Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài.
1.1.1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài.
Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.
Nông nghiệp đóng góp bình quân 80% tỉ trọng GDP cả nước hằng năm. Phát triển
kinh tế nông nghiệp nông thôn gắn với cải thiện đời sống của người nông dân là
vấn đề trọng tâm, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm ưu tiên. Sự nghiệp CNH
- HĐH đất nước sẽ không thành công nếu chúng ta không chú trọng công nghiệp
hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Cho đến hiện tại, sản xuất nông nghiệp
vẫn đang là thế mạnh hàng đầu của nước ta. Vì vậy đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp theo hướng bền vững đang là mối quan tâm và ưu tiên hàng đầu trong công
cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.
ĐBSCL là một trong hai vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước. Cho
đến nay, kinh tế nông nghiệp nơi đây vẫn chưa phát triển đúng tiềm năng của nó.
Là vựa lúa của cả nước nhưng đời sống nông dân vẫn còn nhiều khó khăn do sản
xuất manh múng, tự phát, thiếu chất lượng. Bên cạnh đó, khả năng ứng dụng khoa
học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất còn thấp.
Trong thời kỳ Việt Nam hội nhập nền kinh tế toàn cầu, sự cạnh tranh diễn
ra ngày càng gay gắt. Để có thể cạnh tranh được với nông sản của các nước khác,
bản thân những người nông dân phải hợp tác với nhau để sản suất ra sản phẩm
đồng nhất, chất lượng cao, sản lượng lớn, giá thành hạ. Vì vậy, sự ra đời của các
HTXNN là điều tất yếu.
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Luật HTX sửa đổi đã được Quốc hội khoá XI
thông qua tại kỳ họp thứ 4 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004.
Luật đã có nhiều thay đổi tích cực so với Luật của năm 1996, tạo ra nhiều thuận
lợi và thông thoáng hơn cho các HTX phát triển. Theo Luật, HTX có được khung
khổ pháp lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc
tế.
loại hình doanh nghiệp nên vấn đề đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực cũng là
một vấn đề cần đặt ra để tìm hướng giải quyết.
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
Tất cả các vấn đề thực tiễn nêu trên sẽ được lần lượt phân tích trong nội
dung của đề tài.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1 Mục tiêu tổng quan.
Đánh giá thực trạng, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình
hình hoạt động của các HTXNN ở ba tỉnh Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
trong thời gian qua, từ đó tìm ra các hướng đi mới với mục tiêu thúc đẩy sự phát
triển mô hình hoạt động HTX trong thời đại mới.
1.2.2 Mục tiêu chi tiết.
Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng hoạt động của các HTXNN trên địa
bàn ba tỉnh Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang trong thời gian qua.
Mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động của các HTXNN trên địa bàn ba tỉnh Vĩnh Long – An Giang –
Tiền Giang trong thời gian qua.
Mục tiêu 3: Tìm ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển các mô
hình HTXNN trong giai đoạn mới hướng đến năm 2020.
1.3 Các giả thuyết kiểm định và câu hỏi nghiên cứu.
1.3.1 Các giả thuyết cần kiểm định.
Giả thuyết 1 : Các mô hình HTXNN hiện nay vẫn chưa hoạt động
thật sư hiệu quả.
Giả thuyết 2: Chưa có sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu hoạt động của
các HTXNN kể từ khi Luật HTX được sữa đổi bổ sung năm 2003 và
việc Việt Nam gia nhập WTO năm 2007.
Giả thuyết 3: Các HTXNN vẫn chưa thu hút được nhiều nông hộ
tham gia vì những lợi ích mà nó mang lại chưa thiết thực.
Giả thuyết 4: Các cán bộ trong ban lãnh đạo HTX chưa có trình độ
Giang và Tiền Giang nói riêng có các bài nghiên cứu của các tác giả:
a) Tô Thiện Hiền, Thực trạng và giải pháp hợp tác xã nông nghiệp ở An
Giang – Đại học An Giang, 2006.
Đề tài nghiên cứu nhằm xác định hình thức nghiên cứu hợp tác nông nghiệp
tại địa bàn tỉnh An Giang, từ khâu vận động nông dân cho hiểu ý nghĩa của hợp tác
xã kiểu mới đến các quy trình thành lập, đào tạo hợp tác xã, hoạt động sản xuất, tín
dụng và tiêu thụ sản phẩm và rút ra những bất cập, những thiếu xót và những chỗ
mạnh của phong trào hợp tác xã của tỉnh An Giang để đề xuất những biện pháp
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
nhằm tăng cường hiệu quả của các hợp tác xã nông nghiệp An Giang để đáp ứng
nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới.
b) Nguyễn Công Bình, Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp
tác xã nông nghiệp ở tỉnh Tiền Giang đến 2015 - Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, 2007.
Đề tài nghiên cứu phân tích các điều kiện tự nhiên và xã hội ở Tiền Giang,
qua đó đánh giá thực trạng hoạt động và phát triển của các Hợp tác xã nông nghiệp
ở tỉnh Tiền Giang giai đoạn 1997 đến 2007, từ đó tìm ra các giải pháp thích hợp để
nâng cao hoạt động của các HTXNN tầm nhìn đến 2015.
c) Các báo cáo tình hình hoạt động của HTX hằng năm của Sở Nông nghiệp
ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Tiền Giang
Báo cáo đánh giá thực trạng hoạt động HTX trong tỉnh, phân tích những
thuận lợi, khó khăn chủ yếu trong hoạt động của các HTX từ đó tìm ra giải pháp
cải thiện đồng thời đề ra các mục tiều cần đạt được cho những năm tiếp theo.
d) Các văn bản pháp quy liên quan đến sự phát triển HTX hiện nay.
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1Phương pháp luận.
ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng phải tuân theo
nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và
lãi suất nội bộ thấp hơn giá thị trường.
Bốn là, HTX thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và
cùng có lợi.
Năm là, HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã viên thật
sự có nhu cầu, có mong muốn không lệ thược vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở
những dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lý kinh doanh. Như vậy trong một
khu cự nhất định có thể tồn tại nhiều loại hình HTX có nội dung kinh doanh khác
nhau, có số lượng xã viên không giống nhau, trong đó một số nông hộ, trang trại
đồng thời là xã viên của nhiều HTX khác nhau.
Sáu là, xã viên vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong HTX, vừa là cơ sở hoạt
động kinh doanh và hạch toán độc lập. Do vậy, quan hệ giữa HTX và xã viên vừa
là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ, vừa là quan hệ giữa hai đơn vị kinh doanh có
tư cách pháp nhân độc lập.
2.1.1.2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTXNN.
HTX tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc sau đây:
- Tự nguyện: mọi các nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy
định của Luật HTX, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX;
xã viên có quyền ra khỏi HTX theo Điều lệ HTX.
- Dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm
tra, giám sát HTX và có phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính,
phân phối và những vấn đề khác được quy định trong Điều lệ HTX.
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định về phân
phối thu nhập.
- HTX và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xây
dựng tạp thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội; hợp
tác giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Điều 2 Nghị định số 177/2004/NĐ-CP quy định chi tiết
Không giống các loại hình doanh nghiệp khác, HTXNN mang tính đặc thù
là sự hợp tác tự nguyện của các thành viên trong nông nghiệp nhằm đạt được một
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
mục tiêu nào đó. Như vậy sự ra đời của HTXNN là mang lại những lợi ích thiết
thực cho xã viên.
Khoảng 80% GDP của cả nước là nông nghiệp. Điều đó cho thấy sự quan
trọng của nông nghiệp, và của các HTXNN đối với nền kinh tế. HTXNN giúp các
nông hộ liên kết lại với nhau, tránh tình trạng sản xuất phân tán nhỏ lẻ đang là vấn
đề phổ biến hiện nay. Bên cạnh đó, HTXNN còn cung cấp các dịch vụ cho xã viên
của mình từ khâu cung ứng nguyên vật liệu đầu vào như: giống, phân bón, thuốc
từ sâu,… cho đến dich vụ thuỷ lợi hướng dẫn kỹ thuật canh tác trong quá trình sản
xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ, người nông dân
không thể tự mình cạnh tranh với các nông sản của các nước khác mà phải liên kết
với nhau thông qua các HTXNN hay liên minh HTX để cùng sản xuất ra sản phẩm
đồng nhất, đủ tiêu chuẩn chất lượng, hạ thấp chi phí sản xuất, đồng thời tìm đầu ra
cho nông sản. Vấn đề chèn ép giá hiện nay đang diễn ra rất phổ biến bặc biệt là ở
ĐBSCL khi mà nông dân sản xuất xong không biết bán cho ai, giá bao nhiêu. Phần
đông dân số nước ta là nông dân, đất nước dựa vào nông nghiệp để phát triển
nhưng nông dân lại là những người nghèo nhất. Như vậy muốn đưa đất nước phát
triển đi lên, trước hết phài tìm cách làm giàu cho chính những người nông dân.
Trong mục tiêu phát triển bền vững nông nghiệp, sự phát triển đúng đắn các mô
hình HTXNN là một yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công.
2.1.2.2. Vai trò.
HTXNN là hình thức kinh tế tập thể của nông dân, vì vậy hoạt động của
HTXNN có tác động to lớn, tích cực đến hoạt động của sản xuất hộ nông dân. Nhờ
có hoạt động của HTXNN, các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động
sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chất lượng, các
khâu sản xuất tiếp theo được đảm bảo làm cho hiệu quả sản xuất của hộ nông dân
gian và thời gian để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ
nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau.
- Mục tiêu 2: Dùng phương pháp hồi quy tuyến tính để phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến mô hình hoạt động của HTXNN.
Phân tích hồi quy là một phân tích thống kê để xác định xem các biến độc
lập (biến thuyết minh) quy định các biến phụ thuộc (biến được thuyết minh) như
thế nào.
Phương trình hồi quy:
Y = β
1
+ β
2
X
2
+ β
3
X
3
+ β
4
X
4
+ … + β
k
X
k
+ U
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
Trong đó:
đường biển và đường sông từ cửa Tiểu và cửa Định An vận chuyển hàng hoá đi
Campuchia và tuyến quốc lộ 54 từ Trà Vinh xuyên qua Vĩnh Long lên Đồng Tháp
và biên giới Campuchia. Về mặt địa chính trị, nó có thể được xem là trung tâm của
ngã sáu đi trực tiếp đến 8 tỉnh, thành phố trong vùng. Đó là quốc lộ 1A đi qua Tiền
Giang, Long An và thành phố Hồ chí Minh theo hướng bắc và đi Cần Thơ theo
hướng Nam, quốc lộ 80 đi Sa Đéc, An Giang, quốc lộ 30 Cao lãnh và vùng Đồng
Tháp Mười, quốc lộ 57 đi Bến Tre và quốc lộ 53 đi Trà Vinh. Nếu lấy thành phố
Vĩnh Long làm tâm thì trong bán kính 100 km, từ Vĩnh Long có thể đi đến 10 tỉnh,
thành của ĐBSCL (ngoại trừ Bạc Liêu và Cà Mau). Hơn thế nữa, Cầu Mỹ Thuận
và cầu Cầu Thơ sẽ biến Vĩnh Long thành chiếc cầu lớn nối liền các tỉnh phía Bắc
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
sông Tiền với các tỉnh phía Nam Sông Hậu. Nối liền miền Đông với Miền Tây
Nam bộ, nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với vựa lúa ĐBSCL.
Tỉnh Vĩnh Long có dạng địa hình khá bằng phẳng. Với dạng địa hình đồng
bằng ngập lụt cửa sông, tiểu địa hình của Tỉnh có dạng lòng chảo ở giữa trung tâm
Tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Mang Thít và ven các
sông rạch lớn. Phân cấp địa hình của Tỉnh có thể chia ra 3 cấp như sau:
- Vùng có cao trình từ 1,2 - 2,0m: 29.934,21 ha - chiếm 22,74%. Phân bố
ven sông Hậu, sông Tiền, sông Mang Thít, ven sông rạch lớn cũng như đất cù lao
giữa sông và vùng đất giồng gò cao của Huyện Vũng Liêm, Trà Ôn. Nông nghiệp
chủ yếu cơ cấu lúa - màu và cây ăn quả.
- Vùng có cao trình từ 0,8 -1,2m: 60.384,93 ha - chiếm 45,86%. Phân bố
chủ yếu là đất cây ăn quả, kết hợp khu dân cư và vùng đất cây hàng năm với cơ
cấu chủ yếu lúa màu hoặc 2-3 vụ lúa có tưới động lực, tưới bổ sung trong canh tác,
thường xuất hiện ở vùng ven Sông Tiền, Sông Hậu và sông rạch lớn của Tỉnh.
- Vùng có cao trình từ 0,4 - 0,8 m: 39.875,71 ha - chiếm 30,28%. Phân bố
chủ yếu là đất 2-3 vụ lúa cao sản (chiếm 80% diện tích đất lúa) với tiềm năng tưới
tự chảy khá lớn, năng suất cao; đất trồng cây lâu năm phải lên liếp, lập bờ bao mới
đảm bảo sản xuất an toàn, trong đó vùng phía Bắc quốc lộ 1A là vùng chịu ảnh
2
chiếm 330.3% diện tích toàn tỉnh, gồm
04 huyện Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu và An Phú. Đây là vùng phát triển nông
nghiệp với năng suất cây trồng cao nhất tỉnh.
+ Vùng bờ hữu sông Hậu: Ngoài sản xuất nông nghiệp còn có khai khoáng,
phát triển công nghiệp và du lịch.
An Giang là nơi hội tụ các yếu tố thuận lợi về khí hậu, đất đai, các nguồn
tài nguyên thiên nhiên. Có đồi núi – điểm khác biệt so với địa hình hai tỉnh Vĩnh
Long và Tiền Giang, đồng bằng mênh mông, hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng
chịt. Tiềm năng to lớn cho sự phát triển kinh tế toàn diện về Nông nghiệp, Thủy
sản, công nghiệp, du lịch. Tỉnh An Giang có tổng diện tích tự nhiên 353.676 ha,
trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 280.658 ha, đất lâm nghiệp 14.724 ha.
Tiền Giang: nằm trải dọc trên bờ Bắc sông MeKong với chiều dài
120km. Địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua,
chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh. Tiền Giang nằm trong tọa độ
105°50’–106°45’ đông và 10°35’-10°12’ bắc. Tỉnh có phía bắc giáp
tỉnh Long An và thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp,
phía nam giáp tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long, phía đông giáp biển Đông.
Diện tích 2.481,8 km
2
.
Bờ biển dài 32km với hàng ngàn hecta bãi bồi ven biển, nhiều lợi thế trong
nuôi trồng thủy hải sản (nghêu, tôm, cua,…) và phát triển kinh tế biển.
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với các sông Tiền, sông Vàm Cỏ
Tây, kênh Chợ Gạo, kênh Nguyễn Văn Tiếp,... nối liền các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh và là cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh ven
sông Tiền và Campuchia.
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
Tiền Giang có 4 tuyến quốc lộ (Quốc lộ 1A, Quốc lộ 30, Quốc lộ 50, Quốc
- Lượng mưa bình quân: 1,418mm/năm.
3.1.1.3. Dân số và tình hình lao động.
Theo thống kê năm 2008, ba tỉnh Vĩnh long, An Giang và Tiền Giang có số
dân trung bình là 5.069,482 nghìn người, chiếm 28,6% dân số khu vực ĐBSCL
(17.717,331 nghìn người), tăng 0,85% so với năm 2007 (5.026,826 nghìn người).
Mật độ dân số trung bình 676 người/km
2
gấp 1,55 lần mật độ dân số trung bình
khu vực ĐBSCL (436 người/km
2
); tăng 0,9% so với năm 2007 (670 người/km
2
).
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
Số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 69% dân số. Số lao động
đang làm việc tại các ngành kinh tế là 2.923.567 nghìn người, trong đó lao động
trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là 1.887.820 nghìn người, chiếm
64.57% dân số lao động trong các ngành kinh tế.
Bảng 3.1: Tình hình dân số và lao động ở Vĩnh Long, An Giang và
Tiền Giang.
ĐVT: Tổng số dân: người Mật độ dân số: người/km
2
Lao động: người
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
I. Vĩnh Long
- Tổng số dân 1.053.367 1.056.992 1.062.592 1.068.917
- Mật độ dân số 713 715 718 723
- Số dân trong độ tuổi lao động 709.568 710.128 719.583 733.151
• Lao động trong NN – LN
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
+ Tổng sản phẩm khu vực Dịch vụ: 29.628.986 triệu đồng, tăng 26,36% so
với năm 2007 (23.447.837 triệu đồng). (Bảng 3.2)
Nhìn chung giá trị tổng sản phẩm ở ba tỉnh năm 2008 tăng nhiều so với
năm 2006 và 2007. Tuy nhiên tỉ trọng đóng góp của ba khu vực kinh tế trong tổng
sản phẩm ở ba tỉnh nói chung và ở từng tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Tiền Giang
tương đối ổn định qua các năm từ 2006 đến 2008. Nông nghiệp và dịch vụ chiếm
tỉ trọng cao trong GDP ở Vĩnh Long và An Giang, trong khi đó ở Tiền Giang tỉ
trọng đóng góp của khu vực I và II gần như tương đương. Điều đó cho thấy Tiền
Giang có sự đầu tư phát triển công nghiệp và xây dựng cao hơn Vĩnh Long và An
Giang. Tuy nhiên nông nghiệp vẫn là thế mạnh của cả 03 tỉnh.
- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 03 Tỉnh năm 2008: 11.156.011
triệu đồng, tăng 13,86% so với năm 2007 (9.797.603 triệu đồng). Trong khi đó,
tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn 03 Tỉnh năm 2008: 11.039.767 triệu
đồng, tăng 12,02% so với năm 2007 (9.854.870 triệu đồng). Điều này thể hiện một
sự thay đổi đáng kể trong thu chi ngân sách trên địa bàn 03 tỉnh. Năm 2008, tổng
thu ngân sách cao hơn tổng chi ngân sách trong khi điều ngược lại xảy ra năm
2007. Nó thể hiện sự chủ động và khả năng phân bổ tốt, ổn định nguồn ngân sách
cho các hoạt động đầu tư và phát triển. Tuy nhiên, cho đến thời điểm cuối năm
2008 Vĩnh Long vẫn nằm trong tình trạng thâm hụt ngân sách. Đến năm 2008 cả
Tiền Giang và An Giang đều đạt tổng thu cao hơn tổng chi ngân sách Nhà nước và
địa phương. Thêm vào đó, so với Tiền Giang và Vĩnh Long thì An Giang chiếm tỉ
trọng cao nhất trong tổng thu, chi ngân sách do sự lớn hơn khà nhiều về diện tích
tự nhiên và dân số. (Biểu đồ 3.1)
Bảng 3.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn 03 tỉnh Vĩnh Long, An Giang
và Tiền Giang theo giá hiện hành.
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Giá trị
(tr đồng)
Tổng số 21.336.406 100 27.215.465 100 34.531.757 100
- Nông nghiệp, lâm
nghiệp và thủy sản.
7.373.151 34,5 9.604.073 35,3 12.830.840 37,1
- Công nghiệp và xây
dựng.
2.726.576 12,8 3.367.413 12,4 3.954.568 11,5
- Dịch vụ. 11.236.679 52,7 14.243.479 25,3 17.746.349 51,4
3. Tiền Giang
Tổng số 29.798.045 100 38.003.042 100 50.915.560 100
- Nông nghiệp, lâm
nghiệp và thủy sản.
11.772.795 39,5 14.261.677 37,5 21.763.739 42,7
- Công nghiệp và xây
dựng.
11.492.315 38,6 15.819.636 41,6 19.139.200 37,6
- Dịch vụ. 6.532.935 21,9 7.291.729 20,9 10.012.612 19.5
Nguồn: Niên giám thống kê Vĩnh Long, An Giang, Tiền Giang.
- Điện khí hóa: tính đến nay hầu hết các xã phường trên địa bàn 03 Tỉnh
đều được điện thắp sáng, phần lớn hộ gia đình có đủ nước sạch dùng trong sinh
hoạt. Công tác điện khí hóa nông nghiệp nông thôn đã được cơ bản hoàn thành.
- Giao thông vận tải cũng phát triển mạnh, hầu hết 100% địa phương có
đường oto về đến trung tâm Phường – Xã – Thị trấn. Các đường nông thôn liên ấp
cũng được cán nhựa hoặc xi măng, tạo sự tiện lợi cho người dân trong sản xuất và
đi lại.
- Thông tin liên lạc đến nay có 100% Phường – Xã – Thị trấn đều có điện
thoại liên lạc và sử dụng máy vi tính trong công việc hằng ngày tại đơn vị.
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
0
bệnh/01 vạn dân là 19,37. Việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được đảm bảo
và ngày càng được hoàn thiện dần thể hiện ở sự tăng lên về số bác sĩ và số giường
bệnh trong năm 2008 so với năm 2007 và những năm trước.
- Giáo dục: Đến nay, 100% huyện, thị xã, thành phố đều có trường phổ
thông trung học, hầu hết các xã, phường có trường trung học cơ sở và tiểu học,
đảm bảo dủ cơ sở vật chất thiết yếu cho học sinh có điều kiện học tập, sinh hoạt
tốt. Công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ được triển khai ngày càng sâu rộng.
Ở mỗi tỉnh đều có trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp với
số ngành nghề đào tạo đa dạng, góp phần điều tiết một lượng lớn học sinh – sinh
viên, làm giảm đáng kể tình trạng sinh viên tập trung về các thành phố, các trường
đại học lớn.
- Văn hóa: Đến nay có 100% Huyện, thành phố trực thuộc tỉnh có trung tâm
văn hóa, và 03 trung tâm văn hóa tỉnh, tạo điều kiện tốt cho nhân dân trong hoạt
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
động vui chơi, giải trí. Số buổi biểu diễn trong năm 2008 là 2.629 buổi, giảm 23%
so với năm 2007 (3.415 buổi).
Mỗi tỉnh và các huyện, thị, thành phố đều có thư viện phục vụ nhân dân
trong khu vực. Số sách trong thư viện ở 03 tỉnh năm 2008 là 1.108 nghìn bản, tăng
3,5% so với năm 2007 (1.070 nghìn bản). Số lượt được thư viện phục vụ năm
2008 là 1893 nghìn lượt, giảm 29,35% so với năm 2007 (2.680 nghìn lượt). Điều
này có thể do đời sống nhân dân được cải thiện, công nghệ thông tin phát triển
giúp mọi người có thể đọc sách, báo, tìm kiếm thông tin tại nhà thông qua các
kênh truyền thông như TV, Internet, …
3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp.
3.2.1. Tình hình sản xuất chung.
Năm 2008 tổng giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn 03 tỉnh theo giá
hiện hành và theo thành phần kinh tế là 52.064.822 triệu đồng, tăng 51,62% so với
năm 2007 (34.337.982 triệu đồng).
Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng đều qua các năm từ 2005 đến 2007, đặc
3.2.2.1. Giá trị sản xuất nông nghiệp.
Nền nông nghiệp ở Vĩnh Long vẫn tăng trưởng không ngừng qua các năm
từ 2006 đến 2008, được thể hiện ở sự tăng lên trong tổng giá trị sản xuất nông
nghiệp ở biểu đồ 3.3. Theo xu hướng chung như đã phân tích ở trên, năm 2008
đánh dấu một sự tăng trưởng mạnh trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp so với
năm 2007 và những năm về trước. Tính đến cuối năm 2008 tổng giá trị sản xuất
nông nghiệp ở Vĩnh Long là 10.462.719 triệu đồng, tăng 35,76% so với năm 2007
(7.706.740 triệu đồng). Trong đó, trồng trọt vẫn là ngành chiếm tỉ trọng cao nhất
trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh (trên 65%). Dịch vụ nông nghiệp ở
Vĩnh Long cho đến thời điểm cuối năm 2008 vẫn còn trong tình trạng phát triển
kém, chiếm tỉ trọng thấp nhất trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (dưới 5%).
Ngành chăn nuôi trên địa bàn Vĩnh Long đang được đầu tư và từng bước phát triển
cao thể hiện ở sự tăng lên đáng kể trong giá trị sản xuất qua các năm. Thực tế ở
Vĩnh Long đã và đang hình thành nhiều HTX chăn nuôi được đánh giá là có tiềm
năng phát triển cao. Vật nuôi chủ yếu là gà công nghiệp, bò, heo thịt,…
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
0
2000000
4000000
6000000
8000000
10000000
12000000
2006 2007 2008
Trệu đồng
Năm
Dịch vụ
Chăn nuôi
Trồng trọt
nhiên, với những chính sách và giải pháp phù hợp của trung ương và của tỉnh như
đẩy mạnh thực hiện cơ giới hoá sau thu hoạch, phát triển trạm bơm điện, thi đua
thực hiện Chương trình sản xuất lúa theo hướng công nghiệp hoá trong 2 năm
2008-2009 đã tác động mạnh mẽ đến việc ổn định diện tích sản xuất. Cụ thể tổng
giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế năm 2009 đạt gần 28 ngàn tỷ đồng
(giảm hơn 2 ngàn tỷ đồng so năm 2008).
Thêm vào đó, trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, trồng trọt (bao gồm cây
hằng năm và cây lâu năm) chiếm tỉ trọng cao (trên 80%). Chăn nuôi và dịch vụ
nông nghiệp chiếm tỉ trọng gần như tương đương, tuy nhiên tỉ lệ đóng góp không
đáng kể trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp (dưới 20%). Qua đó cho thấy, thế
mạnh trong nông nghiệp ở An Giang vẫn là trồng trọt. Ta có sơ đồ giá trị sản xuất
nông nghiệp ở An Giang qua các năm như sau:
Biểu đồ 3.4. Cơ cấu giá trị sản xuất khu vực I ở An Giang năm 2009
Đề tài: Tình hình hoạt động của các HTXNN tiêu biểu ở ba tỉnh
Vĩnh Long – An Giang – Tiền Giang
0
5000
10000
15000
20000
25000
2006 2007 2008 2009
Tỉ đồng
Năm
Biểu đồ 3.5. Giá Trị sản xuất ngành nông nghiệp An
Giang qua các năm
Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ
Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp ở An Giang tăng tăng mạnh và đều đặng
từ năm 2006 (7.209 tỉ đồng) đến năm 2008 (24.036 tỉ đồng). Năm 2009, do thiên
tai, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp giảm khoảng 2.000 tỉ đồng so với năm 2008
tấn/ha).v.v
- Sản lượng.
Do cả diện tích và năng suất lúa đều giảm, nên sản lượng lúa giảm khá
nhiều so cùng kỳ, sản lượng lúa cả năm ước đạt 3,421 triệu tấn, giảm 97,8 ngàn
tấn so cùng kỳ. Tương tự cây lúa, sản lượng các loại hoa màu chủ yếu đều giảm
như sản lượng bắp đạt 65.125 tấn giảm 20.602 tấn, đậu phộng đạt 1.625 tấn giảm
344 tấn, đậu nành 1.616 giảm 179 tấn...
3.2.4. Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Tiền Giang.
Tỉnh Tiền Giang là một tỉnh vốn thuần nông của ĐBSCL. Với khoảng trên
80.000 ha đất trồng lúa quay mỗi năm 2-3 vụ, trên 65.000 ha đất trồng cây ăn quả
và khoảng 30.000 ha đất trồng rau màu, hàng năm toàn tỉnh đạt sản lượng khoảng
1,3 triệu tấn lúa, 800.000 đến 900.000 tấn trái cây và khoảng 600.000 tấn rau màu
các loại.
Những năm gần đây tỉnh Tiền Giang đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu
đãi và thu hút đầu tư và đã được các nhà đầu tư hưởng ứng tích cực. Tiến trình
thực hiện CNH - HĐH trong phát triển nông nghiệp, nông thôn được tỉnh rất quan
tâm. Với nguồn lao động trẻ, dồi dào, được cập nhật thường xuyên về kỹ thuật sản
xuất, Tiền Giang đã từng bước khẳng định sản phẩm đạt chất lượng an toàn vệ