THỰC TRẠNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN QUA PHÁT HÀNH TRÁI
PHIẾU TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HÀ NỘI
I. MỘT SỐ NÉT VỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRÊN
ĐỊA BÀN HÀ NỘI.
1. Một số nét về phát triển kinh tế ở nước ta năm 2001.
Năm 2001 kết thúc với một kết quả khả quan hơn hẳn so với nhận định
trong những tháng đầu năm, bằng những biện pháp kiểm soát tiền tệ
Quản lý ngoại hối thích hợp,đẩy mạnh đầu tư từ ngân sách nhà nước đã khiến
chỉ số lạm phát đạt mức thấp nhất từ khi bắt đầu công cuộc cải cách.Tăng
trưởng 4,7-5%GDP, dự trữ được cải thiện,nợ thương mại Ngân hàng được
kiểm soát góp phần cải thiện những cân đối vĩ mô.Nông nghiệp thắng lợi toàn
diện đạt sản lượng 33,8 triệu tấn xuất khẩu lương thực đạt 4 triệu tấn,cà phê
tăng 9,9%.Xuất khẩu tăng vượt xa dự kiến đạt khoảng 11,3 tỷ USD,nhập khẩu
giảm âm2%làm cho các cân thương mại trở lên lớn mạnh hơn,nhập siêu chỉ
còn 600 triệu USD bằng 5,6% xuất khẩu mức thấp nhất từ trước đến nay đã
góp phần cải thiện cán cân thnh toán quốc tế.Công nghiệp chiếm 3,2% GDP đạt
mức tăng trưởng 10,5% thuỷ sản tăng 2,4% là một kết quả đáng ghi nhận mở
ra triển vọng to lớn cho Việt nam bước vào thế kỷ XXI.
Tuy vậy qua tình hình kinh tế năm2001cũng vẫn cho ta thấy tình hình giảm sút
kinh tế bắt đầu xuất hiện (1997 tăng 9,54%; năm 1998 tăng 9,34%;năm 1999
tăng 8,12%;năm 2000 tăng 5,8%; và năm 2001 tăng 4,7%) .Như vậy có thể
thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế năm2001 đạt mức thấp nhất từ khi đổi mới
đến nay .Chất lượng của tăng trưởng và năng lực cạnh tranh chậm được cải
thiện, nhiều biện pháp cải cách cần thiết chưa được thực hiện có hiệu quả .Tỷ
lệ huy động vốn trong các ngân hàng tăng215% song dưnợ tín dụng chỉ tăng
9,5% cho thấy sự giảm lãi suất vẫn chưa đem lại bước cải thiện rõ rệt trong
đầu tư kinh doanh.
2. Khái quát tình hình kinh tế của thành phố Hà Nội .
Năm 2001 nền kinh tế của thành phố tiếp tục tăng trưởng khá, mức tăng
trưởng cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đơì sống nhân dân thủ đô
được ổn định và nâng lên rõ rệt.
1.Sơ lược về lịch sử Ngân hàng .
Ngân hàng Đàu tư & Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Hà Nội gọi tắt là Ngân
hàng đầu tư & phát triển Hà Nội .
Trụ sở tại 4B- Lê Thánh Tông-Quận Hoàn Kiếm -Hà Nội. Được thành lập từ
ngày 27/05/1957 với tên gọi ban đầu là Ngân hàng kiến thiết Hà Nội , nằm
trong hệ thống Ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính.
Nhiệm vụ của Ngân hàng là nhận vốn từ Ngân sách nhà nước để tiến hành
cấp phát và cho vay trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
Năm 1982, Ngân hàng được đổi tên thành Ngân hàng đầu tư và xây dựng
Hà Nội nằm trong hệ thống Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam.
Tháng 5/1992 Hội đồng Nhà nước đã ban hành 2 pháp lệnh về Ngân hàng
đó là: Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và pháp lệnh Ngân hàng , hợp
tác xã tín dụng và Công ty tài chính để nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống
Ngân hàng cho thích ứng với cơ chế thị trường.
Hai pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/10/1992. Theo đó hệ thống
Ngân hàng bao gồm 2 cấp:
-Ngân hàng trung ương là Ngân hàng nhà nước Việt Nam
-Các Ngân hàng thương mại,Ngân hàng đầu tư & phát triển,Công ty tài
chính và hợp tác xã tín dụng.
Theo quy định của pháp lệnh, ở Việt Nam chỉ được thành lập Ngân hàng
đầu tư & phát triển quốc doanh. Ngày 14/11/1993, Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng đã ban hành quyết đínhố 401 về việc thành lập "ngân hàng đầu tư &
phát triển Việt Nam ". Có trụ sở tại 194 Phố trần Quang Khải -Hà Nội.
Vốn điều lệ 200 tỷ đồng.
Có các chi nhánh trực thuộc tại các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc
trung ương.
Từ đầu năm 1997, toàn bộ vốn cấp phát và một bộ phận cán bộ được bàn
giao sang cục đầu tư phát triển thuộc Bộ tài chính.
Như vậy từ ngày thành lập tới 01/01/1997 chi nhánh Ngân hàng đầu tư &
phát triển Hà Nội khong hoàn toàn là một ngân hàng thương mại mà chỉ là
15/ Phòng giao dịch 1
16/Phòng giao dịch 2
Ngoài ra chi nhánh còn có 3 chi nhánh khu vực đống trên địa bàn các huyện
là:
Chi nhánh khu vực Thanh Trì
Chi nhánh khu vực Từ Liêm
Chi nhánh khu vực Đông Anh
Phải nói rằng, sự thay đổi này có ảnh hưởng rất lớn tới tổ chức hành chính
và hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư & phát triển Hà Nội do đó trong
quá trình hoạt động ngân hàng đầu tư & phát triển Hà Nội đã gặp không ít
khó khăn.
Để phù hợp với hoàn cảnh mới ngân hàng đầu tư & phát triển Hà Nội đã
đưa ra chiến lược hoạt động cụ thể như sau:
- Chiến lượckinh doanh: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng là
mục tiêu cho mọi hoạt động. Hiệu quả an toàn trong kinh doanh là tiêu
chuẩn hàng đầu. Đáp ứng cao nhất các yêu cầu của khách hàng. Hành động
theo điều khoản, quy điịnh của ngân hàng đầu tư & phát triển trung
ương( NHĐT&PTTW) và pháp luật.
-Chiến lược khách hàng: Ngân hàng phải hoạt động xuất phát từ yêu cầu
của khách hàng, đa phương hoá khách hàng, củng cố và phát triển khách hàng
truyền thống, mở rộng khách hàng, thu hút thêm khách hàng đến gửi tiền.Đặc
biệt là có hoạt động đối ngoại để tạo ra sự cân đối về các loại tiền trong cơ cấu
huy động vốn cũng như mở rộng các dịch vụ quốc tế.
-Chiến lược vốn: Đa dạng hình thức huy động vốn, tăng tỷ trọng vốn
trung và dài hạn. Tăng nguồn tiền gửi, làm tốt chức năng ngân hàng đại lý.
-Chiến lược sử dụng vốn: Đa dang hoá sản phẩm. Tập trung dự án cho
doanh nghiệp có hiệu quả. Gắn liền với chiến lược huy động vốn. Mở rộng cho
vay thương mại nhưng không chạy theo doanh số mà thoả hiệp với rủi ro. Mở
rộng liên kết với ngân hàng cùng hệ thống, tăng cường kiểm tra, kiểm soát
trong thẩm định dự án cho vay.
các phòng ban và cán bộ chưa hợp lý.
-Đội ngũ cán bộ của ngân hàng mặc dù có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh
vực xây cựng cơ bản nhưng khi chuyển sang cơ chế kinh doanh như một ngân
hàng thương mại đã tỏ ra lúng túng, chưa nhanh nhạy và chưa thực sự hoà
mình vào phong cách quản lý kinh doanh mới. Điều này ảnh hưởng bởi cơ chế
gò bó trước kia.
-Ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trong một môi
trường có tính cạnh tranh rất lớn từ hơn 70 ngân hàng và các tổ chức tín dụng
trong nước cũng như nước ngoài, lãi suất thay đổi liên tục theo chiều hướng
giảm dần. Các hoạt động dịch vụ ngân hàng của chi nhánh chưa phát triển
mạnh, chưa đa dạng và nhiệm vụ cho vay đầu tư phát triển theo kế hoạch nhà
nước không chỉ do Ngân hàng đầu tư & phát triển đảm nhiệm mà còn do Tổng
cục Đầu tư phát triển thực hiện, tạo ra sự cạnh tranh mới. Mặt khác,ngân
hàng cũng có sự thua thiệt khi bước vào cơ chế mới chậm hơn so với các đối
thủ khác trong cùng địa bàn đã sẵn có khả năng thu hút khách hàng.
2.2. Những thuận lợi
Tuy có những khó khăn trên, ngân hàng cũng có những thuận lợi cơ bản:
Ngân hàng đầu tư & phát triển Việt Nam đã triển khai kịp thời hệ thống cơ
chế mới cùng những thông tin, quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho việc chuyển đổi hoạt động của toàn hệ thống.
Bước vào hoạt động như một ngân hàng thương mại, Ngân hàng có thể
tranh thủ kế thừa, học hỏi được những kinh nghiệm rút ra những thành công,
thất bại ở các ngân hàng khác.
Nằm trên địa bàn sôi động là quận hoàn kiếm- một quận trung tâm về kinh
tế, thương mại của thủ đô- ngân hàng có điều kiện thuận lợi để phát triển các
hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh, các loạt hình dịch vụ một cách đa dạng.
Mặt khác, các nguồn huy động từ tiền gửi khách hàng, tiền gửi của các tổ chức
tín dụng và tiết kiệm từ dân cư là rất phong phú giúp cho Ngân hàng có khả
năng đáp ứng tối đa nhu cầu của các doang nghiệp.
Ngân hàng với chính sách khách hàng đổi mới đã tìm thêm khách hàng
Cơ cấu tín dụng đã được điều chỉnh theo xu hướng tích cực, phù hợp với sự
đổi mới cơ chế tín dụng, với tỷ trọng tín dụng ngắn hạn và tín dụng thương
mại trên tổng dư nợ tăng đáng kể.
Năm 2001 ngân hàng đầu tư phát triển Hà Nội đx có những bước chuyển
đổi khá mới mẻ trong công tác dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng đầu tư phát
triển Hà Nội đã đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng theo hướng khép kín phục vụ
khách hàng.
Kết quả kinh doanh năm 2001
Tính đến cuối năm 2001, NHĐT&PTHN đã đạt được những kết quả như sau:
Trong kinh doanh, nguồn vốn luôn luôn gữi một vai trò quan trọng,phải tạo
được nguồn vốn đủ mạnh để hình thành nền tảng vốn vững chắc và cơ cấu hợp
lý. Do đó, NHĐT&PTHN luôn coi việc tăng trưởng nguồn vốn là nhiệm vụ hàng
đầu, Theo điều 6 của quy chế và hoạt động của NHĐT&PTHN được quản lý, sử
dụng vốn, tài sản và nguồn lực khác của NHĐT&PTHN & PTVN giao và các
nguồn huy động, tiếp nhận và đi vay theo quy định của pháp luật và hướng dẫn
của NHĐT&PTHN & PTVN để thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ được giao và uỷ
nhiệm. Do đặc thù đó, vốn hoạt động của NHĐT&PTHN gồm 2 nguồn chính:
• Nguồn vốn huy động
• Nguồn vốn do NHĐT&PTTW chuyển về.
Đối với nguồn vốn do NHĐT&PTTW điều chuyển về thì trên cơ sở tính toán
cụ thể và xác định cho NHĐT&PTHN một hạn mức tín dụng ngắn hạn để hỗ trợ
nguồn vốn nhằm cân đối tại NHĐT&PTHN. Trong phạm vi hạn mức,
NHĐTPTHN chủ động nhạn và chuyển trả tại NHĐT&PTTW (qua tài khoản gửi
tập trung tại TW hoặc liên hàng). Nếu trong trường hợp thiếu vốn đột xuất
NHĐT&PTHN có thể đề nghị vay vốn vượt hạn mức có thời hạn.
Bảng 2: Cơ cấu vốn hoạt động của NHĐT&PTHN (theo VNĐ)
Chỉ tiêu
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Đơn vị
(tr.đ)
gắng trong công tác huy động vốn, tự nỗ lực bằng chính bản thân để cân đối
nguồn vốn huy động của mình.
Nguồn vốn huy động gồm có: vốn huy động từ các tổ chức kinh tế, vốn huy
động từ dân cư (tiền gửi khách hàng, tiết kiệm, kỳ phiếu...). Là đơn vị trực tiếp
kinh doanh nên hoạt động huy động vốn là điểm mạnh cũng là mục tiêu phấn
đấu của NHĐTPTHN. Công tác huy động vốn của đã đạt được thành công nhất
định giúp NHĐTPTHN luôn đủ vốn đáp ứng nhu cầu đa dạng về tín dụng.
"Trường vốn" đo là điều mà các ngân hàng đều mong muốn đạt được.
Năm 2001, nguồn vốn huy động đạt 1.677.475 triệu đồng chiếm 80% trong
tổng số nguồn vốn, năm 2000 chỉ đạt 1.147.833 triệu đồng chiếm 71% và năm
1999 là 791754 triệu đồng chiếm 64% trong tổng nguồn vốn . Thực tế năm
2001 nền kinh tế nước ta vẫn bị ảnh hưởng mạnh bởi cuộc khủng hoảng kinh
tế khu vực, hầu hết các chỉ số kinh tế vĩ mô đều giảm sút so với cùng kỳ năm
2000: tình trạng yếu kém của các doanh nghiệp, lao động, công nghệ và năng
lực quản lý, sản phẩm sản xuất ra kém sức cạnh tranh, quá trình cổ phần hoá
diễn ra chậm... Ngoài ra, tình trạng giảm phát kéo dài, vốn huy động tăng
trong khi các doanh nghiệp vẫn hạn chế đầu tư dù đã có 5 lần NHNN điều
chỉnh giảm trần lãi suất, do đó trong năm đã gây khó khăn cho hoạt động ngân
hàng. Lãi suất biến động giảm liên tục dẫn đến tâm lí chờ đợt lãi suất giảm
hơn nữa và xu hướng các doanh nghiệp trả nợ trước hạn, đặc biệt là các Tổng
công ty đã ảnh hưởng mạnh đến việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của Ngân
hàng đầu tư phát triển Hà Nội .
Bảng 3 : Cơ cấu vốn huy động của NHĐT&PTHN
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Triệu đồng % Triệu đồng % Triệu đồng %
1. Tiền gửi
NH
304.901 39 350.178 31 548.724 33
2. tiết kiệm 181.282 23 398.754 35 798.863 48
3. Kỳ phiếu 222.569 28 219.485 19 24.866 1
TRÁI PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH 1- NHĐT&PTVN
Như đã đề cập ở phần trên, huy động vốn là khâu mở đường, tạo mặt bằng
vững chắc và ngày càng tăng trưởng của mỗi một ngân hàng. Việc tổ chức huy
động vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn là một vấn đề khó, nhưng không
phải từ phía khách hàng mà là bài toán khó cho chính ngành ngân hàng. Nếu
nền kinh tế được coi là một "cơ thể sống" thì coi vốn cần thiết cho nền kinh tế
như máu cần cho sự sống trong cơ thể .Vậy muốn hoàn thành sự nghiệp CNH-
HĐH đất nước do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo, các nghành các cấp đều phải
tập trung mọi nguồn lực, trong đó ngành ngân hàng nói chung và
NHĐT&PTHN nói riêng cần cần xác định lo đủ vốn cho nền kinh tế.
-
-
-
0
100,000
200,000
300,000
400,000
500,000
600,000
700,000
800,000
TiÒn göi NH
2. tiÕt kiÖm
3. Kú phiÕu
4.Tr¸i phiÕu
1999
2000