Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
Đề tài:
LẠM PHÁT- TỪ LÝ THUYẾT ĐẾN THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2008, thế giới rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy
thoái 1929-1933. Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, thế giới chứng kiển sự sụp
đổ của những định chế tài chính khổng lồ. Lý do sâu xa của nó là sự mất cân bằng quốc tế
của các khu vực kinh tế trụ cột trên thế giới và những vấn đề nội tại của hệ thống ngân
hàng Mỹ và Châu Âu. Cho đến thời điểm này, hàng loạt ngân hàng tên tuổi đã phải tuyên
bố phá sản hoặc nhờ chính phủ cứu trợ. Thị trường tài chính nhiều nước gần như đóng
băng, kéo theo là nền kinh tế thực sự suy thoái.Nạn thất nghiệp tăng đến mức báo động,
nhất là trong tầng lớp dân nghèo ở các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển
Thương mại quốc tế giảm mạnh, sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn chưa có dấu
hiệu ngừng lại, lạm phát xảy ra ở khắp nơi. Mặc dù nhiều nước đã đưa ra những gói kích
cầu lớn, với tổng số tiền công bố toàn cầu xấp xỉ 2000 tỉ USD, những dự báo lạc quan nhất
cũng chỉ hy vọng thế giới sẽ bắt đầu phục hồi vào đầu năm 2010.
Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. 2008 là năm nền kinh tế Việt Nam
phải đối mặt với những vấn đề phức tạp trong nước cũng như những tác động khó lường từ
tình hình thế giới. Đặc biệt là nạn lạm phát tăng cao khiến nền kinh tế nước ta không tránh
khỏi rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, ngân sách Chính phủ thâm hụt, đời sống
người dân gặp nhiều khó khăn.
Chính vì thế, lạm phát hiện nay đã trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Ổn
định lạm phát là một vấn đề cực kỳ quan trọng, bởi lẽ lạm phát là một trong những chỉ tiêu
vĩ mô quan trọng đánh giá “tình hình sức khỏe” của một nền kinh tế bên cạnh các chỉ tiêu
tăng trưởng và thất nghiệp.Bên cạnh đó, lạm phát luôn luôn là kết quả của sự tác động tổng
hợp từ các yếu tố kinh tế khác nhau, và rất khó nhận ra đâu là nguyên nhân chủ yếu, nên
việc kiềm chế lạm phát thường gặp rất nhiều khó khăn.
Theo báo cáo, Việt Nam chỉ là một nền kinh tế nhỏ trong khu vực châu Á vì GDP
của Việt Nam chỉ chiếm xấp xỉ 1% so với toàn khu vực, trừ Nhật Bản. Trong những năm
gần đây, Việt Nam gây ấn tưởng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng liên tục. Mặc dù vậy,
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 1
tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ, hoặc tại Hungary sau Thế
chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ).
Một khái niệm cũng rất hay được đề cập trong kinh tế là tỉ lệ lạm phát cơ bản. Lạm
phát cơ bản chính là lạm phát thể hiện việc thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài, loại bỏ
những biến động giá mang tính chất tạm thời trong chỉ số giá tiêu dùng. Lạm phát cơ bản là
một chỉ báo quan trọng đối với xu hướng lạm phát hiện hành và trong tương lai. Chỉ số này
giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thể nhận biết được sự biến động giá tiêu dùng
chỉ xảy ra trong thời gian ngắn hạn hay đó là xu thế lâu dài. Vì vậy, lạm phát cơ bản là
thông tin đầu vào quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung
ương.
Phân loại:
Một phương pháp thông thường là phân loại lạm phát dựa trên mức độ:
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 3
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
a. Thiểu phát: trong kinh tế học được hiểu là lạm phát ở tỉ lệ rất thấp.
b. Lạm phát thấp: mức lạm phát tương ứng với mức độ tăng giá từ 3%- 7% một
năm.
c. Lạm phát cao (lạm phát phi mã): mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá hai
chữ số một năm, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển
đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm
phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.
Nhìn chung, lạm phát phi mã nếu duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến
dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi
người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày. Mọi người có xu
hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ
mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải.
d. Siêu lạm phát: là lạm phát “mất kiểm soát” , tình trạng giá cả tăng nhanh chóng
khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ
quát. Một cách hiểu đơn giản là chỉ số lạm phát hằng tháng từ 50% trở lên ( cứ 31 ngày giá
cả tăng gấp đôi). Theo định nghĩa này thì cho đến nay thế giới mới trải qua 15 cuộc siêu
hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo
kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó.
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 5
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ
thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các nhà kinh tế thường dùng hai
chỉ tiêu để đánh giá mức độ lạm phát của một nền kinh tế: chỉ số giá tiêu dùng CPI và chỉ
số giảm phát tổng sản phẩm trong nước GDP deflator.
2.1 Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index):
Chỉ số giá tiêu dùng thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, phản ánh xu hướng
và mức độ biến động giá theo thời gian của các mặt hàng trong “rổ” hàng hóa và dịch vụ
đại diện.
Rổ hàng hóa và dịch vụ đại diện để tính chỉ số giá tiêu dùng là một danh mục gồm
các loại hàng hóa và dịch vụ phổ biến, đại diện cho tiêu dùng của dân cư.
CPI đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi “người tiêu dùng thông thường” một
cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm
hằng năm trong các chỉ số này là tỉ lệ lạm phát thông thường hay được nhắc tới. Các phép
đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong
muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỉ lệ tăng của CPI. Đôi
khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản
chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tốc độ
chậm hơn so với tỉ lệ lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra).
CPI nhằm theo dõi mức tăng giảm giá của hàng hóa tiêu dùng, các nhóm hàng quan
trọng nhất có ảnh hưởng đến đời sống cũng như tâm lý của dân chúng.
Nhược điểm chính của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố
định trong tính toán. Mức độ bao phủ của chỉ số này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa
tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của
người dân thành thị mua vào năm gốc. Những nhược điểm mà chỉ số này gặp phải khi phản
ánh giá cả sinh hoạt là:
không phản ánh được sự giảm sút phúc lợi của người tiêu dùng trong trường hợp phải tiêu
dùng ít hơn một loại hàng nào đó. Ví dụ: do sau dịch cúm gà, giá gà trở nên quá đắt so với
giá thịt lợn nên người tiêu dùng sẽ mua ít thịt gà hơn và mua nhiều thịt lợn hơn. Phúc lợi
của người tiêu dùng đã giảm xuống do họ phải tiêu dùng thịt gà ít hơn nhưng DGDP không
phản ánh được điều này cho dù nó phản ánh được sự thay thế giữa thịt gà và thịt lợn.
- CPI chỉ phản ánh mức giá của hàng tiêu dùng còn DGDP phản ánh giá của cả hàng
hoá do doanh nghiệp, chính phủ mua. Vì thế DGDP được coi là phản ánh đúng hơn mức
giá chung.
- DGDP chỉ phản ánh mức giá của những hàng hoá sản xuất trong nước (vì GDP chỉ
tính sản phẩm trong nước) còn CPI phản ánh mức giá của cả hàng hoá nhập khẩu. Ví dụ:
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 7
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
khi giá một chiếc xe ô tô Toyota nhập khẩu tăng thì nó được phản ánh ở CPI nhưng không
được phản ánh ở DGDP.
- CPI không phải là chỉ số áp dụng cho GDP. Nhưng vì tiêu dùng cuối cùng ở nhiều
nước lên tới 50-90% GDP, nên CPI và chỉ số giảm phát cho GDP thường không khác nhau
nhiều, kể cả ở những nước mà tiêu dùng cuối cùng chỉ ở khoảng 50-60%.
Ngoài ra, tùy điều kiện và quy mô nền kinh tế, người ta còn dùng một vài chỉ số sau
đây để đo lường lạm phát:
Chỉ số giá sinh hoạt (CLI): là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân
so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ. Các
nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp
hơn so với CLI dự tính. Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI. CLI
có thể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệt trong giá
cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ
giá cả thế giới nói chung).
Chỉ số giá sản xuất (PPI): đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính
đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi
nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không
bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình
có một lượng tiền lớn được tung ra mua hàng hoá và dịch vụ gây ra sự thừa tiền trong lưu
thông, dẫn đến việc đồng tiền bị mất giá.
- Do tăng cán cân thương mại, khiến cho nước ngoài tăng mua hàng trong nước, còn
người trong nước giảm mua hàng nước ngoài.
- Do Chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế. Nếu chính phủ tăng chi tiêu của mình
dành cho hàng hoá và dịch vụ, lượng tiền mà chính phủ chi mua hàng hoá và dịch vụ sẽ
được đưa trực tiếp vào nền kinh tế, làm tăng tổng cầu. Nếu Chính phủ giảm thuế hoặc tăng
chi chuyển nhượng thì sẽ làm tăng thu nhập khả dụng, từ đó làm tăng tiêu dùng của hộ gia
đình, tức là tăng cầu. Hiện nay, nguyên nhân tăng chi tiêu của Chính phủ là một trong
những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát cao.
- Do việc kiểm soát lượng cung tiền của ngân hàng trung ương còn hạn chế. Ngân
hàng trung ương không kiểm soát được lượng cung tiền hợp lí, cung tiền tăng làm tăng lãi
suất, kích thích tăng đầu tư tư nhân làm tăng cầu.
3.3 Lạm phát do cung: (cost-push inflation)
Lạm phát do cung, còn được gọi là lạm phát chi phí đẩy (cost-push inflattion), xảy
ra khi chi phí sản xuất gia tăng hoặc năng lực sản xuất của quốc gia bị giảm sút, trong cả
hai trường hợp đều tạo ra áp lực tăng giá.
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 9
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
Chi phí sản xuất tăng có thể do các nguyên nhân sau: do gia tăng tiền lương danh
nghĩa, tăng giá nguyên-nhiên-vật liệu,... Do chi phí sản xuất tăng nên doanh nghiệp buộc
phải tăng giá sản phẩm nhằm bảo đảm lợi nhuận, cuối cùng, thị trường cân bằng tại mức
giá cao hơn ban đầu.
Năng lực sản xuất của quốc gia giảm có thể do các nguyên nhân như: giảm sút
nguồn nhân lực, do sự gia tăng tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên, do sự biến động chính trị, chiến
tranh, thiên tai,... Do năng lực sản xuất suy giảm nên khả năng đáp ứng nhu cầu giảm, gây
khan hiếm hàng hoá và tăng giá cả.
Cả hai trường hợp nêu trên tuy có cơ chế tác động khác nhau nhưng cùng có một kết
quả sau cùng: nền kinh tế vừa bị lạm phát vừa giảm sản lượng.
3.4 Lạm phát do quán tính: (inertial inflation)
các quốc gia đang ở giai đoạn kinh tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận
một tỉ lệ lạm phát cao hơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%).
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ tăng giá
mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ "dầu bôi trơn" để miêu
tả tác động tích cực của lạm phát. Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà
sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất
đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được tạo thêm. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
4.2 Ảnh hưởng tiêu cực:
4.2.1 Đối với lạm phát có thể dự kiến được:
Trong trường hợp nền kinh tế có khả năng dự báo trước việc xảy ra lạm phát,
các thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy nhiên những hậu
quả mà nó đem lại ít nhiều là không thể tránh khỏi.
Chi phí mòn giày: là một giả thuyết của trường phái kinh tế học Keynes mới nhằm
khẳng định rằng giá cả cứng nhắc trong ngắn hạn là do có sự tồn tại của chi phí điều chỉnh
giá cả.
Giả thuyết xuất phát từ thuật ngữ kinh tế “chi phí mòn giày”, mượn hình ảnh khi giá
cả tăng lên, người ta phải đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền về tiêu, và việc đi lại
nhiều hơn này làm cho giày chóng bị rách hơn.
Lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa
bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hay
làm giảm cầu về tiền. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ này để chỉ những tổn thất phát
sinh do những bất tiện cùng với thời gian tiêu tốn mà người ta hứng chịu so với trước khi
có lạm phát.
Chi phí thực đơn: lạm phát luôn dẫn đến việc giá cả tăng lên. Trong ngắn hạn, có thể
mức giá tăng lên là không lớn nhưng việc sửa lại (in ấn, phân phát lại…) các thực đơn, các
báo giá để phản ánh việc tăng giá cả nhỏ nói trên là không nhỏ. Các doanh nghiệp phải chịu
chi phí lớn hơn lợi ích mà họ thu được nếu tăng giá bán sản phẩm của mình. Vì vậy, các
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 11
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
doanh nghiệp có xu hướng trong ngắn hạn sẽ không thay đổi giá cả. Và vì vậy, họ cũng sẽ
nghĩa và thu nhập thực tế.
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 12
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm thước đo
trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các cá
nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình.
4.2.2 Đối với lạm phát không thể dự kiến được:
Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa các
cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất
danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay
bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu
thiệt hại. Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của
nó rất lớn.
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực của
lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không đáng kể
và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa phải. Khi lạm phát
biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân phối lại của cải giữa các cá
nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm
cách chống lại loại lạm phát này.
5. Các giải pháp kiềm chế lạm phát:
Ổn định lạm phát là một hành vi của Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước điều trị
cho một nền kinh tế khi có lạm phát xảy ra. Muốn bình ổn hiệu quả thì phải tìm ra những
nguyên nhân của lạm phát và từ đó có những giải pháp thích hợp. Khi biết được đích xác
nguồn gốc của lạm phát thì việc chữa trị nó là điều khả thi. . Điều cần lưu ý ở đây là không
có giải pháp nào là hoàn hảo, mọi biện pháp bình ổn lạm phát đều có cái giá phải trả của
nó, không có giải pháp nào là hoàn toàn hoàn chỉnh và lý tưởng cả.
Theo các nhà kinh tế học, có 8 nhóm để kiềm chế lạm phát, đó là:
- Thắt chặt tiền tệ.
- Cắt giảm đầu tư, chi phí không cần thiết.
- Đẩy mạnh sản xuất.
nhập bình quân đầu người năm 2007 của người dân Việt Nam đã đạt 820 USD/năm. So với
năm 1995, mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Việt Nam đã tăng khoảng 2,8
lần.
- Tỷ lệ nghèo đói có xu hướng giảm mạnh. Trên cơ sở kinh tế tăng trưởng nhanh,
mức độ nghèo đói của dân cư giảm mạnh. Năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam là 18,1%
(tính theo chuẩn nghèo quốc tế) và được thế giới đánh giá là thành công trong việc chống
nghèo đói.
- Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng lên đáng kể. Nhờ chú trọng
giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, hạn chế tỷ lệ sinh, nên chỉ số phát triển con người
của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Năm 2006, HDI của Việt Nam đạt 0,709, cao hơn
nhiều nước có cùng trình độ phát triển kinh tế.
- Đời sống kinh tế, sinh hoạt của người dân ngày càng được cải thiện. Đến nay ở
Việt Nam có 89,4% xã đã có điện, 94,6% xã có đường trải nhựa, 98,9% xã có trường tiểu
học và 99% các xã có trạm y tế. Nhiều mục tiêu đề ra đã đạt được hoặc vượt mức như tỷ lệ
chết ở trẻ em dưới 1 tuổi chỉ còn 2,1%, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 25%, tỷ
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 15
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
lệ thôn bản có cán bộ y tế cộng đồng đạt 79,8%. Tuổi thọ của người dân (năm 2006) đạt
71,3 tuổi. Phần lớn người dân Việt Nam đã có những tiện nghi tối thiểu cho sinh hoạt hằng
ngày như điện, nước sạch, ti vi... Tỷ lệ hộ dân có phương tiện đi lại bằng xe máy, ô-tô và sử
dụng các phương tiện sinh hoạt cao cấp như điện thoại di động, máy tính cá nhân,... ngày
càng có xu hướng tăng nhanh.
- Cơ cấu kinh tế có sự dịch chuyển rõ nét theo hướng hiện đại hóa. Nếu năm 1990,
ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới 38,7% GDP, thì đến năm 2006 giảm còn 20,4%.
Trong khi đó, các ngành công nghiệp và xây dựng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, tăng
tương ứng từ 22,7% lên 41,5%. Ngành dịch vụ duy trì khá ổn định ở mức khoảng 38%. Xét
trong từng nhóm ngành, cơ cấu ngành kinh tế cũng có sự thay đổi tích cực. Trong nhóm
ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tỷ trọng của ngành nông nghiệp và lâm nghiệp đã giảm,
nhường chỗ cho ngành thủy sản tăng lên. Trong cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng của
ngành công nghiệp chế biến cũng không ngừng tăng. Cơ cấu ngành dịch vụ cũng thay đổi
Thế nhưng, về thực chất, từ năm 2007 kinh tế Việt Nam vẫn phát triển trong điều
kiện khó khăn nhiều hơn thuận lợi.
Về khó khăn: Thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp, tai nạn do sự cố sập cầu
dẫn cầu Cần Thơ và sự biến động bất lợi của thị trường, giá cả thế giới kéo dài, gây hậu
quả nghiêm trọng là những yếu tố không thuận lợi đối với nền kinh tế nước ta trong năm
2007. Thiên tai đặc biệt nghiêm trọng, trên diện rộng và kéo dài trong cả năm đã gây thiệt
hại nặng nề cho nền kinh tế. Đầu năm hạn hán gay gắt ở miền Bắc và miền Trung, giữa và
cuối năm bão, mưa đá, lốc xoáy, lũ quét đã tàn phá nhiều tỉnh miền Trung. Dịch bệnh gia
súc như: dịch lợn tai xanh, dịch lở mồm long móng gia súc lan rộng, dịch cúm gia cầm tái
phát tại nhiều địa phương, ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi cả nước.
Đặc biệt nguy hiểm là dịch tiêu chảy cấp, nhiễm khuẩn tả phát sinh, kéo dài hàng tháng đã
gây hậu quả nghiêm trọng đến nhiều ngành sản xuất công nghiệp, ngành nghề, thủy sản,
kinh doanh dịch vụ ăn uống công cộng, du lịch trên địa bàn cả nước.
Thị trường thế giới biến động lớn, phức tạp gây nhiều yếu tố bất lợi cho nền kinh tế
Việt Nam. Giá cả nhiên liệu, vật tư, nhất là xăng dầu, phôi thép, thép, nguyên liệu sợi, vải,
vật liệu phục vụ công nghiệp dệt may, da giày, hóa chất, phân bón, thức ăn chăn nuôi tăng
cao. Thị trường xuất khẩu một số mặt hàng biến động phức tạp như dệt may, da giày, thủy
sản, thủ công mỹ nghệ, xe đạp và phụ tùng, động cơ điện... Điều đó đã làm cho giá cả tiêu
dùng trong nước tăng cao liên tục chưa có điểm dừng.
Tai nạn về sự cố sập cầu dẫn trên công trường xây dựng cầu Cần Thơ, cuối năm là
lở núi trên công trường thủy điện Bản Vẽ (Nghệ An) là những biến cố đột xuất, gây thiệt
hại lớn về người, tài sản, vốn và đã để lại hậu quả nặng nề không chỉ cho ngành xây dựng,
giao thông - vận tải mà còn tác động đến nhiều ngành và lĩnh vực khác.
SVTH: Trần Thị Phương Trâm – Lớp 33K01.1 17
Đề án môn học GVHD: Phùng Nam Phương
Năm 2007, tốc độ tăng GDP của Việt nam là 8,44% đứng thứ 3 châu Á (sau Trung
Quốc: 11,3% và Ấn Độ khoảng: 9%
Các điểm yếu của nền kinh tế vốn tồn tại nhiều năm nay như kết cấu hạ tầng yếu
kém, nhất là giao thông, thủy lợi, điện đã bộc lộ rõ nét qua thiên tai năm 2007... không đáp
ứng được yêu cầu phát triển kinh tế bền vững với tốc độ cao. Do vậy khả năng phòng