SKKN một số giải pháp cơ bản để thực hiện có hiệu quả việc đổi mới PPDH cho phân môn tập làm văn trong môn học tiếng việt (lớp 3) - Pdf 64

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
RÈN KĨ NĂNG NÓI, VIẾT QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 3
GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG VIỆT

Họ và tên: Trương Thị Tấn Phương Liên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH số 2 Liên THủy

Lệ Thủy, tháng 5 năm 2017


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt cùng các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh
bốn kỹ năng: “nghe - nói - đọc - viết”. Tập làm văn là phân môn thực hành và rèn
luyện tổng hợp bốn kỹ năng đó, có tính chất tích hợp các phân môn khác trong
môn Tiếng Việt. Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản
nói hoặc viết.
Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội. Chính
vì vậy, hướng dẫn cho học sinh nói đúng, viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ
đó phụ thuộc phần lớn vào việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm
văn nói riêng.
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy Tập làm văn là phân môn khó trong các
phân môn của môn Tiếng Việt. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập,
do vốn từ còn hạn chế nên học sinh còn ngại nói, vì vậy tiết học chưa đạt hiệu quả
cao.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu và đưa ra một số kinh
nghiệm: “Rèn kỹ năng nói - viết qua phân môn Tập làm văn lớp 3, góp phần nâng

tuổi, nhằm đạt được mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
Việc nghiên cứu để xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này đã tiến hành
trong thời gian dài, được bản thân rút kinh nghiệm qua quá trình giảng dạy các
môn học, đặc biệt là phân môn Tập làm văn. Những kinh nghiệm tích luỹ được
trong giảng dạy trong đó có sự tiến bộ của học sinh ở phân môn Tập làm văn, được
giáo viên ghi chép vào nhật kí dạy học. Những kết quả giảng dạy được bản thân
thường xuyên cập nhật để so sánh, rút kinh nhiệm vào từng thời điểm trong năm
học và so sánh kết quả với những năm học trước. Từ đó đề ra những biện pháp để
giảng dạy đạt kết quả cao hơn.

PHẦN NỘI DUNG
1.Thực trạng.
a. Thuận lợi:
- Chương trình, SGK: Phân môn Tập làm văn của toàn cấp học nói chung và
trong chương trình Tiếng Việt lớp 3 nói riêng, bên cạnh kế thừa những ưu điểm của
SGK cũ, SGK mới còn đưa vào một số bài tập làm văn với kiểu loại phong phú:
nghe kể, nói, viết về các chủ điểm... giúp học sinh biết được nhiều kiểu loại văn
bản. Có nhiều văn bản vui, khôi hài giúp trẻ phát triển trí tuệ, óc thông minh, khiếu
hài hước. Các chủ điểm được chia nhỏ, mở rộng và nâng cao qua mỗi lớp. Văn bản
có tính nghệ thuật cao. Câu hỏi khai thác bài có khả năng phát triển tư duy.
- Đối với giáo viên:


Trong việc thực hiện đổi mới Chương trình sách giáo khoa bậc Tiểu học, do
đặc trưng phân môn Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện
cho học sinh khả năng trình bày văn bản nói - viết ở nhiều thể loại khác nhau. Vì
vậy, giáo viên luôn không ngừng học hỏi, cải tiến phương pháp dạy học phù hợp
mục tiêu dạy và học để dẫn dắt rèn luyện học sinh thực hành nói, viết một cách độc
lập, sáng tạo.
Giáo viên luôn ý thức quan tâm, chăm chút học sinh trong từng tiết học. Với

Chất lượng phân môn Tập làm văn đầu năm rất thấp, học sinh chưa biết viết
đoạn văn có ý tưởng phong phú, sáng tạo mà chỉ biết trả lời theo câu hỏi gợi ý.
Đấy là vấn đề nan giải đòi hỏi giáo viên phải có biện pháp thích hợp để từng bước
giảng dạy đạt kết quả.
c.Nguyên nhân :
Một số phụ huynh chưa quan tâm, chưa có biện pháp và thời gian hướng
dẫn các em học tập. Một số phụ huynh chưa biết cách hướng dẫn các em học ở nhà
do không có kiến thức. Mặt khác một vài phụ huynh ngại đi họp do con học yếu, vì
thế mà việc trao đổi tình hình học tập của học sinh giữa giáo viên chủ
nhiệm và phụ huynh còn gặp khó khăn.


d. Số liệu khảo sát đầu năm:

Nội dung khảo sát
Biết viết câu, dùng từ hợp lí
Biết nói, viết thành câu
Biết dùng từ, câu văn có hình ảnh
Biết trình bày đoạn văn
Bài viết đạt trung bình trở lên

Kết quả khảo sát
Số lượng

Tỉ lệ

10
12
6
15

sử dụng từ hoặc trau chuốt thế nào cho từ đó hay hơn trong câu văn. Có một số từ
do được nghe và nói trong sinh hoạt hằng ngày thành quen thuộc, các em vẫn vô tư
sử dụng trong bài văn của mình. Ví dụ: Kể về người lao động trí óc, có học sinh
viết: “Em rất coi trọng thầy vì thầy dạy học cho em” hoặc “Khi đến lớp, cô em
thích mặc đồ xanh”…
Như vậy, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần hiểu rõ tính tích
hợp kiến thức giữa các phân môn Tiếng việt để từ đó giúp các em trang bị vốn kiến
thức cơ bản cần thiết cho mỗi tiết học. Khi dạy các phân môn: Tập đọc, Chính tả,
Tập viết, Luyện từ và câu có nội dung phù hợp tiết Tập làm văn sắp học, giáo viên
cần dặn dò hướng dẫn học sinh quan sát tìm hiểu kĩ đối tượng cần nói đến và ghi
chép cụ thể hình ảnh, hoạt động ấy vào sổ tay; với những sự việc hoặc hoạt động
các em không được chứng kiến hoặc tham gia, giáo viên khuyến khích các em
quan sát qua tranh ảnh, sách báo, trên tivi,…hoặc hỏi những người thân hay trao
đổi với bạn bè. Khi được trang bị những kiến thức cơ bản như thế, học sinh sẽ có
những ý tưởng độc lập, từ đó các em có thể trình bày được bài văn chân thực, sinh
động và sáng tạo.
Trong việc trang bị kiến thức cho học sinh, giáo viên không nên áp đặt các
em vào một khuôn mẫu nhất định như chỉ định học sinh phải quan sát một bức
tranh, một sự vật, con người hay một công việc cụ thể, như thế sẽ hạn chế năng lực


sáng tạo của các em. Vì vậy, với bất cứ một đề tài nào của một tiết Tập làm văn,
giáo viên cần cho học sinh liên hệ mở rộng để các em phát huy được năng lực sáng
tạo trong bài văn của mình.
Biện pháp thứ hai: Tìm hiểu nội dung đề bài:
Bước.1.Xác định rõ yêu cầu các bài tập:
Ở mỗi đề tài của loại bài Tập làm văn nói - viết, giáo viên cần cho học sinh
tự xác định rõ yêu cầu các bài tập bằng cách thảo luận nhóm, giáo viên giúp học
sinh tự xác định đúng yêu cầu bài tập để khi thực hành các em sẽ không chệch
hướng, đảm bảo đúng nội dung đề tài cần luyện tập.

giúp các em biết viết đoạn văn có mở và kết đoạn, biết dùng từ liên kết câu, dùng
câu liên kết đoạn một cách hợp lí và sáng tạo. Có thể viết thành đoạn văn như sau:
Năm nay, em lên 9 tuổi. Đã ba năm rồi, nhưng ngày đầu tiên vào lớp Một là
một kỉ niệm sâu sắc in đậm mãi trong tâm hồn em.
Mẹ dẫn em đến trường bằng xe máy. Buổi sáng mùa thu hôm ấy rất đẹp, bầu
trời trong xanh mênh mông. Con đường liên xã nhộn nhịp hẳn lên. Xe máy, xe đạp,
người lớn, trẻ em đi lại đông vui, tấp nập. Các anh, các chị, các em nhỏ, đầu đội
mũ, vai mang cặp sách rảo bước tới trường. Mặt mày hớn hở, chuyện trò râm ran,
áo quần mới, ái cũng cảm thấy như mình đang đi trẩy hội.


Em đội chiếc mũ vải tím, mặc chiếc váy sọc màu đỏ, áo sơ mi trắng, đi đôi
dép quai hậu. Em cảm thấy đàng hoàng. Mẹ chở em đi vừa bảo ban mọi chuyện.
Đia qua một cánh đồng láu đang uốn câu, vượt khỏi chiếc cầu bê tông và cây đa
cỏ thụ là đến trường.
Từ xa, em đã nhìn thấy biển trường với dòng chữ: Trường TH . Ngôi trường
hai tầng, tường vôi trắng xóa. Sân trường rộng mênh mông. Có rất nhiều cờ, khẩu
hiệu. Các thầy, cô giáo, phụ huynh và hàng trăm học sinh tấp nập bước vào
trường. Ai cũng mặc đẹp đẽ, khuôn mặt tươi cười rạng rỡ. Tiếng cười nói xôn xao
cả sân trường. Nhiều bạn nhỏ nép vào bố mẹ. Em thì nắm chặt tay mẹ, trống ngực
cứ đánh liên hồi.
Một hồi trống vang lên. Học sinh các lớp xếp hàng đi vào lớp. Cô Lê xinh
đẹp, tươi tắn trong bộ quần áo dài trắng đón chúng em vào lớp 1C. Có tất cả 25
bạn, Cô gọi tên, xếp chỗ ngồi và kiểm tra sách vở, dụng cụ học tập.
Trường mới, lớp mới, cô giáo mới. Em vừa cảm thấy lạ vừa cảm thấy thân
quen. mẹ vẫn đứng đợi ở cổng trường. Em là học sinh lớp Một trường Tiểu học
rồi mà cảm thấy như mơ.
Bước.3. Tìm hiểu các câu gợi ý:
Trước khi học sinh thực hành bài tập luyện nói, giáo viên cần giúp các em
hiểu nghĩa của các từ ngữ có trong câu hỏi để học sinh hiểu và trình bày đúng yêu

chưa phong phú, sáng tạo, các em thường trình bày hạn hẹp trong khuôn khổ nhất
định. Giáo viên cần giúp các em tìm ý để thực hành một bài văn nói - viết hoàn
chỉnh về nội dung với những ý tuởng trong sáng, giàu hình ảnh và ngây thơ, chân
thật. Để thực hiện được điều đó, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh một cách chặt
chẽ từ sự liên tưởng về các sự vật, các hoạt động. Từ đó học sinh dễ dàng tìm ý và
diễn đạt bài văn rõ ràng, mạch lạc hơn.
Bước1. Giúp học sinh hồi tưởng:
Trong một tiết Tập làm văn với một đề tài nào đó, học sinh có thể quên một
số hình ảnh, sự việc… mà các em đã quan sát hoặc tìm hiểu qua thực tế. Giáo viên
khơi gợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ có liên quan đến yêu cầu bài
tập, phù hợp thực tế và trình độ học sinh để các em dễ dàng diễn đạt. Ví dụ: Kể về
trận đấu thể thao, giáo viên gợi ý: Đó là môn thể thao nào? Do hai đội nào thi đấu?
Trận đấu diễn ra vào lúc nào? Ở đâu?... hoặc kể về người lao động trí óc, giáo viên
gợi ý: Người em kể là ai? Làm nghề gì? Người ấy độ bao nhiêu tuổi?...
Bước 2. Giúp học sinh tưởng tượng, liên tưởng:
Nếu trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng
những gì đã quan sát; hoặc thực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm
như thế tuy đủ ý nhưng không có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe. Vì
vậy, với từng đề bài giáo viên nên có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh
liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiết một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí
qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày
bài văn giàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo.


Ví dụ: Khi giới thiệu về tổ em, học sinh nói: “Tổ em bạn nào cũng chăm
ngoan, riêng bạn Lan học giỏi Toán lại hát hay như chim Sơn ca”; hoặc nói về
người lao động trí óc, học sinh nói: “Cô giáo em có mái tóc dài, đen mượt như
nhung”,….
Trí tưởng tượng, liên tưởng ở học sinh lứa tuổi này rất hồn nhiên ngây thơ
và ngộ nghĩnh, cho nên để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh, giáo viên có thể

theo gợi ý đã cho thì bài văn của các em xem như hoàn chỉnh. Nhưng để có một
đoạn văn mạch lạc rõ ràng, ý tưởng liên kết chặt chẽ nhau thu hút được người đọc;
giáo viên cần giúp các em biết viết đoạn văn có mở và kết đoạn, biết dùng từ liên
kết câu, dùng câu liên kết đoạn một cách hợp lí và sáng tạo. Ví dụ: Với gợi ý kể về
trận thi đấu thể thao, từng gợi ý phần mở đoạn có rời rạc, giáo viên có thể hướng
dẫn học sinh liên kết các ý với nhau, khi kể không theo trình tự từng ý nhưng vẫn
đảm bảo nội dung và làm cho phần mở đoạn sinh động lôi cuốn người đọc hơn.
Hoặc hướng dẫn học sinh dùng những câu mở đầu đoạn văn để nói hoặc kể một
cách sáng tạo. Ví dụ: Kể về một buổi biểu diễn nghệ thuật: “Tối chủ nhật vừa qua,
tại nhà Văn hóa xã có tổ chức buổi ca nhạc mừng xuân mới”; hay Kể về người lao
động trí óc: “Cô Hoa ở cạnh nhà em là một y sĩ trẻ tuổi, cô làm việc ở trạm xá xã”.
Hoặc “Cô em là giáo viên, suốt chín năm qua cô luôn gắn bó với nghề dạy học”.


Khi kể về một việc làm một hoạt động nào đó, giáo viên cần khuyến khích
học sinh sử dụng những từ liên kết câu thể hiện trình tự diễn biến của sự việc như:
“đầu tiên”; “kế tiếp”; “sau đó”; “cuối cùng”… để đoạn văn gắn kết chặt chẽ liên
tục từng ý với nhau. Do đặt điểm lứa tuổi và trình độ từng đối tượng học sinh
không đồng đều nhau nên các em chưa hiểu nhiều về từ, câu liên kết trong đoạn
văn viết, vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn bằng những gợi ý giản đơn dễ hiểu, có
thể cho học sinh khá giỏi làm mẫu để giúp các em trình bày tốt hơn đoạn văn viết
của mình.
Trong việc hướng dẫn học sinh sửa chữa bài viết, giáo viên cần đưa ra tiêu
chí đánh giá cụ thể giúp học sinh phát hiện những đoạn văn hay, ý tưởng phong
phú sáng tạo đồng thời phát hiện những hạn chế còn vấp phải trong bài viết. Từ đó
học sinh có sự suy nghĩ để sửa chữa cách diễn đạt ý tưởng trong bài viết của mình
một cách hợp lí và sáng tạo.
* 3. Kết quả đạt được:
Qua quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, việc dạy học phân môn Tập làm
văn ở lớp chủ nhiệm đạt được kết quả khả quan: Học sinh mạnh dạn tự tin hơn

100%
91,7%
100%
100%

PHẦN KẾT LUẬN

1. Ý nghĩa của đề tài:.
Trong Giáo dục tiểu học - bậc học cơ sở của giáo dục phổ thông, việc học
tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào việc dạy của giáo viên. Tất cả các môn
học, tiết học nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng, việc thực hiện đổi mới
PPDH là nội dung hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học.
Nếu giáo viên phải xác định rõ và thực hiện tốt các vấn đề: Dạy thế nào để đạt mục
tiêu bài học, phù hợp đối tượng học sinh, hình thành được năng lực tự học, tự đánh
giá cho các em, tạo hứng thú cho các em trong quá trình học tập. Giáo viên biết
phối kết hợp nhiều phương pháp, tạo được không khí để học sinh có khả năng hợp


tác, chia sẻ trong công việc. Là một giáo viên chủ nhiệm trong quá trình giảng dạy
tôi thu được những kinh nghiệm sau:
Một là, trang bị kiến thức cho học sinh luôn chú trọng việc lồng ghép kiến thức
giữa các phân môn Tiếng Việt
Hai là, tìm hiểu nội dung đề bài
Ba là, hướng dẫn tìm ý
Bốn là,hướng dẫn diễn đạt
Đề tài là cơ sở để giáo viên nghiên cứu và thực hiện trong giảng dạy phân
môn Tập làm văn. Giúp giáo viên từng lúc san bằng trình độ học sinh trong lớp
học; giúp học sinh tự tin hơn trong học tập, trong giao tiếp để các em hoàn thành
nhiệm vụ học tập và tiếp tục học tập ở các lớp cao hơn.
*Trên đây là một số biện pháp rèn kĩ năng nói, viết qua phân môn Tập làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status