LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng, hoạt động ngoại
thương đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia. Tỷ
giá hối đoái, với tư cách là thước đo tương quan kinh tế giữa một quốc gia với phần
còn lại của thế giới được coi là một công cụ chính sách vĩ mô quan trọng nhằm thực
hiện các mục tiêu như thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định giá trị nội tệ, đảm bảo cân
bằng đối nội và đối ngoại, kích thích xuất khẩu… Chính vì vậy, việc điều chỉnh tỷ
giá nhằm đạt được những thành quả kinh tế nhất định trong vài thập niên gần đây đã
và đang là một vấn đề hết sức quan trọng. Đây cũng là đề tài được các nhà kinh tế
đặc biệt quan tâm nghiên cứu nhằm tìm ra chính sách điều hành tỷ giá tối ưu nhất cho
nền kinh tế của một quốc gia.
Phá giá tiền tệ là một biện pháp điều chỉnh tỷ giá trong đó nó làm giảm giá
đồng nội tệ, do đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, phát triển sản xuất hướng
ngoại, tạo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp… Tuy nhiên phá giá đồng nội tệ là một
quyết định hết sức khó khăn và nhạy cảm vì nó ảnh hưởng đến rất nhiều khía cạnh
khác nhau của hoạt động kinh tế, xã hội và đời sống người dân nói chung. Đồng thời
nó cũng là một biện pháp mạnh đối với nền kinh tế, vì vậy nếu không có những biện
pháp điều hành hợp lý sẽ có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Thực tế này đòi
hỏi chúng ta phải nghiên cứu vấn đề phá giá một cách kỹ lưỡng về cả mặt lý luận và
thực tiễn.
Do phá giá tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu và nhập khẩu của một
quốc gia nên một câu hỏi thường được đặt ra cho các nhà kinh tế và hoạch định chính
sách là: “Liệu phá giá tiền tệ có giúp cải thiện tình hình Cán cân thương mại và Tài
khoản vãng lai?” Có nhiều lý thuyết khác nhau về phá giá tiền tệ đã nỗ lực trả lời cho
câu hỏi này, trong đó không thể không kể đến một lý thuyết đã xuất hiện khá sớm và
giải thích câu hỏi này một cách khá đơn giản nhưng hợp lý – đó là lý thuyết về hiệu
ứng tuyến J (J – curve effect).
1
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên em đã lựa chọn đề tài “Hiệu
ứng tuyến J trong phá giá tiền tệ: Lý thuyết, thực tiễn một số nước và những
Chương II: Thực tiễn về hiệu ứng tuyến J trong phá giá tiền tệ tại một số quốc
gia trên thế giới
Chương III: Những khuyến nghị rút ra cho Việt Nam trên cơ sở phân tích hiệu
ứng tuyến J trong phá giá tiền tệ
Các vấn đề liên quan đến tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ của một quốc
gia thường là những vấn đề hết sức phức tạp, nhất là trong xu thế quan hệ kinh tế
quốc tế ngày càng mở rộng và phức tạp như hiện nay. Thêm vào đó, do hạn chế về
kinh nghiệm, thời gian và nguồn tài liệu nên khóa luận không thể tránh khỏi những
sai sót, hạn chế. Vì vậy em rất mong nhận được sự phê bình góp ý từ phía thày cô và
bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS. Đặng Thị Nhàn, người
đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành khóa luận này. Em cũng xin gửi lời cảm
ơn tới tất cả các thày cô giáo trường Ngoại Thương trong 4 năm qua đã tận tâm giảng
dạy, trang bị cho chúng em những kiến thức hết sức bổ ích cho sự nghiệp sau này.
3
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁ GIÁ TIỀN TỆ
VÀ HIỆU ỨNG TUYẾN J
I. Những vấn đề cơ bản về phá giá tiền tệ
1. Tỷ giá hối đoái
1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái được định nghĩa một cách căn bản như sau: “Tỷ giá hối đoái là
quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai quốc gia với nhau”
1
.
Khi quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia ngày càng đa dạng và phức tạp,
tỷ giá được định nghĩa một cách đơn giản hơn là “giá cả của một đơn vị tiền tệ của
một quốc gia này thể hiện bằng giá cả một đơn vị tiền tệ của một quốc gia khác”.
Có hai phương pháp yết giá tỷ giá hối đoái, phương pháp yết giá trực tiếp và
phương pháp yết giá gián tiếp. Đối với từng phương pháp yết giá sẽ có cách định
nghĩa tỷ giá hối đoái thích hợp.
có thể dùng 1 USD để đối lấy 110 JPY.
Những giao dịch về tiền tệ diễn ra trên thị trường ngoại hối (foreign exchange
market), trong đó tỷ giá hối đoái danh nghĩa (hay thường gọi đơn giản là tỷ giá hối
đoái) được ký hiệu là ℮, tính bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ.
1.2.2. Tỷ giá hối đoái thực tế
Tỷ giá hối đoái thực tế thể hiện số đơn vị hàng hóa quốc tế có thể đổi được
bằng một đơn vị hàng hóa trong nước.
Nói cách khác, tỷ giá hối đoái thực tế là mức tương quan giữa giá cả hàng hóa
trong nước so với giá cả hàng hóa quốc tế.
Có thể tính tỷ giá hối đoái thực tế theo công thức sau:
℮
r
═ ℮×P / P*
Trong đó: - ℮
r
là tỷ giá hối đoái thực tế
- P là giá hàng hóa trong nước
- P* là giá hàng hóa quốc tế
Như vậy, khi tỷ giá hối đoái thực tế tăng nghĩa là hàng hóa quốc gia đó sản
xuất đắt lên một cách tương đối so với hàng hóa nước ngoài. Điều này sẽ làm ảnh
hưởng tới tình hình xuất nhập khẩu của một quốc gia.
1.3. Các chế độ tỷ giá hối đoái
Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình
trong mối liên hệ với các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối.
Chế độ tỷ giá hối đoái ở mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ có thể khác nhau, nhưng
nhìn chung về cơ bản có ba loại là chế độ tỷ giá “thả nổi” theo đó những biến động
5
trong tỷ giá hoàn toàn do tác động của thị trường, chế độ tỷ giá hối đoái “cố định”
theo đó nhà nước sẽ can thiệp để tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng tiền của (các) quốc
gia khác không đổi và một chế độ tỷ giá kết hợp nằm giữa hai chế độ trên theo các
nhau, tùy theo tình hình thực tế của thị trường và mục tiêu chính sách của quốc gia
đó.
Tỷ giá là một biến số kinh tế tác động đến hầu hết các mặt hoạt động của nền
kinh tế, nhưng hiệu quả ảnh hưởng của tỷ giá lên các hoạt động khác nhau là rất khác
nhau. Trong đó, hiệu quả tác động của tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu là rõ ràng
và nhanh chóng, chính vì vậy trong điều kiện mở cửa nền kinh tế, hội nhập và tự do
hóa thương mại quốc tế như hiện nay, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá trước hết như
một công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
của mình.
Trong số các chính sách điều chỉnh tỷ giá, phá giá là một công cụ khá hiệu quả
nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Vậy phá giá tiền tệ là gì? Tại sao phá
giá tiền tệ lại có tác động tích cực đến tình hình xuất khẩu của một quốc gia? Trong
các phần tiếp theo khóa luận xin đi sâu nghiên cứu vấn đề này.
2. Định nghĩa phá giá tiền tệ
Phá giá tiền tệ (devaluation) là việc một quốc gia làm giảm giá đồng nội tệ
của mình so với đồng ngoại tệ, khiến đồng nội tệ mất giá ở một mức độ nào đó. Biểu
hiện bên ngoài của phá giá tiền tệ là sự tăng lên của tỷ giá danh nghĩa. Bản chất
của vấn đề này chính là một quốc gia đánh tụt sức mua danh nghĩa đồng nội tệ so
với các ngoại tệ.
Hiện nay, có hai thuật ngữ trong tiếng Anh cùng mô tả hiện tượng một đồng
tiền bị giảm giá so với một đồng ngoại tệ là devaluation và depreciation. Theo cách
sử dụng thông dụng, thuật ngữ devaluation được sử dụng nhằm thể hiện sự giảm giá
chính thức đồng nội tệ của một quốc gia trong chế độ tỷ giá cố định khi cơ quan điều
hành tiền tệ (thường là NHTW) công bố một mức tỷ giá cố định mới đối với một
đồng ngoại tệ. Trong khi đó, thuật ngữ depreciation được sử dụng để mô tả sự giảm
giá của đồng nội tệ một cách không chính thức trong chế độ tỷ giá thả nổi. Nhưng sự
khác nhau này chỉ còn mang tính thuật ngữ. Trên thực tế, hai thuật ngữ này đang
7
được sử dụng với cùng một ý nghĩa chỉ sự mất giá của một đồng tiền hay sự tăng lên
của tỷ giá danh nghĩa giữa đồng tiền ấy so với một đồng ngoại tệ.
Thứ hai, phá giá nội tệ khiến rủi ro lạm phát của quốc gia đó tăng cao. Ngay
sau khi phá giá, giá cả các hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng cao. Thêm vào đó là chi phí
đầu vào có nhiều nguy cơ tăng đối với các doanh nghiệp sản xuất phải nhập khẩu đầu
vào. Hơn nữa, nếu nền kinh tế đã sản xuất ở mức sản lượng tiềm năng (tức không còn
nhiều nguồn lực nhàn rỗi), mức tăng không đáng kể trong tổng cung không đáp ứng
đủ mức tăng trong tổng cầu do lợi thế cạnh tranh của phá giá đem lại. Kết quả là mức
giá sẽ tăng lên, lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp xuất khẩu có được khi phá giá không
còn. Thông thường, một quốc gia thường phải đánh đổi một giá trị thấp của đồng nội
tệ bằng một tỷ lệ lạm phát cao.
Tổng cầu tăng cao còn triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của động thái phá giá. Do
vậy, Chính phủ cần phải thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt (giảm chi tiêu Chính
phủ hoặc tăng thuế) kèm theo nhằm hạn chế sự tăng lên của tổng cầu, theo đó ngăn
chặn sự tăng giá trong nước.
Trong dài hạn, giá cả trong nước vẫn có nguy cơ tăng do các áp lực từ phía
tổng cung. Một là, giá cả hàng nhập khẩu đắt lên khiến chi phí sản xuất của các
doanh nghiệp sử dụng đầu vào nhập khẩu tăng dẫn đến tăng giá. Hai là, người tiêu
dùng sử dụng hàng nhập khẩu giá cao hơn sẽ có nhu cầu tăng lương gây áp lực tiền
lương tăng. Cuối cùng, việc tăng giá và tiền lương sẽ triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của
phá giá. Có thể nói, phá giá đồng tiền danh nghĩa không thể ảnh hưởng đến các biến
số thực tế của nền kinh tế trong dài hạn.
Thứ ba, phá giá mạnh đồng nội tệ sẽ khiến gánh nặng nợ nước ngoài của quốc
gia đó tăng lên do cần nhiều nội tệ hơn để trả các khoản nợ nước ngoài.
Ngoài ra, phá giá tiền tệ còn có thể khiến người dân mất lòng tin vào giá trị
đồng nội tệ và chính sách điều hành tỷ giá của Chính phủ. Kết quả là hiện tượng đầu
cơ vào các ngoại tệ mạnh (thường là USD) hay hiện tượng đô la hóa trở nên phổ biến
gây mất ổn định thị trưởng tiền tệ.
9
4. Nguyên nhân Chính phủ thực hiện phá giá tiền tệ
Đối với một quốc gia có chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc có quản lý,
Chính phủ có thể sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp lên tỷ giá hối đoái và tiến
phản ánh chân thực nhu cầu và giá trị thực của đồng tiền trên thị trường, nhập khẩu
hàng hóa nước ngoài ồ ạt (do giá cả rẻ một cách tương đối so với hàng hóa cùng loại
sản xuất trong nước) còn hàng xuất khẩu không có khả năng cạnh tranh về giá cả với
hàng hóa tương tự từ các nước khác có mức giá tương đối rẻ hơn. Chính phủ do lo
ngại tình trạng Cán cân thương mại và Tài khoản vãng lai thâm hụt liên tục nên quyết
định tiến hành phá giá.
4.2. Nguyên nhân khách quan
Chính phủ cũng có thể buộc phải tiến hành phá giá do cầu ngoại tệ trên thị
trường đột ngột tăng mạnh. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp Chính phủ cố
ghìm giữ một mức tỷ giá thấp, đẩy giá trị đồng nội tệ lên cao hơn nhiều so với giá trị
thực tế trên thị trường. Mục đích của việc ghìm giữ tỷ giá này có thể do quốc gia đó
đã cam kết duy trì chế độ tỷ giá cố định và họ sợ mất uy tín khi phá giá; hoặc cũng có
thể họ muốn duy trì một giá trị ổn định cho đồng tiền của mình, tránh những tác động
tiêu cực của biến động tỷ giá tới nền kinh tế.
Tuy nhiên, nếu Chính phủ cố ghìm giữ tỷ giá trong một thời gian dài sẽ ảnh
hưởng xấu lên nền kinh tế, không khuyến khích được xuất khẩu, ảnh hưởng tới sức
sản xuất. Quan trọng hơn là nếu tình trạng này kéo dài quá lâu nhà nước sẽ không đủ
khả năng can thiệp nhằm giữ vững mức tỷ giá đã đặt ra do áp lực của thị trường khi
có biến động kinh tế là rất lớn.
Áp lực ở đây được hiểu là do cầu ngoại tệ trên thị trường tăng mạnh. Như ta
đã biết, khi cầu ngoại tệ tăng sẽ làm tăng tỷ giá (có thể hiểu là khi cầu ngoại tệ tăng
nhưng cung ngoại tệ vẫn cố định sẽ dẫn đến giá ngoại tệ tăng cao, cần nhiều đồng nội
tệ hơn để đổi lấy một ngoại tệ). Do cam kết duy trì mức tỷ giá cố định, Chính phủ
cần bán ra ngoại tệ, mua vào nội tệ nhằm tăng cung ngoại tệ đáp ứng nhu cầu trên thị
trường đồng thời giảm cung nội tệ nhằm tăng giá trị của đồng tiền nước mình. Động
thái này sẽ trung hòa những biến động trên thị trường, giúp tỷ giá đứng vững ở mức
tỷ giá trung tâm đã quy định. Dần dần, dự trữ ngoại hối của Chính phủ sẽ cạn kiệt,
Chính phủ không còn khả năng duy trì mức tỷ giá cố định. Do vậy, họ buộc phải
11
tuyên bố phá giá. Như vậy, mọi nguyên nhân làm cho cầu ngoại ngoại tệ tăng đột
12
TB Cán cân thương mại (Xuất khẩu và nhập khẩu)
S
E
Cán cân dịch vụ
I
C
Cán cân thu nhập
Tr Chuyển giao vãng lai một chiều
K(A) CÁN CÂN VỐN
K
L
Cán cân vốn dài hạn
K
S
Cán cân vốn ngắn hạn
K
Tr
Chuyển giao vốn một chiều
OM NHẦM LẪN VÀ SAI SÓT
OB CÁN CÂN TỔNG THỂ
OFB BÙ ĐẮP CHÍNH THỨC
∆R Thay đổi dự trữ ngoại hối của quốc gia
L Tín dụng với IMF và các NHTW khác
≠
Thay đổi dự trữ của các NHTW khác bằng đồng tiền của quốc gia lập
BOP
1.2.1. Cán cân vãng lai
Cán cân vãng lai tổng hợp toàn bộ các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và
người không cư trú về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập của người lao động, thu nhập từ
giao vốn một chiều, các hình thức đầu tư khác và các giao dịch khác theo quy định
làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ.
Cán cân vốn bao gồm cán cân vốn dài hạn, cán cân vốn ngắn hạn và chuyển
giao vốn một chiều.
Đặc trưng cơ bản của Cán cân vốn là nó phản ánh các khoản thu chi liên quan
đến tài sản có và tài sản nợ, nghĩa là các khoản thu chi phản ánh sự chuyển giao
quyền sử dụng về tài sản giữa người cư trú và người không cư trú.
1.2.3. Cán cân tổng thể
Cán cân tổng thể là tổng hợp của Cán cân vãng lai và cán cân vốn.
1.2.4. Phần bù đắp chính thức
Phần bù đắp chính thức được tổng hợp trên cơ sở những thay đổi trong tài sản
có ngoại tệ ròng, thay đổi về nợ quá hạn và các nguồn tài trợ khác.
14
2. Cách tiếp cận co giãn (Elasticity approach)
Nghiên cứu ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đến tình trạng Cán cân thanh toán
quốc tế và Cán cân vãng lai là một điều hết sức cần thiết bởi tỷ giá là một công cụ
điều tiết kinh tế khá phổ biến đối với các nhà hoạch định chính sách. Nếu nó không
thể là một công cụ đáng tin cậy, các nhà hoạch định chính sách sẽ phải trông chờ vào
các công cụ điều tiết khác để thực hiện nhiệm vụ này.
Hiện nay có ba hướng tiếp cận nghiên cứu ảnh hưởng của phá giá là cách tiếp
cận co giãn (elasticity approach) và cách tiếp cận hấp thụ (Absorption approach)
nghiên cứu ảnh hưởng của phá giá lên cán cân Tài khoản vãng lai, còn cách tiếp cận
tiền tệ (Monetary approach) nghiên cứu ảnh hưởng của phá giá lên cán cân thanh
toán. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khóa luận chỉ xin đề cập đến cách tiếp
cận co giãn.
Thông điệp chủ yếu của cách tiếp cận co giãn là tồn tại hai tác động chủ yếu
của việc phá giá đồng tiền lên cán cân Tài khoản vãng lai, tác động thứ nhất làm
giảm thâm hụt trong khi tác động thứ hai lại góp phần khiến mức thâm hụt trở nên
trầm trọng hơn. Việc tác động nào trong hai tác động trên trội hơn sẽ quyết định ảnh
hưởng của phá giá lên Cán cân Tài khoản vãng lai của quốc gia tiến hành phá giá nói
ngoại tệ)
- P*: mức giá nước ngoài
- M
Q
: khối lượng hàng nhập khẩu
Đặt (PX
Q
) = X, (PM
Q
) = M; khi đó:
CA = X – eM
Sự thay đổi của CA được thể hiện như sau:
dCA = dX – edM - Mde
hay: (1.1)
Co giãn giá của cầu đối với hàng xuất khẩu ŋ
x
được tính bằng phần trăm sự
thay đổi của giá trị hàng xuất khẩu chia cho phần trăm thay đổi của mức giá – cũng
chính là phần trăm thay đổi của tỷ giá do mức giá trong nước là cố định, được tính
theo công thức:
ŋ
x
= dX = ŋ
x
(1.2)
Tương tự, co giãn của cầu hàng nhập khẩu ŋ
M
được tính bằng phần trăm thay
đổi của giá trị hàng nhập khẩu chia cho phần trăm thay đổi của mức giá hay tỷ giá và
theo công thức sau:
Theo những phân tích về điều kiện Marshall – Lerner ở trên, có ba trường hợp
có thể xảy ra với xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân vãng lai của A.
17
Trước khi phá giá, cán cân tài khoản vãng lai đang cân bằng
Danh mục Khối lượng Giá Giá trị theo A Giá trị theo B
Xuất khẩu của A 100 1A 100 200
Nhập khẩu của A 50 4B 100 200
Cán cân tài khoản vãng lai - - 0 0
Trường hợp 1: Phá giá làm thâm hụt tài khoản vãng lai
Danh mục Khối lượng Giá Giá trị theo A Giá trị theo B
Xuất khẩu của A 105 1A 105 157,5
Nhập khẩu của A 45 4B 120 180
Cán cân tài khoản vãng lai - - -15 -22,5
Độ co giãn ước lượng
ŋ
x
= =
ŋ
M
=
Tổng độ co giãn ŋ
X
+ ŋ
M
= 0,15 + 0,3 = 0,45 < 1
Trường hợp 2: Phá giá không làm thay đổi tài khoản vãng lai
Danh mục Khối lượng Giá Giá trị theo A Giá trị theo B
Xuất khẩu của A 120 1A 120 180
Nhập khẩu của A 45 4B 120 180
Cán cân tài khoản vãng lai - - 0 0
Giả định rằng khi phá giá tiền tệ chỉ có khối lượng xuất nhập khẩu bị ảnh
hưởng bởi sự thay đổi trong tỷ giá (không có hiệu ứng giá cả). Khi đó, đối với người
tiêu dùng nước ngoài hàng hóa xuất khẩu rẻ đi một cách tương đối. Điều này sẽ dẫn
đến sự tăng lên trong khối lượng hàng xuất khẩu. Đồng thời, tỷ giá tăng lên khiến giá
hàng hóa nhập khẩu đắt lên một cách tương đối đối với người tiêu dùng trong nước
khiến lượng hàng nhập khẩu giảm. Xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm, hiệu ứng
lượng rõ ràng đã góp phần cải thiện cán cân tài khoản vãng lai.
Thực tế cho thấy phá giá nội tệ tạo ra hiệu ứng làm tăng khối lượng xuất khẩu
và hạn chế khối lượng nhập khẩu, song xét về mặt giá trị thì Tài khoản vãng lai
không nhất thiết được cải thiện.
Hiệu ứng ròng phụ thuộc vào tính trội của hiệu ứng giá hay hiệu ứng lượng.
Như vậy, có ba khả năng có thể xảy ra đối với Tài khoản vãng lai sau khi phá giá nội
tệ.
Khả năng thứ nhất, phản ánh tính trội của hiệu ứng giá. Điều này có nghĩa là
dù khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm cũng không đủ bù đắp
lượng giảm giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ và tăng giá trị nhập khẩu tính bằng
nội tệ do. Kết quả là Tài khoản vãng lai từ cân bằng chuyển sang thâm hụt.
Khả năng thứ hai, phản ánh tính trung hòa của hai hiệu ứng. Điều này có
nghĩa là khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm vừa đủ để bù đắp
cho giảm giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ và tăng giá trị nhập khẩu tính bằng nội
tệ. Kết quả là trạng thái cân bằng của Tài khoản vãng lai được duy trì.
Khả năng thứ ba, phản ánh tính trội của hiệu ứng lượng. Điều này có nghĩa là
sau khi phá giá, khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm vượt quá
giá trị xuất khẩu giảm tính theo ngoại tệ và giá trị nhập khẩu tăng tính theo nội tệ.
Kết quả là Tài khoản vãng lai từ cân bằng chuyển sang thặng dư.
Khả năng việc phá giá tiền tệ có thể làm xấu đi thay vì giúp cải thiện tình
trạng cán cân thanh toán đã đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tiến hành ước lượng thực
19
nghiệm độ co giãn cầu xuất khẩu và nhập khẩu. Người ta lý luận rằng phá giá tiền tệ
có thể phát huy tác dụng ở các nước công nghiệp tốt hơn so với các nước đang phát
xấu đi và chỉ được cải thiện khi lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu phát huy tác
dụng sau thời điểm phá giá một thời gian.
Nếu sử dụng đồ thị trong không gian hai chiều với trục tung là số dư tài khoản
vãng lai (thặng dư hoặc thâm hụt) và trục hoành là thời gian, chúng ta có diễn biến
của tài khoản vãng lai sau khi phá giá được biểu diễn như sau:
Đồ thị 1: Hiệu ứng tuyến J trong phá giá tiền tệ
2. Nguyên nhân xuất hiện hiệu ứng tuyến J
Hiệu ứng tuyến J có thể được mô tả dựa vào tài khoản vãng lai và phản ứng
của nó đối với việc phá giá. Giả sử ta giữ giá nước ngoài cố định nếu nền kinh tế của
quốc gia phá giá là một nền kinh tế nhỏ. Với tập hợp giả thiết tổng quát hơn này,
chúng ta lấy đạo hàm theo tỷ giá và có:
Trong đó:
Từ công thức trên ta thấy ảnh hưởng sự thay đối tỷ giá lên Tài khoản vãng lai được
xác định bởi (i) ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá lên khối lượng hàng xuất khẩu, (ii)
ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá lên mức giá trong nước, (iii) ảnh hưởng của sự thay
Thời gian
+
MLC thỏa mãn
MLC không thỏa mãn
Thời điểm phá giá
t
0
CA
21
-
đổi tỷ giá lên khối lượng hàng nhập khẩu và (iv) giá trị hàng nhập khẩu tính theo mức
giá nước ngoài
Đồng nội tệ mất giá sẽ ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai thông qua ba kênh:
(1) Kênh thứ nhất ảnh hưởng ngay lập tức;
(2) Kênh thứ hai cần một khoảng thời gian;
= e
0
P
*
/P
0
- Mức giá tương đối sau khi phá giá: R
1
= e
1
P
*
/P
0
> R
0
Sau khi có sự thay đổi giá tương đối như vậy, cầu sẽ chuyển từ hàng nước
ngoài sang hàng sản xuất trong nước, do vậy X
e
> 0 và M
e
< 0. Phản ứng của lượng
hàng xuất khẩu và nhập khẩu như trên có thể thấy được khá sớm sau khi thực hiện
phá giá, tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định nó có thể không phát huy hết
toàn bộ tác dụng sau nhiều năm. Ngay khi phản ứng này phát huy tác dụng thì tài
22
khoản vãng lai sẽ cải thiện hơn so với vị trí đáy của tuyến J và nếu lúc này điều kiện
Marshall – Lerner được thỏa mãn thì nó sẽ cải thiện hơn so với trạng thái ban đầu.
Phản ứng dài hạn.
Trong dài hạn, tăng cầu sản phẩm trong nước sẽ không thể không dẫn tới sự
phản ứng của nhà sản xuất, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và độ trễ trong
phản ứng của người tiêu dùng.
Thứ nhất, mặc dù việc phá giá sẽ giúp cải thiện tính cạnh tranh của hàng xuất
khẩu nhưng các nhà sản xuất trong nước cần có một khoảng thời gian mới có thể mở
rộng sản xuất. Phản ứng tức thì có thể giải thích là do độ trễ phản ứng của nhà sản
xuất. Các đơn đặt hàng nhập khẩu thông thường được ký kết từ trước và do vậy
23
những hợp đồng này không thể hủy bỏ trong thời gian ngắn. Các nhà máy cũng phải
từ từ hủy bỏ các đơn đặt hàng đối với các sản phẩm đầu vào chủ chốt cũng như
nguyên liệu thô. Các khoản tiền trả cho nhiều hàng nhập khẩu cũng vậy, chúng
thường được cam kết nhằm chống lại những rủi ro tỷ giá trên thị trường mua bán
ngoại tệ tương lai, và do vậy cung xuất khẩu không thể tăng ngay trong ngắn hạn và
việc phá giá sẽ không có tác động gì trong thời gian đầu.
Thứ hai, một vấn đề khác mà ta cần quan tâm là vấn đề cạnh tranh không hoàn
hảo trên thị trường. Để chiếm lĩnh cho mình một thị phần trên thị trường nước ngoài
là một công việc đòi hỏi rất nhiều thời gian và tiền bạc. Nếu điều này đúng thì các
nhà xuất khẩu nước ngoài có thể không muốn đánh mất thị phần của nước ngoài
trước lợi thế cạnh tranh mà nước phá giá có được nên họ có thể phản ứng lại bằng
cách giảm giá xuất khẩu nhằm duy trì sức cạnh tranh của mình. Khi làm như vậy, ảnh
hưởng của phá giá trong việc làm tăng chi phí nhập khẩu phần nào đó đã bị thoái lui.
Tương tự, các ngành công nghiệp cạnh tranh với hàng nhập khẩu có thể phản ứng lại
mối đe dọa từ hàng xuất khẩu từ nước phá giá tăng lên bằng cách giảm giá ở thị
trường nội địa và điều này sẽ hạn chế sự gia tăng khối lượng hàng xuất khẩu từ nước
phá giá. Những ảnh hưởng này tùy thuộc vào mức độ cạnh tranh không hoàn hảo và
yếu tố cạnh tranh không hoàn hảo này đã cho phép các công ty nước ngoài thu được
một khoản lợi nhuận bổ sung ngoài mức lợi nhuận thông thường. Chính phần lợi
nhuận bổ sung này đã giúp họ có khả năng hạ giá hàng xuất khẩu hoặc hạ giá hàng
hóa bán trên thị trường trong nước để tăng tính cạnh tranh với hàng nhập khẩu rẻ hơn
từ nước có đồng tiền phá giá, khiến năng lực xuất khẩu của nước có đồng tiền phá giá
tăng chậm.
•Tâm lý sùng bái hàng ngoại của người tiêu dùng trong nước, sự tin tưởng và
an tâm của người nước ngoài khi mua hàng hóa từ nước phá giá.
•Tỷ trọng hàng nhập cấu thành đầu vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Nếu tỷ
trọng lớn sẽ làm giảm sức cạnh tranh quốc tế của hàng xuất.
•Mức độ linh hoạt của tiền lương. Tiền lương càng linh hoạt thì với mỗi sự
thay đổi của mức giá hay tỷ lệ lạm phát, tiền lương sẽ được tăng theo do đó khiến áp
lực tăng giá trong nước cao hơn. Có thể nói tiền lương càng linh hoạt càng khiến lợi
thế cạnh tranh có được khi phá giá nhanh chóng bị triệt tiêu.
25