TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-----***-----
BÁO CÁO KINH TẾ LƯỢNG
Đề tài: Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến điểm
trung bình học tập của sinh viên
Nhóm sinh viên thực hiện:
• Nguyễn Quang Linh – 1611110345
• Trần Thị Thúy Hằng – 1611110186
• Trần Phương Thúy – 1511110777
• Lò Thị Quyên – 1511110670
Lớp TC: KTE309.3
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thúy Quỳnh
Hà Nội, 12/2017
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Điểm trung bình là tiêu chuẩn chủ yếu dùng để đánh giá và xếp loại sinh viên
được áp dụng ở hầu hết các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam. Ngày nay, trong
bối cảnh của sự cạnh tranh khốc liệt trong thị trường việc làm, yêu cầu đặt ra dành
cho những người tìm việc ngày càng cao, chính vì thế ngay khi bước chân vào cánh
cổng đại học, sinh viên cần phải đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định để phấn
đấu nếu muốn tìm được một môi trường tốt để phát triển bản thân sau khi ra trường.
Ở hầu hết các trường đại học nói chung và trường Đại học Ngoại Thương nói riêng,
điểm trung bình được sử dụng như một tiêu chí chính để xét loại bằng tốt nghiệp.
Số giờ tự học
2.
Định hướng học tập
3.
Số lần nghỉ học
4.
Số lần đi chơi
5.
Số giờ sử dụng internet
6.
Có người yêu
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm đã gặp không ít khó khăn và hạn chế.
Do các thành viên trong nhóm đều là sinh viên, kinh nghiệm và kiến thức chuyên
môn đều còn hạn chế nên nhóm đã gặp không ít khó khăn trong việc lựa chọn đề tài
phù hợp cũng như trong quá trình triển khai thực hiện không tránh khỏi sai sót, tuy
nhiên trưởng nhóm đã dẫn dắt nhóm rất tốt và các thành viên đều tích cực tham gia
đóng góp để hoàn thành thành bài tiểu luận với chất lượng tốt nhất. Bên cạnh đó,
việc lựa chọn các biến độc lập để đưa vào mô hình còn chưa đầy đủ do nhóm không
tiếp cận được với nguồn dữ liệu đối với các biến độc lập khác theo lý thuyết và các
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Chúng ta biết rằng các yếu tố tác động đến kết quả học tập có phạm vi rộng và
khác nhau, Evans (1999) xuất bản tài liệu các yếu tố liên quan đến kết quả học tập
của sinh viên. Trong tài liệu này, các yếu tố ảnh hưởng đến kết học tập của sinh viên
được chia thành 5 nhóm:
(i)
(ii)
(iii)
(iv)
(v)
Đặc trưng nhân khẩu sinh viên
Đặc trưng tâm lý sinh viên
Kết quả học tập trước đây
Yếu tố xã hội
Yếu tố tổ chức.
Các yếu tố tác động đến kết quả học tập là đa dạng, thực tế các nghiên cứu về
yếu tố tác động đến kết quả học tập thường tập trung vào một hay một vài nhóm yếu
tố đã nói. Trong đề tài này, các biến được chọn tương ứng với phạm vi, lãnh vực và
mục đích của đề tài.
Lỗ hổng nghiên cứu : Tuy nhiên, tổng quan tài liệu chỉ là sự tổng hợp ngắn gọn
các kết quả nghiên cứu. Vì thế, xem xét chi tiết hơn các nghiên cứu trước đây để có
mối liên hệ chặt chẽ với đề tài là cần thiết.
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Một số nghiên cứu tại Việt Nam đã khởi xướng vấn đề này, như nghiên cứu của
Huỳnh Quang Minh (2002), khảo sát về các nhân tố tác động đến kết quả học tập
của sinh viên chính quy Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM.
Kết quả nghiên cứu (với mức ý nghĩa khoảng 10% ) cho thấy điểm bình quân
Quang Minh 378
(2002)
-Trường
Nông
phụ Biến độc lập và dấy
hiệu ảnh hưởng
trung -Mức độ tham khảo
bình
ĐH
tài liệu (+)
-Thời gian học ở lớp
Lâm
(+)
TP.HCM
-Điểm bình quân giai
đoạn đầu (+)
-Số lần uống rượu
trong 1 tháng (-)
-Điểm thi tuyển đầu
2.Nguyễn
Thị
1.2.1 Một số mô hình ứng dụng
1.2.1.1 Mô hình ứng dụng của Bratti và Staffolani
Theo Bratti và Staffolani (2002), kết quả học tập của sinh viên chủ yếu được xác
định bởi thái độ học tập của sinh viên bởi vì sự phân bổ thời gian cho việc học tùy
4
thuộc vào quyết định của họ. Họ có thể quyết định thời gian tối ưu dành cho việc tự
học và học ở lớp. Do đó, kết quả học tập của sinh viên phần lớn phụ thuộc vào thái
độ học tập của họ.
Gọi Gi là kết quả học tập của sinh viên, phụ thuộc vào thời gian dành cho việc tự
học (Si), thời gian học ở lớp (ai) và năng lực của người đó (ei).
Gi = G(si , ai) ei
Mô hình Bratti và Staffolani đưa ra mối quan hệ giữa đặc điểm của sinh viên
(thời gian tự học Si , thời gian học ở lớp ai , năng lực của người đó ei) với kết quả
học tập (Gi).
Nó cho thấy ở mức độ hữu dụng nhất định, kết quả học tập của sinh viên tùy
thuộc vào thời gian tự học, thời gian học ở lớp và năng lực của sinh viên. Theo
phương pháp này, giáo dục vừa là sự tiêu dùng vừa là sự đầu tư tốt. Trong khi sinh
viên dành thời gian cho giáo dục đại học, thì anh ta cũng tự đầu tư vào nguồn vốn
nhân lực của mình.
Trong mô hình Bratt và Staffolani, đặc điểm của sinh viên đóng vai trò chính là
yếu tố duy nhất có mối quan hệ trực tiếp đến kết quả học tập của sinh viên. Đây là
ưu điểm của mô hình bởi vì nó nhấn mạnh vai trò quan trọng của yếu tố tự học,
điểm khác biệt chính giữa sinh viên đại học và học sinh trung học.
Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là xem nhẹ vai trò của các yếu tố bên ngoài mà
nó cũng có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên.
1.2.1.2 Mô hình ứng dụng của Dickie
Dựa vào kết quả nghiên cứu của Dickie (1999) đã xác lập một mô hình nghiên
ta thống kê, phân tích và đưa ra kết luận về những ảnh hưởng của các yếu tố tác
động tới điểm trung bình học tập của sinh viên.
Cụ thể, bài tiểu luận được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu lý thuyết hoặc giả thuyết, cơ sở lý thuyết cho vấn đề
nghiên cứu
Bước 2: Xây dựng mô hình toán kinh tế
Bước 3: Phát triển mô hình toán lên thành mô hình kinh tế lượng
Bước 4: Thu thập số liệu
Bước 5: Ước lượng các tham số của mô hình
Bước 6: Kiểm định giả thuyết
Bước 7: Diễn giải kết quả, tìm các khuyết tật
Bước 8: Đề xuất giải pháp khắc phục
2.2 Xây dựng mô hình lý thuyết
6
Xây dựng mô hình hồi quy tổng thể:
Mô hình hồi quy tổng thể có dạng
DTB=β1+β2(GTH)+β3(DHHT)+β4(SLCH)+β5(SLDC)+β6(SGLM)+β7(CNY)+ui
Trong đó:
• GTH: Số giờ tự học
• DHHT: Định hướng học tập
• SLCH: Số lần cúp học
• SLDC: Số lần đi chơi
• SGLM: Số giờ lên mạng
• CNY: Có người yêu
• ui: Sai số ngẫu nhiên
Mô hình hồi quy mẫu :
DTB=*β1 +*β2(GTH)+*β3(DHHT)+*β4(SLCH)+*β5(SLDC)+*β6(SGLM)+*β7(CNY)+ei
4.50
Max
1.00
9.00
Dinhhuonghoctap
0.715
1.00
0.453
0.00
1.00
Sogiotuhoc
Solancuphoc
Solandichoi
Sogiolenmang
3.36
2.67
2.75
4.11
3.00
0.715
0.00
SLCH
2.67
0.00
SLDC
2.75
0.00
SGLM
4.11
0.50
CNY
0.295
0.00
2.3.3 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập
Gía trị lớn nhất
9.00
10.0
1.00
20.0
10.0
13.0
1.00
Chạy phần mềm Gretl với mẫu số liệu ta thu được kết quả sau:
Correlation coefficients, using the observations 1 - 200
5% critical value (two-tailed) = 0.1388 for n = 200
conguoiyeu diemtrungbinh
dinhhuon
-0.3747
ghoctap
sogiolen
1.0000
mang
sogiotuho
1.0000
-0.4199
1.0000
c
Solandichoi solancuphoc
8
0.4216
0.0498
conguoiy
-0.4536
oi
solancup
-0.3372
-0.2051
1.0000
hoc
Từ bảng kết quả trên ta thấy:
•
•
Hệ số tương quan giữa các cặp biến r < 0.8
Mô hình không tồn tại đa cộng tuyến
Dự báo:
Các biến CNY, GTH, DHHT gây tác động thuận chiều lên điểm trung bình
học tập của sinh viên
Các biến SGLM, SLCH, SLDC gây tác động nghịch chiều lên điểm trung
bình học tập của sinh viên.
Biến CNY có tác động ít nhất đến điểm trung bình học tập của sinh viên
Chương 3: Ước lượng và suy diễn thống kê
3.1 Mô hình hồi quy và ỹ nghĩa biến
3.1.1 Mô hình hồi quy
Chạy phần mềm gretl ta thu được bảng số liệu sau:
Model 11: OLS, using observations 1-200
Solancuphoc
Solandichoi
sogiolenmang
Conguoiyeu
−0.0319416
−0.0503559
−0.0698355
0.226580
0.0131836
0.0209986
0.0177630
0.0837198
Mean dependent var
7.812150
Sum squared resid
45.09831
R-squared
0.480737
F(6, 193)
29.78007
Log-likelihood
−134.8405
Schwarz criterion
306.7691
=>> Phương trình hàm hồi quy mẫu :
−2.423
Nhắc lại ký hiệu biến dộc lập và biến phụ thuộc:
Trong đó:
• GTH: Số giờ tự học
• DHHT: Định hướng học tập
• SLCH: Số lần cúp học
• SLDC: Số lần đi chơi
• SGLM: Số giờ lên mạng
• CNY: Có người yêu
• ui: Sai số ngẫu nhiên
DTB=7.73754+0.0659864(GTH)+0.414358(DHHT)-0.0319416(SLCP)0.0503559(SLDC)-0.0698355(SGLM)+0.22658(CNY).
3.1.2 Ý nghĩa mô hình
*Bảng giải thích kết quả hồi quy
t(193, 0.025) = 1.972
Variable
const
Coefficient
7.73754
95 confidence interval
Std.
(7.43551, 8.03956)
Error
ratio value
0.15313 50.53
(0.0227104, 0.109262)
1
-0.0698355
*
0.02194 3.007 0.003
*
*
15
*
(-0.0579439, -0.00593925)
*
0.01318 −2.42 0.0163 *
(-0.0917721, -0.00893963)
36
3
*
0.02099 −2.39 0.0174 *
(0.0614572, 0.391704)
*Hệ số xác định
Hệ số xác định R2 =0.480737, cho thấy mô hình phù hợp được 48,0737% với dữ
liệu tổng thể hay các biến định hướng học tập , số giờ tự học , số lần đi chơi , số lần
cúp học, sô giờ đi chơi, có người yêu giải thích được 48,0737% cho sự biến động
của tổng điểm trung bình .
*Ỹ nghĩa của các hệ số :
+β1 =7.73754: Khi giá trị của các biến độc lập bằng với điều kiện các yếu tố khác
không đổi thì giá trị trung bình của điểm trung bình là 7.73754
+β2 = 0.414358 : Với điều kiện giá trị của các biến độc lập khác không đổi , khi sinh
viên có định hướng học tập thì điểm trung bình sẽ tăng 0.414358 đơn vị và ngược
lại nếu sinh viên không có đinh hướng học tập thì điểm trung bình tăng lên 0 đơn vị.
11
+β3 = 0.0659864 : Với điều kiện giá trị các biến độc lập khác không thay đổi , nếu
số giờ tự học của sinh viên tăng lên 1 đơn vị thì điểm trung bình của sinh viên sẽ
tăng lên 0.0659864 đơn vị
+β4 = -0.0319416 :Với điều kiện giá trị các biến độc lập khác không thay đổi, nếu
số lần cúp học của sinh viên tăng lên 1 đơn vị thì điểm trung bình của sinh viên sẽ
giảm đi 0.0319416 đơn vị
+β5 = -0.0503559 : Với điều kiện giá trị các biến độc lập khác không thay đổi, nếu
số lần đi chơi của sinh viên tăng lên 1 đơn vị thì điểm trung bình của sinh viên sẽ
giảm đị 0.0503559 đơn vị
+β6= 0.226580 : Với điều kiện giá trị các biến độc lập khác không thay đổi, nếu sinh
viên có người yêu thì điểm trung bình của sinh viên sẽ tăng 0.226580 đơn vị và
ngược lại nếu sinh viên không có người yêu thì điểm trung bình của sinh viên sẽ
tăng lên 0 đơn vị
+β7 = -0.0698355 : Với điều kiện giá trị các biến độc lập khác không thay đổi, nếu
số giờ sinh viên lên mạng tăng lên 1 đơn vị thì điểm trung bình của sinh viên sẽ
H1 : β3 ≠ 0
Theo kết quả hồi quy , ta có giá trị P-value
thuyết H1. Như vậy , điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết
14
-Kiểm định phía phải của hệ số hồi quy β3
Thiết lập căp giả thuyết
H0 : β3 ≤ 0
H1 : β3 > 0
Theo kết quả hồi quy , ta có giá trị (P-value)
conguoiyeu 1.248
sogiolenmang 1.430
VIF(j) = 1/(1 - R(j)^2), where R(j) is the multiple correlation coefficient
between variable j and the other independent variables
Belsley-Kuh-Welsch collinearity diagnostics:
--- variance proportions --lambda
cond
const dinhhuon~ sogiotuh~ solancup~ solandic~ conguoiy~
sogiolen~
4.940
1.000
0.002
0.005
0.005
0.009
0.007
0.010
0.006
0.004
0.638
0.009
0.246
4.480
0.001
0.041
0.016
0.615
0.255
0.169
0.142
0.180
5.241
0.001
0.065
0.038 11.410
0.992
0.322
0.339
0.053
0.071
0.010
0.394
lambda = eigenvalues of X'X, largest to smallest
cond = condition index
note: variance proportions columns sum to 1.0
Thiết lập cặp giả thuyết
H0 : Không có hiện tượng đa cộng tuyến
H1 : Có hiện tượng đa cộng tuyến
Nhận thấy rằng, VIF của cả 6 biến độc lập đều nhỏ hơn 10, nên ta không có cơ sở
bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H0 .Cho nên không tồn tại hiện tượng đa
cộng tuyến.
3.3.2 Phân phối chuẩn của nhiễu
Chạy phần mềm Gretl ta thu được kết quả sau
0.00%
0.50%
-1.4364 - -1.2091 -1.3228
2
1.00%
1.50%
-1.2091 - -0.98181 -1.0955
3
1.50%
-0.98181 - -0.75450 -0.86815
4
-0.75450 - -0.52719 -0.64084
10
-0.52719 - -0.29988 -0.41353
28
14.50% 91.00% *****
0.60935 - 0.83666 0.72301
14
17
7.00% 98.00% **
0.83666 - 1.0640
>= 1.0640
0.95032
3
1.1776
1
1.50% 99.50%
0.50% 100.00%
Test for null hypothesis of normal distribution:
Chi-square(2) = 0.310 with p-value 0.85648
Thiết lập cặp giả thuyết
H0 : Sai số có phân phối chuản
H1 : Sai số không có phân phối chuẩn
0.0473886
solancuphoc
−0.00502997
solandichoi
0.124392
conguoiyeu
−0.187383
sogiolenmang
−0.1323
0.9798
0.0935760
0.5064
0.0440047
0.0759729
0.3285
0.6132
0.8983
X2_X4
−0.00336082
0.0282834
−0.1188
0.9055
X2_X5
−0.0422690
X2_X6
0.0553863
X2_X7
−0.0253786
sq_sogiotuhoc
0.0390702
0.167009
0.0310261
X3_X6
0.00272848
0.0472815
0.05771
X3_X7
0.00608576
0.0105447
0.5771
sq_solancuphoc
−0.00433128
0.4640
−0.2370
0.8129
0.9540
0.5646
0.00229285 −1.889
0.00596294
0.0397429
−0.0291259
0.2201
0.0865 *
1.270
0.2279
0.00877136
0.2057
0.8200
−3.321
0.0011
***
X6_X7
0.0110364
sq_sogiolenmang
Dependent variable: diemtrungbinh
coefficient std. error t-ratio p-value
-------------------------------------------------------------const
595.922
207.388
sogiotuhoc
7.54380
solancuphoc
−3.63947
sogiolenmang
2.873
2.60263
2.899
1.26132
−7.96832
0.085 *
yhat^2
−14.7958
yhat^3
6.42142
16.4233
5.27175
2.33708
0.043 **
0.0663 *
2.890
−2.807
2.748
0.093 *
0.043 **
0.055 *
0.66
Test statistic: F = 2.355576,
đại học khác hoàn toàn so với cấp bậc trung học, và những cấp bậc học trước đó. Ở
bậc đại học, mức độ tiếp thu kiến thức cũng như kết quả học tập của sinh viên phụ
thuộc 80% vào chất lượng của số giờ tự học ở nhà. Sinh viên có thể tự mình nâng
kết quả học tập bằng cách tự giác học tập, tìm hiểu kiến thức tại nhà bởi trên lớp
học, giảng viên chỉ có thể cung cấp được khoảng 50% kiến thức, số còn lại phụ
thuộc vào khả năng tự học của mỗi sinh viên.
-Nghiên cứu đã cho thấy, số lần cúp học tỉ lệ nghịch với kết quả học tập của sinh
viên. Điều đó có nghĩa rằng: thời gian sinh viên cúp học chính là khoảng thời gian
mà sinh viên bỏ lỡ kiến thức giảng dạy trên lớp, đồng thời bỏ lỡ nhiều thông tin
khác quan trọng liên quan trực tiếp đến quá trình học tập của sinh viên đó. Chính vì
vậy lời khuyên ở đây là: giảm thiểu tối đa số giờ vắng mặt trên lớp sẽ giúp sinh viên
tăng được khả năng nâng cao kết quả học tập của mình.
-Sinh viên thuộc độ tuổi từ 19-25, là quãng thời gian thanh xuân của tuổi trẻ có
nhiều thay đổi về mặt tâm sinh lý, hay nói cách khác là rung động mạnh mẽ trước
những người khác giới. Việc có người yêu hay bạn đời trong khoảng thời gian này
lên đến 90%, cũng đồng nghĩa với việc khó tránh khỏi. Nhưng việc đó sẽ giúp thay
đổi tâm lý của mỗi người, trở nên giàu cảm xúc, suy nghĩ chín chắn và nghiêm túc
trong sự nghiệp của mình. Điều đó giúp nâng cao kết quả học tập lên. Đó là khi ở
trong mối quan hệ hạnh phúc, vui vẻ. Cũng không thể tránh khỏi việc tụt dốc trong
học tập khi phạm phải những sai lầm đáng tiếc trong quan hệ tình cảm cá nhân.
Chính vì vậy sinh viên cần phải thật tỉnh táo trong mối quan hệ của mình, tránh việc
để cảm xúc chi phối ảnh hưởng đến sự nghiệp học tập.
21
-Internet là con dao hai lưỡi, nhất là đối với sinh viên. Nếu sinh viên biết cách
tận dụng tối đa lợi ích của mỗi giờ truy cập internet thay vì tham gia vào một số
mạng xã hội vô bổ, thì sẽ có thể nâng cao được tối đa hiệu quả học tập của bản thân
thay vì khiến nó trì trệ vì những tác hại mà internet mang lại.
• Số liệu thực hành – Trần Thị Tuấn Anh
• Academia.edu
• Tài liệu của Evans (1999)
• Nghiên cứu của các tác giả khác: Huỳnh Quang Minh (2002), Nguyễn Thị
Mai Trang, Nguyễn Đình Thọ, Mai Lê Thúy Vân (2008)
Đánh giá thái độ làm việc nhóm của các thành viên
Linh
Linh
Thúy
Hằng
Quyên
10
10
10
Thúy
10
Hăng
10
10
10
10
10