Ngân hàng,
đặc biệt là các loại hình dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng như: Dịch vụ thanh
toán chi trả hộ, chi trả kiều hối, dịch vụ thanh toán séc du lịch, dịch vụ chuyển
tiền... góp phần mang lại lợi nhuận đáng kể cho Chi nhánh.
3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong thời gian qua.
Về cơ bản, một Ngân hàng hiện đại luôn hoạt động với ba nghiệp vụ kinh
doanh chính đó là: nghiệp vụ tài sản nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ
tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ Ngân hàng. Ba
nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát
triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho NHTM. Nhận thức được điều
đó, Chi nhánh đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại bằng ý chí vươn lên, không
ngừng đổi mới tăng cường các biện pháp mở rộng kinh doanh với phương
châm “Phát triển – An toàn – Hiệu quả”, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của
chính quyền địa phương cũng như sự tín nhiệm của khách hàng, nên trong
thời gian qua Chi nhánh đã đạt được những thành tích đáng kích lệ trên các
mặt hoạt động kinh doanh Ngân hàng, cụ thể như sau:
3.1. Hoạt động cung ứng dịch vụ Ngân hàng.
Phần lớn lợi nhuận mà các NHTM thu được trong quá trình hoạt động
kinh doanh là từ việc thực hiện các nghiệp vụ tín dụng cho khách hàng. Bên
cạnh đó, hoạt động đầu tư đảm bảo cho các Ngân hàng có được một khoản thu
nhập bổ xung và phân tán được rủi ro. Ngoài hai hoạt động cơ bản trên, một
hoạt động nữa cũng góp phần mang lại lợi nhuận đáng kể cho Ngân hàng,
giúp Ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng đồng thời tăng nguồn vốn
Séc bảo chi 2.151 405.119 2.151 529.042 2.093 522.944
Séc chuyển tiền 16 3.432 18 3.714 23 4.055
Uỷ nhiệm chi 32.086 5.356.040 37.159 6.501.355 38.975 8.135.698
Tiền mặt 17.501 3.205.862 41.798 3.861.856 56.248 5.792.435
Tổng cộng 58.44
5
9.198.62
3
87.805 11.201.59
4
103.36
7
14.723.4
90
Ta thấy, từ năm 1999 đến năm 2000, số món tăng là 29.360 món (tỷ lệ
tăng tương ứng là 50,23%), với số tiền tăng là 2.002.971 triệu đồng( tỷ lệ tăng
tương ứng là 21,8%). Bước sang năm 2001, số món thanh toán qua Chi nhánh
đã đạt 103.367 món với tổng giá trị giao dịch là 14.723.490 triệu đồng, tăng
31,4% so với năm 2000 và 60,1% so với năm 1999.
Sở dĩ đạt được kết quả như trên là do Chi nhánh đã không ngừng đổi
mới cải tiến và đa dạng hoá các hình thức thanh toán như: sử dụng hệ thống
thanh toán điện tử thay thế cho hệ thống thanh toán liên hàng trước kia qua
mạng vi tính cho nên công tác thanh toán tại Chi nhánh ngày càng nhanh
chóng, chính xác, thu hút ngày càng đông dảo khách hàng đến với ngân hàng.
Bên cạnh những cải tiến về công nghệ ngân hàng, Chi nhánh cũng liên tục thay
đổi mức phí giao dịch sao cho phù hợp (thường là 2000 đồng với món bù trừ
và 0,1% với món đi liên hàng).
b) Dịch vụ thu hộ.
Dịch vụ thu hộ của Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực II- Hai
Bà Trưng được thực hiện dưới hình thức chủ yếu là uỷ nhiệm thu (UNT). Ngân
mang tính quốc tế, đó là lượng ngoại tệ của kiều bào Việt nam hiện đang sinh
sống ở nước ngoài gửi về cho thân nhân, gia đình tại Việt nam thông qua
mạng lưới Ngân hàng.
Trong thực tế đây không phải là một hoạt động mang nặng tính nghiệp
vụ Ngân hàng song nó lại là một mảng quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh
của Ngân hàng. Nhận thức được vai trò quan trọng của kiều hối đối với sự
phát triển của nền kinh tế trong nước nên ngay từ những năm 1995, Chi nhánh
Ngân hàng Công thương khu vực II- Hai Bà Trưng đã triển khai hoạt động này.
Và bằng việc sử dụng nhiều biện pháp hợp lý như: mở rộng mối quan hệ với
các ngân hàng nước ngoài, chấp nhận chi trả các loại tiền kể cả ngoại tệ
mạnh... Chi nhánh đã liên tục nâng cao số tiền kiều hối được chi trả, ví dụ: năm
2000 doanh số thực hiện tăng 23,87% so với năm 1999...
b) Chuyển tiền thanh toán .
Xuất phát từ lợi thế so sánh của Chi nhánh đó là có nhiều nhà, máy xí
nghiệp, công ty đặt trụ sở hay trực tiếp tiến hành sản xuất trên địa bàn hoạt
động nên dịch vụ chuyển tiền thanh toán tại Chi nhánh ngân hàng Công
thương Hai Bà Trưng có thể nói là tương đối phát triển, luôn được xem là một
trong những dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao của toàn Chi nhánh. Với thời
gian, thủ tục thanh toán được rút ngắn cũng như mức phí giao dịch thấp đã
góp phần tạo điều kiện cho Chi nhánh thu hút được nhiều khách hàng hơn bất
cứ một NHTM nào khác đang hoạt động trên cùng địa bàn.
Để đạt được kết quả đó, Chi nhánh đã cố ngắng rất lớn trong công tác
chi trả, đặt mối quan hệ tốt với khách hàng cũng như đối với các Ngân hàng
bạn. Hiện nay, Chi nhánh đã và đang thiết lập được mối quan hệ tốt với các
ngân hàng lớn ở nước ngoài như: COMMON WEALTH BANK của Úc; CORESTATES
BANK của Mỹ; TOKAI SANK BANK của Nhật... đảm bảo đáp ứng được yêu cầu
thanh toán chuyển tiền của các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất – nhập
khẩu một cách nhanh nhất.
3.1.3.Dịch vụ bảo lãnh, tư vấn.
Dịch vụ bảo lãnh trên thực tế đã được thực hiện từ lâu tại Chi nhánh và
6.341.483 +518.530 5.822.953 +1.164.591 4.658.362
Bảo lãnh thi công
3.747.058 -54.829 3.801.887 +345.626 3.456.261
Bảo lãnh mở L/C
9.375.392 +1.761.632 7.613.760 +1.845.760 5.768.000
Tổng
22.450.30
4
+2.469.63
4
19.980.67
0
+3.530.40
9
16.450.26
1
Qua bảng trên ta thấy, thu từ dịch vụ bảo lãnh năm 2001 tăng 2.469.634
nghìn đồng, tương ứng với 12,4% so với năm 2000 và tăng 6.000.043 nghìn
đồng, tương ứng 36,5% so với năm 1999. Việc tăng này chủ yếu vẫn là tăng từ
dịch vụ bảo lãnh L/C tăng 23,1% (năm 2001 so với năm 2000) còn các loại bảo
lãnh khác cũng tăng nhưng không đáng kể.
Như vậy, từ những phân tích trên ta có thể khẳng định là hoạt động
cung ứng dịch Ngân hàng ở Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực II- Hai
Bà Trưng diễn ra hết sức sôi động và có hiệu quả, góp phần mang lại lợi nhuận
đáng kể cho Chi nhánh, hơn nữa nó cũng chứng tỏ quyết tâm của Chi nhánh
trong việc cố gắng phát triển dịch vụ, phấn đấu đạt mục tiêu an toàn và hiệu
qủa trong kinh doanh.
3.2. Hoạt động huy động vốn.
Trong công tác huy động vốn, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng từ những
biến động của thị trường trong nước và thị trường quốc tế, lãi suất huy động
1. Tiền gửi bằng VND 1.154 104,4 1.367 118,4
2. Tiền gửi bằng ngoại tệ 425 163,7 471 109,8
Qua bảng số liệu trên ta thấy, các chỉ tiêu huy động vốn đều tăng so với
năm 2000, cụ thể:
_ Tiền gửi các tổ chức kinh tế tăng 116 tỷ, tốc độ tăng là 22,1%.
_ Tiền gửi dân cư tăng 143 tỷ, tương ứng với tốc độ tăng là 13,5%
_ Tiền gửi bằng VND tăng 213 tỷ, tốc độ tăng là 18,45%
_ Tiền gửi bằng ngoại tệ tăng 46 tỷ tương ứng 9,8%.
Hơn nữa, cơ cấu vốn huy động của Chi nhánh đã có nhiều chuyển biến
tích cực theo hướng vừa tăng trưởng vững chắc vừa có lợi cho kinh doanh. (Để
có thể hiểu rõ hơn vấn đề này xin mời xem phần II- Thực trạng... ).
Hiện nay, công tác quản lý tiền gửi dân cư cũng được Chi nhánh thực
hiện thường xuyên nghiêm túc thông qua công tác kiểm tra dưới nhiều hình
thức. Qua đó đã khắc phục những sai sót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn
tiền gửi của dân cư và các chứng từ quan trọng giúp nâng cao uy tín của Chi
nhánh với khách hàng.
3.3. Hoạt động cho vay và đầu tư tín dụng.
Cũng như bất kỳ một NHTM nào, công tác đầu tư, cho vay luôn giữ vai
trò chủ đạo trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, bởi vì đây là hoạt
động đem lại phần thu nhập chính cho Ngân hàng.
Trong năm vừa qua, với bối cảnh môi trường đầu tư hết sức khó khăn
do sự cạnh tranh quyết liệt của các NHTM khác trên cùng địa bàn, Chi nhánh
Ngân hàng Công thương khu vực II - Hai Bà Trưng đã đặt ra và quyết tâm
phấn đấu nhằm đạt mục tiêu: “Đưa dư nợ tăng trưởng một cách lành mạnh
vững chắc”. Chi nhánh đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp tích cực, chủ
động bám sát doanh nghiệp, phân tích kỹ những khó khăn thuận lợi và dự
đoán những vấn đề có nguy cơ xảy ra làm tổn hại đến Chi nhánh nhằm hạn chế
rủi ro đến mức thấp nhất, nhưng đồng thời vẫn tạo mọi thuận lợi cho các
doanh nghiệp tiếp cận với đồng vón của ngân hàng. Và quan trọng hơn là đồng
vốn của Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, cải
Kinh tế ngoài quốc doanh 49,6 121,3 57 114,9
2. Phân theo kỳ hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn 415,9 126,5 521,7 125,4
Cho vay trung, dài hạn 186,7 221,2 302,5 162,2
3. Phân theo nội và ngoại tệ
Cho vay bằng VNĐ 279,1 95,7 576 206,3
Cho vay bằng ngoại tệ
(quy đổi)
323,5 266,3 248,3 76,8
Với trọng trách phục vụ kinh tế Quận là chính, cho nên phần lớn khách
hàng đến với Chi nhánh vay vốn đều là những doanh nghiệp quốc doanh đang
đóng tên địa bàn Quận. Vì vậy, qua bảng cơ cấu dư nợ ta có thể thấy, dư nợ đối
với thành phần kinh tế quốc doanh chiếm một tỷ trọng tương đối cao 93,1%
trên tổng dư nợ, trong khi đó mặc dù đã có nhiều thay đổi trong công tác cho
vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh song dư nợ đối với thành
phần này vẫn chỉ ở mức 6,9% tổng dư nợ. Điều đó chứng tỏ rằng khả năng tiếp
cận nguồn vốn vay từ Chi nhánh hay nói cách khác là điều kiện để các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh vay được vốn từ Chi nhánh vẫn chưa thực sự hấp
dẫn. Đây là yếu tố mà trong thời gian tới Chi nhánh cần
phải quan tâm khắc phục.
Việc cho vay ưu đãi như: cho vay Sinh viên, cho vay cán bộ công nhân viên
không có bảo đảm bằng tài sản cũng được Chi nhánh triển khai thực hiện
thường xuyên và kịp thời nhằm hỗ trợ Sinh viên trong quá trình học tập cũng
như cán bộ công nhân viên trong việc sửa chữa nhà ở, mua sắm phương tiện đi
lại…Tính đến ngày 31/12/2001, đã có 1820 Sinh viên và 425 cán bộ công nhân
viên vay vốn, với tổng dư nợ lên tới hơn 7 tỷ đồng, tăng 54,5% so với cuối năm
2000.
Song song với việc mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng tín dụng cũng
luôn được Chi nhánh xác định là mục tiêu hàng đầu, do vậy Chi nhánh đã tích
là một trong những lĩnh vực có độ nhạy cảm cao đòi hỏi phải có những bước đi
vững chắc trong công cuộc đổi mới, hệ thống Ngân hàng nước ta nói chung và
Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực II- Hai Bà Trưng nói riêng phải
gánh vác những nhiệm vụ hết sức khó khăn. Chi nhánh vừa phải vươn lên để
đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong tình hình mới, vừa phải khắc phục
những tồn đọng cũ.
Trước những khó khăn thử thách đó cũng như ý thức được những mặt
yếu, mặt mạnh của mình, trong những năm qua, Ban lãnh đạo Chi nhánh Ngân
hàng Công thương khu vực II- Hai Bà Trưng luôn đề ra những phương hướng
kinh doanh tích cực vừa bám sát những định hướng, nhiệm vụ của Ngân hàng
Công thương Việt Nam, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Chính vì
vậy Chi nhánh luôn được đánh giá là đơn vị kinh doanh ổn định, an toàn và
hiệu quả. Điều này được thể hiện rõ nét qua bảng tổng kết kết quả kinh doanh
sau:
Bảng 5: KẾT QUẢ KINH DOANH
(Đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
1. Thu nhập:
_ Thu hoạt động kinh doanh
_ Thu khác
111.466,4
39.229,1
72.237,3
93.350,9
35.452,7
57.898,2
118.894,0
46.271
72.623
2. Chi phí :
điểm của Chi nhánh là nguồn tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng cao (khoảng
70%) trong tổng vốn huy động, nên tổng số hạch toán dự trả tăng lên 21,5 tỷ
đồng đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả kinh doanh của Chi nhánh. Lợi
nhuận chỉ đạt hơn 3 tỷ đồng, thấp hơn so với năm 2000, nhưng xét một cách
tổng thể chỉ tiêu lợi nhuận của Chi nhánh vẫn đạt 126% so với kế hoạch được
giao.
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực II - Hai Bà Trưng đã có sự tăng trưởng bền vững qua các năm.
Tỷ lệ thu lãi từ cho vay tăng cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ chi trả lãi tiền vay và
lãi tiền vốn huy động từ dân cư, các tổ chức kinh tế xã hội, đã chứng minh cho
sự hợp lý của cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn.
Tuy vậy, Chi nhánh vẫn còn có những tồn tại nhất định. Cụ thể là: cơ
cấu tài sản nợ và tài sản có vẫn chưa đạt mức bính quân chung của ngành, tỷ
lệ vốn đầu tư so với tổng nguồn vốn huy động còn thấp. Sản phẩm dịch vụ của
Ngân hàng còn dừng lại ở những sản phẩm truyền thống, việc đưa những loại
hình dịch vụ mới có công nghệ cao vào hoạt động vẫn còn chậm. Thêm vào đó,
các dự án vay vốn trung, dài hạn Đài Loan từ những năm trước không thu
được nợ, hàng tháng vẫn chuyển nợ quá hạn nên dư nợ quá hạn giảm chậm.
Công tác xử lý tài sản tồn đọng tuy đã thu được kết quả vượt kế hoạch, song
còn phải khắc phục nhiều khó khăn để tiếp tục giải quyết những tồn tại. Hoạt
động Marketing Ngân hàng vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức.
II. thực trạng hoạt động huy động vốn ở chi nhánh Ngân hàng Công
thương khu vực II- Hai Bà Trưng.
Huy động vốn là một nghiệp vụ không thể thiếu của các NHTM vì đó là
nguồn vốn chính để Ngân hàng có thể duy trì và phát triển kinh doanh. Huy
động vốn (nghiệp vụ tài sản nợ) không phải là một nghiệp vụ độc lập mà phải
gắn liền với các nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và các nghiệp vụ cung
ứng dịch vụ Ngân hàng khác. Như vậy, công tác huy động vốn của một Ngân
hàng được đánh giá là có hiệu quả khi Ngân hàng đó luôn đảm bảo cho mình
một nguồn vốn dồi dào đáp ứng được nhu cầu của khách hàng đến vay vốn và