Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Những vấn đề lý thuyết liên quan đến định giá cổ phiếu
1. Khái niệm bản chất và vai trò của định giá cổ phiếu
1.1. Khái niệm về định giá cổ phiếu
Định giá cổ phiếu thực chất là quá trình xác định giá trị thực hay giá trị
kinh tế doanh nghiệp là công ty cổ phần để từ đó xác định giá trị của cổ phần mà
đại diện cho nó là cổ phiếu.
1.2. Bản chất của định giá cổ phiếu
Định giá cổ phiếu thực chất là quá Chương I: Những vấn đề lý thuyết
liên quan đến định giá cổ phiếu
1. Khái niệm bản chất và vai trò của định giá cổ phiếu
1.1. Khái niệm về định giá cổ phiếu
Định giá cổ phiếu thực chất là quá trình xác định giá trị thực hay giá trị
kinh tế doanh nghiệp là công ty cổ phần để từ đó xác định giá trị của cổ phần mà
đại diện cho nó là cổ phiếu.
1.2. Bản chất của định giá cổ phiếu
Định giá cổ phiếu thực chất là quá trình xác định giá trị doanh nghiệp là
công ty cổ phần để từ đó xác định giá trị của của cổ phần mà đại diện cho nó là cổ
phiếu. Việc định giá trị doanh nghiệp nhằm mục đích đưa doanh nghiệp ra trao
đổi, mua bán dưới một hình thức nào đó. Do vậy, doanh nghiệp cũng được coi như
hàng hoá, có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Tuy nhiên, doanh nghiệp là
một loại hàng hoá đặc biệt vì doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp của nhiều
yếu tố cấu thành và các mối quan hệ giữa các yếu tố đó. Có những yếu tố vật chất
như các tài sản hữu hình song cũng có những yếu tố phi vật chất như tài sản vô
hình. Giá trị của các yếu tố cấu thành tài sản của doanh nghiệp lại luôn thay đổi
theo thời gian. Hơn nữa, mỗi doanh nghiệp lại có những đặc thù riêng do vậy giữa
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể. Chính vì vậy, giá trị của doanh nghiệp
cũng chỉ là mức giá cá biệt. Việc định giá doanh nghiệp không chỉ đơn giản là lấy
tổng giá trị tài sản doanh nghiệp đã được kiểm kê, đánh giá để xác định giá trị
thể phát hành chứng khoán và công chúng đầu tư.
Trong điều kiện của Việt nam, đang thực hiện quá trình chuyển đổi nền kinh
tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết
của Nhà nước thì việc định giá doanh nghiệp có một vai trò quan trọng trong quá
trình đổi mới, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, nhất là việc
trong việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà
nước. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi thị trường chứng khoán Việt nam
mới mở cửa hoạt động thì vai trò của việc định giá doanh nghiệp hay định giá cổ
phiếu lại càng quan trọng. Điều này sẽ giúp tạo ra sự công bằng thông qua việc
người mua và người bán đều đánh giá đúng giá trị của cổ phiếu mà mình mua
bán, từ đó có thể đưa ra quyết định giao dịch có cơ sở. Đến lượt nó, việc đảm bảo
cân bằng quyền lợi cho người mua và người bán sẽ giúp cho hoạt động của thị
trường chứng khoán ổn định và phát triển bền vững. Mặt khác, thông qua việc xác
định mức giá thị trường hợp lý, các nhà quản lý thị trường có cơ sở để đưa ra các
quyết định quản lý đúng đắn nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động hiệu quả và
an toàn.
1.3. Vai trò của định giá cổ phiếu
Xét ở góc độ chủ thể phát hành, vai trò của việc định giá cổ phiếu thể hiện rất rõ
nét. Thông qua việc xác định giá cổ phiếu, các chủ thể phát hành có thể định ra
được mức giá hợp lý nhằm đảm bảo người đầu tư sẵn sàng chấp nhận mức giá
đó; đồng thời doanh nghiệp cũng không bị thua thiệt do cổ phiếu bị định giá thấp.
Điều này bảo đảm sự thành công của đợt phát hành trên thị trường sơ cấp, đồng
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thời cũng đảm bảo tính thanh khoản cho cổ phiếu khi được giao dịch trên thị
trường thứ cấp. Trên thực tế, hoạt động định giá cổ phiếu hiện nay ở Việt nam còn
nhiều bất cập, khung khổ pháp lý chưa hoàn thiện, đặc biệt là chính sách chế độ về
tài chính kế toán, các phương pháp áp dụng nghèo nàn, thiếu các tổ chức tài chính
hoạt động chuyên nghiệp về lĩnh vực này... gây nên những khó khăn nhất định
trong việc định giá và chính điều này là một trong những cản trở trong quá trình
làm tốt nghiệp vụ tư vấn đầu tư, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư cá nhân trong
nước và nước ngoài, qua đó tăng giá trị giao dịch toàn thị trường và thúc đẩy thị
trường phát triển sôi động.
- Hoàn thiện qua trình ra quyết định đầu tư tự doanh và đầu tư danh mục,
nâng cao gia trị giao dịch và hiệu quả đầu tư, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư có tổ
choc để quản lý danh mục đầu tư.
- Đẩy mạnh nghiệp vụ phát hành mới và bảo lãnh phát hành của công ty
chứng khoán, tăng lượng hàng hoá cho thị trường, thúc đẩy sự tham giá của các
công ty cổ phần mới vào thị trường giao dịch tập trung để huy động vốn, thúc đẩy
sự ra đời của các công ty cổ phần mới để huy động vốn trên thị trường thứ cấp.
Có cơ sở để so sánh các hàng hoá khác nhau, tạo cạnh tranh trên thị trường,
qua đó thúc đẩy công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có sự lựa chọn
những doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả vào danh sách cổ phần hoá.
Đẩy mạnh việc chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
thành công ty cổ phần và thổi luồng sinh khí mới vào thị trường chứng khoán Việt
Nam khi Chính phủ có văn bản cho phép định hướng này.
Nói một cách tổng quát, việc định giá được quy định trong các trường hợp
khác nhau và với các mục đích khác nhau sẽ gây ảnh hưởng tới kết quả thu được
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và việc lựa chọn các phương pháp áp dụng. Tuy nhiên, việc định giá thường được
tiến hành theo một số mục đích chính sau đây:
- Hỗ trợ người mua trong việc xác định mức độ sẵn sàng chấp nhận mua;
- Hỗ trợ người bán trong việc xem xét giá bán;
- Đóng vai trò như quan toà trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên;
- Hỗ trợ người cho vay trong việc định lượng chứng khoán thế chấp đối với
một khoản vay;
- Hình thành giá trị liên quan đến các điều khoản trong luật pháp, như
nhằm mục đích tính thuế trước bạ;
- Định lượng giá trị đưa vào các báo cáo kế toán;
Giá trị kinh tế
Khái niệm giá trị kinh tế liên quan đến công dụng chủ yếu của một tài sản
trong việc tạo ra luồng thu nhập sau thuế cho người nắm giữ tài sản đó. Những
luồng thu nhập này có được từ thu nhập hay các khoản thanh toán theo hợp đồng,
hay thanh lý một phần hoặc toàn bộ vào một thời điểm trong tương lai. Giá trị
kinh tế chính là một khái niệm lựa chọn luồng thu nhập. Giá trị của một hàng hoá
được định nghĩa là số tiền mà người mua sẵn sàng trả theo giá trị hiện tại của nó
để có được luồng thu nhập dự tính trong tương lai. Do vậy, giá trị kinh tế là một
khái niệm hướng về tương lai. Nó được xác định thông qua việc đánh giá luồng
thu nhập tiềm năng trong tương lai, kể cả số tiền thu được từ lần thanh lý hàng
hoá cuối cùng. ở đây, các chi phí phát sinh do quyết định trước đây là chi phí chìm
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và do vậy không liên quan đến việc ước tính luồng thu nhập trong tương lai nếu
xét từ góc độ kinh tế.
Giá trị kinh tế làm cơ sở cho một khái niệm giá trị thông thường khác bởi vì
nó dựa trên logic lựa chọn hoàn toàn tất yếu trong quá trình đầu tư tiền bạc. Tuy
nhiên việc tính toán giá trị kinh tế trên thực tế sẽ rất phức tạp vì chúng ta cần
phải lựa chọn và áp dụng một tỷ lệ chiết khấu đại diện (lợi nhuận tiêu chuẩn) khi
tính giá trị hiện tại của luồng thu nhập và luồng thu nhập dương trong một thời
gian nhất định. Những luồng thu nhập này còn bao gồm cả giá trị giả định cuối
cùng về lượng tiền có khả năng thu hồi hoặc mọi giá trị hiện thực tại điểm phân
tích cuối cùng. Quá trình này thực tế quyết định sự cân bằng của luồng thu nhập
trong toàn bộ những khoản thời gian khác nhau.
Mặt khác, việc đánh giá rủi ro của một công ty được dựa trên các đặc điểm
tương đối của công ty, do vậy giá trị kinh tế không phải là tuyệt đối; nó chỉ là kết
quả của việc đánh giá rủi ro tương đối dự tính trong tương lai. Trên thực tế, giá
trị kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ chấp nhận rủi ro của mỗi cá nhân.
Do đó, giá trị kinh tế đóng vai trò chủ chốt trong việc đưa ra quyết định đầu tư
của mỗi người.
Nhưng ngay cả khi giá trị thị trường được niêm yết sẵn thì vẫn có thể có
những điều chỉnh nhất định. Ví dụ các cổ phiếu phổ thông phổ biến tại các sở giao
dịch lớn được yết giá công khai trên thị trường, nhưng thường sẽ phải chịu những
biến động giá cả quan trọng thậm chí là trong một ngày giao dịch. Do đó, giá trị
thị trường căn cứ vào các giao dịch cùng loại chỉ có thể biến động trong một giới
hạn nhất định gắn với các điều kiện giao dịch theo ngày, theo tuần hay theo tháng.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với hàng hoá không được giao dịch thường xuyên, việc đánh giá giá trị giao
dịch thực tế sẽ trở nên khó khăn hơn.
Giá trị sổ sách
Giá trị sổ sách của một tài sản có hay tài sản nợ là giá trị ghi trong bảng cân
đối kế toán theo nguyên tắc kế toán được chấp nhận ở mỗi nước. Giá trị sổ sách
chủ yếu phục vụ cho mục đích kế toán chứ không phải là giá trị kinh tế hiện hành.
Giá trị sổ sách là một giá trị có tính lịch sử mà vào một thời điểm nhất định nào đó
nó có thể được đánh giá lại để thể hiện giá trị thị trường. Tuy nhiên, vì giá trị thị
trường luôn thay đổi theo thời gian và những biến động của điều kiện kinh tế, do
vậy, giá trị sổ sách và giá trị thị trường sẽ hầu như không đồng nhất. Thực tế này
rất đúng đối với cổ phiếu phổ thông được giao dịch theo giá trị thị trường và giá
trị này thường khác xa so với giá trị ghi sổ. Sở dĩ có sự khác biệt trên là vì giá trị
sổ sách được xác định từ bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán được chuẩn bị vào ngày cụ thể, ghi chép các loại và số
lượng các tài sản có được sử dụng cho hoạt động kinh doanh (tức là các khoản
vốn đã cam kết) và các tài sản nợ đối ứng huy động của người cho vay và các chủ
sở hữu (tức là các khoản vốn đã huy động được). Cũng có thể gọi là bản báo cáo
điều kiện tài chính hoặc bản báo cáo tình hình tài chính, bản này luôn phải cân đối
bởi vì giá trị ghi sổ của toàn bộ các tài sản đã được đầu tư vào hoạt động kinh
doanh tại một thời điểm nào đó phải cân đối một cách chính xác với các khoản nợ
đã vào sổ và các khoản vốn cổ phần của các chủ sở hữu là nguồn gốc của các tài
sản này. Các khoản nợ này là các nghĩa vụ cụ thể thể hiện các trái quyền đối với
- Vốn cổ phần của chủ sở hữu bao gồm số vốn ròng do các loại chủ sở hữu đóng
góp cũng như các khoản thu nhập tích luỹ được giữ lại trong doanh nghiệp sau
khi chi trả cổ tức.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng cân đối kế toán là các hình ảnh sao chụp dạng tĩnh phản ánh các điều
kiện tại thời điểm lập bảng. Các số liệu này cũng mang tính chất tích luỹ vì nó
trình bày các kết quả của tất cả các quyết định và các giao dịch được thực hiện kết
từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động và được tính toán cho đến thời điểm
chuẩn bị báo cáo.
Như chúng ta đã thấy trên đây, các quy định kế toán tài chính quy định rằng
tất cả các giao dịch phải được hạch toán theo chi phí và giá trị tại thời điểm hiện
thời, và những điều chỉnh về sau giá trị ghi sổ chỉ được thực hiện trong những
trường hợp hạn hữu. Do vậy, bảng cân đối kế toán (số liệu được tính luỹ) diễn giải
các tài sản và các khoản nợ đã mua hoặc phải thực hiện trong những thời gian
khác nhau. Do các giá trị kinh tế hiện thời của các tài sản có thể thay đổi, đặc biệt
trong trường hợp những khoản mục dài hạn (như nhà cửa, máy móc) hoặc các
nguồn vốn (như đất đai, khoáng sản), các chi phí được phản ánh trong bảng cân
đối kế toán có thể không phản ánh các giá trị kinh tế thực sự. Hơn nữa, những
thay đổi về giá trị của tiền tệ dùng để hạch toán các giao dịch có thể bóp méo bảng
cân đối kết toán theo thời gian.
Cuối cùng, vì giá trị sổ sách của vốn cổ phần là phần chênh lệch giữa tổng
tài sản có và vốn nợ nên giá trị này cũng chỉ thể hiện giá trị kế toán chứ không
phải là giá trị kinh tế hiện thời. Thường có sự khác nhau hoàn toàn giữa giá trị
còn lại này với giá trị kinh tế hiện thời của doanh nghiệp được phản ánh trên giá
cổ phiếu hoặc trong việc định giá khi mua bán doanh nghiệp. Thực tế, cổ phần của
các công ty hoạt động có hiệu quả được mua bán theo các mức giá cao hơn nhiều
so với giá trị ghi sổ của nó.
Từ thực tế trên cho thấy giá trị sổ sách trong nhiều trường hợp chỉ nên
dùng để tham khảo chứ không có giá trị phân tích kinh tế để xác định giá trị thị
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
là mức khấu hao hoặc giảm giá, thường được quy định phải tính theo lợi nhuận
trong suốt những giai đoạn kế toán sử dụng tài sản. Giá trị sau khấu hao bằng giá
trị sổ sách của một tài sản trừ đi tổng mức khấu hao hoặc giảm giá đã được xác
định. Vì là giá trị sổ sách nên phản ánh giá thị trường khi bán tài sản hoặc mức
chi phí bỏ ra để thay thế tài sản.
Giá trị thẩm định
Giá trị thẩm định được xác định và sử dụng một cách chủ quan khi tài sản
liên quan không có giá trị thị trường rõ ràng. Người ta thường lấy giá giao dịch
phù hợp để so sánh với tài sản được thẩm định. Giá trị thẩm định thường được
dùng trong các giao dịch có quy mô đáng kể, đặc biệt là đối với bất động sản có
tính chất thương mại hay đất đai, giá trị thẩm định được xác định bởi một giám
định viên công bằng được hai bên tham gia chấp thuận, đó là người có kiến thức
về giám định các loại tài sản liên quan giúp người mua và người bán tìm ra được
mức giá hợp lý, hay ít nhất là đề ra mức độ mặc cả. Chất lượng đánh giá phụ
thuộc vào khả năng giám định và so sánh với các trường hợp trước đó. Một lần
nữa, khả năng và đánh giá của cá nhân góp phần làm cân bằng giá trị. Hiếm khi
những lần thẩm định khác nhau lại có cùng kết quả.
Giá trị hoạt động liên tục
Giá trị hoạt động liên tục là giá trị của một doanh nghiệp đang hoạt động
hoặc giá trị của tài sản “đang sử dụng”. Khái niệm giá trị hoạt động liên tục
thường gặp khi định giá nhà xưởng và thiết bị và thường kết hợp với một yếu tố
thu nhập vốn hoá. Ví dụ, trong thời kỳ lạm phát cao, giá trị hoạt động liên tục của
nhà xưởng và thiết bị có thể vượt quá giá trị sổ sách của chúng rất nhiều. Giá trị
hoạt động liên tục nói chung thường cao hơn giá trị có thể thực hiện nếu bán tài
sản thông qua đấu giá công khai.
Giá trị cổ phần
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như đã trình bày ở trên, giá trị cổ phần được hình thành khi lợi nhuận từ
khác nhau sẽ đem lại một giá trị khác nhau. Vì vậy, để xác định giá trị cổ phiếu tại
một thời điểm nào đó, người ta phải xác định được giá trị luồng thu nhập mà cổ
phiếu đó (hoặc công ty đó) đem lại ở các thời điểm khác nhau và quy chúng về
cùng thời điểm cần định giá. Việc quy đổi này luôn tuân theo nguyên tắc chung là
một đồng của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng của ngày mai do tính
chất sinh lợi của đồng tiền như sau:
Ngày hôm nay, người đầu tư bỏ ra một đồng để tiết kiệm với lãi suất r thì
sau một năm khoản tiền trên có giá trị bằng 1(1+r). Như vậy, giá trị sau một năm
của một đồng sẽ là (1+r) đồng. Nếu làm phép tính ngược lại thì nếu người đầu tư
muốn có được một khoản tiền M
1
= (1+r) đồng sau đây một năm thì ngày hôm nay,
người đó phải gửi tiết kiệm một khoản M
1
/(1+r) = (1+r)/(1+r) = 1 đồng. Đây
chính là nguyên lý cơ bản để xác định giá trị luồng thu nhập theo thời gian. Do
vậy, việc xác định giá trị cổ phiếu được dựa trên nguyên tắc xác định giá trị đồng
tiền theo thời gian như sau:
• Xác định giá trị tương lai của một khoản tiền hiện tại
Đồng tiền có giá trị theo thời gian. Một khoản đầu tư có thể tăng sau một
thời gian do có lãi suất. Nếu đầu tư một khoản PV trong n năm, lãi suất các năm
tương ứng là r
1
, r
2
, .... và FV(n; r
1
, r
2
...r
PV: Giá trị ban đầu
- Nếu tính theo tháng thì công thức biến đổi như sau:
FV(n;r) = PV(1+r)
n/12
Trong đó:
FV(n;r) : giá trị cuối kỳ
n: Số tháng gửi
r : lãi suất năm (%)
PV: Giá trị ban đầu
- Nếu tính theo ngày thì công thức biến đổi như sau:
FV(n;r) = PV(1+r)
n/365
Trong đó:
FV(n;r) : giá trị cuối kỳ
n: Số ngày gửi
r : lãi suất năm (%)
PV: Giá trị ban đầu
- Lãi suất nhiều kỳ trong năm:
FV(n,r) = PV (1 +
m
r
)
n
×
m
Trong đó:
r: Lãi suất hàng năm
n: Số năm gộp lãi
m: Số kỳ gộp lãi mỗi năm (tháng, quý, ngày)
17
r
1r)(1
n
−+
)
• Xác định giá trị hiện tại của một khoản tiền trong tương lai:
PV=
)r)...(1r)(1r(1
r)FV(n,
n21
+++
Với lãi suất cố định:
PV=
n
r)(1
r)FV(n,
+
Thời gian tính theo tháng:
PV =
n/12
r)(1
r)FV(n,
+
Thời gian tính theo ngày:
PV =
n/365
r)(1
r)FV(n,
+
- Giá trị hiện tại của dòng thu nhập tại các thời điểm khác nhau trong tương
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PV: Giá trị hiện tại
FV
1
: Giá trị thu nhập của năm 1
FV
2
: Giá trị thu nhập của năm 2
FV
n
: Giá trị thu nhập của năm n
Nếu FV
1
= FV
2
= FV
n
= FV và r
1
= r
2
= ... = r
n
= r
thì
PV(n, r) =
1
r)(1
FV
r
i
: lãi suất năm i.
Về nguyên tắc, dòng thu nhập có thể là vô hạn vì một công ty và cổ phiếu
của công ty có thể tồn tại vô thời hạn.
2.2.1. Nguyên tắc ngang giá
Trong điều kiện thị trường hoạt động trôi chảy và không có những yếu tố
làm nó méo mó giá cả, nguyên tắc giá trị hiện tại và lợi suất tương ứng với rủi ro
đưa đến hệ quả là giá cả của nó. Tại những thời điểm nhất định, do sự mất cân đối
về thông tin hay thông tin không đầy đủ thì có thể phát sing sự chêch lệch giữa giá
cả và hiện giá của một tài sản nhưng trên thị trường lập tức sẽ đẩy giá thị trường
về sát với hiện giá của nó. Đây chính là hoạt động có tác dụng điều chỉnh thường
xuyên trên các TTCK phát triển. Mặt khác, cơ chế trên còn đưa một nguyên lý nữa
là giá cả của các tài sản có cùng dòng tiền thu nhập và cùng độ rủi ro thì phải
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
bằng nhau nếu giả định rằng chi phí giao dịch là bằng không và thị trường hoạt
động hiệu quả.
2.2.2. Lợi suất tương ứng với rủi ro
Lãi suất r nêu trên chính là tỷ suet để qui các luồng tiền thu nhập trong
twong lai của tài sản tài chính về giá trị hiện tại hay còn gọi là tỷ lệ chiết khấu. Với
choc năng đó, tỷ lệ chiết khấu phải tương xứng với mức độ rủi ro của tài sản tài
chính và còn được gọi là lợi suất mong đợi điều chỉnh theo rủi ro bởi vì xét từ góc
độ nhà đầu tư nó là lợi tức được thể hiện theo giá trị tương đối (phần trăm) mà
họ mong muốn thu được qua việc đầu tư vào một tài sản có mức độ rủi ro nhất
định. Rủi ro này bao gồm rủi ro hệ thống (rủi ro không thể tránh khỏi) và rui ro
phi hệ thống (rủi ro có thể loại trừ bằng cách đa dạng hoá). Do vậy, r phải bao
hàm hai yếu tố: lợi suất phi rủi ro và phí bù đắp rủi ro. Lợi suất phi rủi ro đem lại
lợi tức thực, cps tính lợi đến lạm phát cho nhà đầu tư (mà điển hình là lãi suất của
Tín phiếu Kho bạc); còn phí bù đắp rủi ro bao gồm: rủi ro vỡ nợ, rủi ro kỳ hạn, rủi
Bêta
1,0
Bêta
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
E(r
m
) = lợi suất dự tính của danh mục thị trường
E(r
m
) - r
f
= mức bù đắp rủi ro thị trường
e
β
= rủi ro hệ thống của tài sản
r
e
= lợi suất yêu cầu
Lợi suất yêu cầu, r
e
là một hàm số của rủi ro hệ thống (
β
). Rủi ro beta của
danh mục thị trường bằng 1,0. Hệ số
β
của chứng khoán càng lớn thì mức rủi ro
càng cao, và do vậy lợi suất yêu cầu (r
e
) phái càng lớn.
Để áp dụng phương pháp CAPM, chúng ta cần phải xác định ba nhân tố: lợi
β
> 1 thì mức bù đắp rủi ro cho chứng khoán đó phải cao hơn mức bù đắp rủi ro
thị trường,
e
β
[ E(r
m
) - r
f
]. Trường hợp ngược lại thì mức bù đắp rủi ro của chứng
khoán sẽ thấp hơn mức bù đắp thị trường.
Xác định rủi ro hệ thống (
e
β
):
Xác định hệ số
e
β
phụ thuộc vào việc liệu cổ phần của công ty có được niêm
yết hay không.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nếu công ty thực hiện chào bán ra công chúng thì nhà đầu tư có thể sử
dụng các hệ số
β
được công bố rộng rãi làm thước đo. Các hệ số
β
này được cập
nhật theo định kỳ (quý hoặc năm,...). Việc xác định rủi ro hệ thống này được căn
cứ vào các hệ số tài chính của từng công ty. Chúng thay đổi khi các hệ số tài chính
β
của một công ty tương tự được niêm yết hoặc có thể dùng hệ số
β
bình quân
ngành làm trước đó.
- Nếu vốn của công ty bao gồm cả vốn cổ phần và vốn nợ thì r
e
cần được
xác định theo phương pháp chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC):
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
r
a
= r
e
x
ED
E
+
+ r
d
DE
D
+
(1-t)
Trong đó:
r
a
là lợi suất thu nhập ước tính trên tài sản của công ty hay chính là chi phí
vốn bình quân gia quyền của một công ty.
3.1. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đi sau xem xét tình hình tài chính
những năm đã qua của công ty có cổ phiếu định giá và so sánh với những công ty
hoạt động cùng ngành nhằm thu được những đặc thù hoạt động riêng của công
ty, những xu hướng biến động riêng của công ty làm cơ sở dự báo hoặc tìm kiếm
công ty tương đương.
Khi phân tích các chỉ số tài chính cần lưu ý rằng: Nếu như bảng cân đối kế
toán (BCĐKT) phản ánh những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của công
ty tịa một thời điểm, thì báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) phản ánh kết quả
kinh doanh của công ty trong một thời kỳ nhất định. Vì vậy khi phân tích các chỉ số
tài chính mà có một chỉ tiên thuộc BCĐKT, một chỉ tiêu thuộc BCKQKD thì có hai
quan điểm khác nhau về việc lựa chọn số liệu phục vụ phân tích: Thứ nhất, có thế
tính toán theo số dư cuối kỳ, quan điểm thứ hai lại dùng số dư trung bình của kỳ.
Nhưng trong báo cáo này, em sẽ phân tích các chỉ số tài chính dựa trên số dư
trung bình của kỳ, do số dư trung bình của kỳ cho phép phản ánh hợp lý những
thay đổi trong kết quả kinh doanh mà có kiên quan đến việc thay đổi các khoản
mục tài sản trong kỳ tài chính. Phần này bao gồm:
Phân tích các tỷ số tài chính
Các hệ số tài chính được sử dụng rộng rãi khi xem xét tình hình và đặc điểm
hoạt động của một doanh nghiệp do chúng phản ánh được mối quan hệ của
những con số tuyệt đối trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Do các hệ số này
là chỉ tiêu tương đối, phản ánh quan hệ giữa các đại lượng, nên việc phân tích chỉ
có ý nghĩa khi so sánh tương quan; thông thường người ta thường so sánh hệ số
của một doanh nghiệp xem xét với:
- Hệ số của nền kinh tế;
- Hệ số trung bình ngành hoạt động của doanh nghiệp;
25