TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-------------***--------------
BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG II
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUỔI THỌ TRUNG
BÌNH CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN
2008 – 2014
Lớp tín chỉ: KTE 318.2
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thu Huyền - 1714420047
Phạm Hà Phương Anh - 1714410024
Trần Thị Huyền Mỹ - 1714420063
Vũ Thị Hồng Duyên - 17144100057
Nguyễn Thị Vân Anh - 1714410023
Hà Nội, tháng 9 năm 2019
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
HỌ TÊN
MSSV
CÔNG VIỆC
Vũ Thị Thu Huyền
1714420047
Kết luận, chương 2, lấy
data
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................4
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU............................................6
1, Các nghiên cứu đi trước.....................................................................................6
2, Lỗ hổng nghiên cứu......................................................................................... 12
Chương II: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.................................................................... 14
1, Cơ sở lý luận.................................................................................................... 14
2, Mô hình............................................................................................................ 16
3, Nguồn dữ liệu.................................................................................................. 18
4, Mô tả thống kê và mô tả tương quan biến số................................................... 19
Chương III: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ THẢO LUẬN.....................................24
1, Kết quả ước lượng........................................................................................... 24
2, Lựa chọn mô hình............................................................................................ 26
3, Kiểm định mô hình.......................................................................................... 26
4, Thảo luận......................................................................................................... 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 31
1, Kết luận............................................................................................................ 31
2, Khuyến nghị..................................................................................................... 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 34
PHỤ LỤC.............................................................................................................37
LỜI MỞ ĐẦU
Dân số thế giới không chỉ tăng lên mà ngày càng trở nên già đi. Già hoá dân số
bệnh trên 1000 người bởi vì nó tính đến tỷ lệ dân số có thể tiếp cận các dịch vụ y tế tại
mỗi điểm ở2 mỗi nước; chỉ số GINI vì chênh lệch thu nhập gây ra nhiều yếu tố văn
hóa, chính trị , xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Với kiểu dữ liệu mảng, để ước lượng mô hình theo các biến kể trên, nhóm tác
giả tiến hành ước lượng theo 3 mô hình:
Hàm hồi quy gộp OLS.
Mô hình với các ảnh hưởng cố định FE ( Fixed-effect model) theo OLS.
Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên RE ( Random effect model).
Nhóm tiến hành thiết lập mô hình hồi quy và kiểm định mô hình sử dụng phần
mềm STATA14.
Bài tiểu luận gồm có 3 chương :
Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Mô hình nghiên cứu
Chương 3 : Kết quả ước lượng và thảo luận
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1, Các nghiên cứu đi trước
Có nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra những nhân tố có ảnh hường đến tuổi
thọ trung bình.
a, Nhóm nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng âm
Đầu tiên, là nghiên cứu về sự tương quan giữa tỉ lệ nghèo và tuổi thọ trung bình
của giáo sư Majid Ezzati của Đại học Hoàng gia Luân Đôn, Anh (2018) cho thấy
khoảng cách về tuổi thọ giữa bộ phận những người giàu có và thiếu thốn nhất trong xã
hội tăng từ sáu năm (2001) lên tám năm (2016) đối với phụ nữ và từ chín đến 10 năm
đối với nam giới. Nhóm nghèo nhất trong xã hội đang chết sớm hơn gần một thập kỷ
so với các nhóm giàu nhất, điều này cho thấy rằng việc cắt giảm phúc lợi và chi phí
sinh hoạt ngày càng cao khiến cho những người nghèo nhất bị loại ra khỏi tập thể xã
hội. Nghiên cứu này đã cho thấy tuổi thọ của những phụ nữ nghèo nhất nước Anh đã
giảm trong bảy năm qua – kể từ năm 2011. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em có hoàn cảnh khó
hoàn toàn. Không ảnh hưởng, có nghĩa là không có ý nghĩa thống kê. Ảnh hưởng một
phần, có nghĩa là chỉ có một số mối quan hệ có ý nghĩa thống kê. Thì hai nhà nghiên
cứu đã tìm ra rằng 70% các nghiên cứu ngụ ý rằng khi có sự bất bình đẳng thu nhập
lớn hơn, sức khỏe của dân chúng bị kém hơn kéo theo tuổi thọ trung bình giảm đi. Các
bài báo chỉ ra rằng điều quan trọng là phải lấy mẫu ở một khu vực rộng lớn để thể hiện
bản chất thực sự của bất bình đẳng thu nhập. Một vấn đề khác trong một vài nghiên
cứu là xác định các biến kiểm soát thích hợp. Ví dụ, các tác giả thừa nhận rằng là các
quốc gia có thu nhập bình quân đầu người giàu hơn các quốc gia khác, mối quan hệ
giữa tuổi thọ và GNI bình quân đầu người trở nên ít phổ biến hơn. Khi vấn đề được xác
định, Wilkinson và Pickett đã xem xét tất cả các giấy tờ và thấy rằng chỉ có 8% trong
số 155 bài báo không ủng hộ tuyên bố rằng bất bình đẳng thu nhập (chỉ số Gini) và tuổi
thọ trung bình có liên quan. Do đó, 2 nhà nghiên cứu suy ra có ảnh hưởng giữa hệ số
Gini và tuổi thọ trung bình, và ảnh hưởng đó là ảnh hưởng âm. Mặc dù được bài
nghiên cứu được thực hiện rất công phu nhưng vẫn còn hạn chế vì đây chỉ là tổng hợp
lại các bài báo, nghiên cứu trước, chưa có tính mới.
Không chỉ vậy, nghiên cứu của Abdalali Monsef, Abolfazl Shamohammadi
Mehrjardi (2017) đã xác định được tác động của thất nghiệp lên tuổi thọ trung bình,
các nhà nghiên cứu đã lấy dữ liệu trên World Bank của 136 quốc gia và sử dụng
phương pháp dữ liệu mảng trong giai đoạn từ 2002 – 2010 để điều tra về mối quan hệ
này. Nghiên cứu này chỉ ra rằng: thất nghiệp có tác động tiêu cực lên tuổi thọ trung
bình, kết quả chỉ ra rằng tất cả các biến thống kê trong nghiên cứu đều có ý nghĩa ở
mức 5%, ngoài ra thì hệ số của tỷ lệ thất nghiệp là âm, suy ra tỷ lệ thất nghiệp và tuổi
thọ trung bình có ảnh hưởng âm lẫn nhau. Tuy nhiên thì các nhà nghiên cứu cũng lưu ý
rằng ở nhiều nghiên cứu khác thì tìm thấy rất ít bằng chứng về thất nghiệp gây ảnh
hưởng đến thể chất và tâm lý cũng như sức khỏe của con người, nên họ khuyên nghị
rằng chúng ta cần xem xét nhiều nghiên cứu khác nhau để đánh giá chính xác nhất sự
ảnh hưởng của thất nghiệp lên sức khỏe, từ đó liên hệ đến tuổi thọ. Đây là một trong
những nghiên cứu có phương pháp nghiên cứu tương tự như của nhóm tác giả nhưng
phí y tế cho mỗi đầu người tăng đáng kể cùng với sự gia tăng tuổi thọ, đặc biệt là các
nước Châu Âu thì tuổi thọ có thể tăng đến mức trường thọ. Kết quả nghiên cứu này cho
thấy sự khác nhau giữa chi phí y tế trên đầu người có ảnh hưởng quan trọng đến sự
chênh lệch về tuổi thọ trung bình giữa các quốc gia phát triển, đang phát triển và kém
phát triển – sự khác biệt này đang gia tăng theo thời gian. Những phát hiện của nghiên
cứu này chỉ ra mối liên hệ giữa chi phí y tế và tuổi thọ trung bình có ảnh hưởng dương
lẫn nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tại chỉ xem xét một yếu tố, đó là chi phí y tế, trên
tình trạng sức khỏe của dân số, trong khi các yếu tố khác liên quan đến phong cách
sống, giáo dục và thu nhập của cá nhân nên được xem xét.
Theo một nghiên cứu dẫn đầu của các nhà nghiên cứu tại các trường đại học
StanFord và Harvard, trong đó nghiên cứu chính là ngài Sanjay Basu, lấy dữ liệu từ
3142 quận, 7144 khu vực dịch vụ chăm sóc chính và 306 khu vực sảnh bệnh viện đã
chỉ ra rằng : Người dân sống lâu hơn ở những khu vực có nhiều bác sĩ chính chăm sóc
hơn. Nhưng nguồn cung bác sĩ này đang bị thu hẹp khi nhiều sinh viên y khoa chọn các
chuyên khoa trả cao hơn. Nghiên cứu cho thấy tuổi thọ tăng 51,5 ngày cho mỗi người
dân khi tăng thêm 10 bác sĩ chăm sóc chính trên 100.000 người ở Hoa Kỳ từ năm 2005
đến 2015. Một sự gia tăng tương tự trong các nghiên cứu bơi chuyên gia khác thì điều
này lại làm tăng tuổi thọ chỉ 19,2 ngày. Nhìn chung, các khu vực có nhiều bác sĩ chăm
sóc chính sẽ có tỷ lệ tử vong thấp hơn. Số ca tử vong do tim mạch ít hơn 0,9%, tử vong
do ung thư ít hơn 1% và tử vong do hô hấp ít hơn 1,4% khi tăng thêm 10 bác sĩ chăm
sóc chính trên 100.000 người. Theo ngài Sanjay Basu, tăng số lượng các bác sĩ chăm
sóc chính giúp tăng khả năng một người được điều trị các yếu tố có nguy cơ gây mắc
bệnh tim mạch như huyết áp cao hoặc cholesterol cao hoặc phát hiện sớm đối với các
bệnh ung thư lớn như ung thư vú hoặc ung thư ruột kết. Không giống như một số
nghiên cứu trước đây, tác phẩm này chỉ ra rằng các yếu tố khu vực có thể ảnh hưởng
đến tuổi thọ, chẳng hạn như mức độ nghèo và số giường bệnh, cũng như các yếu tố cá
nhân, bao gồm thói quen hút thuốc và béo phì. Các nhà nghiên cứu cũng xem xét
những người di chuyển giữa các khu vực có mật độ chăm sóc chính khác nhau và so
quan giữa tuổi thọ và số năm đi học gần hơn, đó là sự liên quan trực tiếp và không thay
đổi theo thời gian, nhưng sự giàu có thì thay đổi. Khi nhóm nghiên cứu đưa hai yếu tố
này vào cùng một mô hình toán học, họ thấy rằng sự khác biệt trong giáo dục dự đoán
chính xác sự khác biệt trong tuổi thọ, trong khi sự thay đổi về sự giàu có hầu như
không quan trọng. Lutz lập luận rằng vì việc học ở trường xảy ra nhiều năm trước khi
một người đạt đến tuổi thọ của họ, cho nên mối tương quan này phản ánh nguyên nhân:
giáo dục tốt hơn thúc đẩy cuộc sống lâu hơn. Nó cũng có xu hướng dẫn đến sự giàu có
hơn, đó là lý do vì sao sự giàu có và tuổi thọ cũng có mối tương quan với nhau. Nhưng
điều quan trọng Lutz nói rằng, sự giàu có dường như không thúc đẩy tuổi thọ, như các
chuyên gia vẫn nghĩ, thực tế - giáo dục thúc đẩy cả hai.
Có rất nhiều những nghiên cứu về mối liên hệ giữa các chỉ số sức khỏe và cơ sở
hạ tầng dành cho sức khỏe cụ thể như số bệnh viện, trạm xá, số giường và số bác sĩ
trong các bệnh viện nhà nước, thì nghiên cứu của T.Subba Lakshmi, Dukhabandhu
Sahoo (2013) là một nghiên cứu tiêu biểu. Họ đã sử dụng mô hình hồi quy đơn giản
log kép để ước tính các hệ số co dãn giữa cơ sở hạ tầng y tế và chỉ số sức khỏe của
bang Andhra Pradesh, Ấn Độ trong giai đoạn từ 1980 đến 2010 và đưa ra được kết luận
là: Giá trị R2 trong mô hình xác nhận rằng 70% biến động trong tất cả các chỉ số sức
khỏe được giải thích bởi cơ sở hạ tầng y tế. Tuy nhiên chỉ xây dựng cơ sở hạ tầng y tế
tốt không mang lại kết quả tốt cho sức khỏe. Nó chủ yếu dựa vào kết quả hoạt động,
thực hiện, bảo trì cơ sở hạ tầng y tế và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng có sẵn trong tiểu
bang. Tuy nhiên, điểm yếu nhất của nghiên cứu này là họ mới chỉ lấy dữ liệu và nghiên
cứu trong một tiểu bang của Ấn Độ mà chưa mở rộng ra các khu vực khác, cho nên kết
quả của họ chưa thực sự đáng tin cậy để có thể áp dụng cho nhiều vùng khác.
2, Lỗ hổng nghiên cứu
Từ những nghiên cứu đã có, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều lỗ hổng trong
nghiên cứu đi trước:
Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu về thu nhập có ảnh hưởng đến tuổi thọ, các nhà
nghiên cứu mới chỉ đưa ra phán đoán qua các số liệu tại một thời điểm xác định về thu
thác sâu về đề tài nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thọ trung bình.
Chương II: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1, Cơ sở lý luận
a, Khái niệm
Tuổi thọ trung bình hay kỳ vọng sống (tiếng Anh: Life expectancy) là số năm dự
kiến còn lại của cuộc đời ở một độ tuổi nhất định. Nó được kí hiệu là ex, nghĩa là số
trung bình các năm tiếp theo của cuộc đời cho một người ở độ tuổi x nào đó, tính theo
một tỉ lệ tử cụ thể. Tuổi thọ trung bình phụ thuộc vào các tiêu chuẩn được sử dụng để
chọn các nhóm. Tuổi thọ trung bình thường được tính riêng cho nam và nữ. Nữ giới
thường sống lâu hơn nam giới ở hầu hết các quốc gia có hệ thống y tế sản khoa tốt.
b, Các lý thuyết có liên quan đến tuổi thọ trung bình
* Lý thuyết về chính trị
Các yếu tố chính trị thực tế rất có ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và nó
là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến tuổi thọ trung bình của con người
ở mỗi nơi trên thế giới, nước nào có độ ổn định chính trị càng cao, tuổi thọ của con
người càng tăng. Một là, các chế độ xã hội mà nhà nước ban hành như chế độ an sinh
xã hội hay phúc lợi xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ của người cao tuổi hay
những người ko có sức lao động. Hai là, những yếu tố chính trị ảnh hưởng đến sự phân
bố hàng hóa và tài nguyên thiên nhiên tới người dân. Chính phủ sẽ xác định đáp ứng
các nhóm xã hội khác nhau những quyền lợi khác nhau, điều mày ảnh hưởng khá nhiều
lên tuổi thọ trung bình của mỗi nước.
* Lý thuyết về kinh tế
Đây là yếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ trung bình và
gián tiếp đến các yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình. Có thể kể đến
như tỷ lệ hộ nghèo trong nền dân số, thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, sự bất
bình đẳng trong thu nhập, khả năng tiêu dùng cảu mỗi cá nhân phụ thuộc và thu nhập –
tất cả những điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ trung bình của mỗi con người.
đảm bảo về an ninh thì tính mạng của họ được bảo đảm, tuổi thọ cũng sẽ cao hơn rất
nhiều so với những người ở vùng có tranh chấp, chiến tranh, an ninh không ổn định.
Với những lý do này, người dân sống trong sa mạc, vùng bắc nam cực, những nơi ô
nhiễm nặng hay những nơi không an toàn sẽ có tuổi thọ trung bình thấp hơn những nơi
khác. Có một số nghiên cứu đặc biệt chỉ ra có những nơi người dân có tuổi thọ trung
bình cao hơn hẳn không vì những lý do nêu trên mà do yếu tố di truyền mà người dân
vùng đó có được cùng chế độ ăn và chăm sóc sức khỏe do ông bà, cha mẹ họ truyền
dạy. Điều này phản ánh một nhận thức hoặc định nghĩa khác nhau về tuổi thọ trung
bình ở 1 số nơi trên thế giới.
2, Mô hình
a, Xây dựng mô hình
Dựa vào lý thuyết trên, mô hình mà nhóm tác giả đề xuất là:
Trong đó:
=+.+. +.
1:
+. +. +.+.
+.+. ++
Hệ số tự do
: Hệ số hồi quy (i = (2,10))
: Sai số ngẫu nhiên
Kí hiệu:
: Đặc điểm riêng không thấy được của từng quan sát
=
bình
- LEB) của một quốc gia
(năm)
Tỉ lệ nghèo
Độc lập
pov
Tỷ lệ nghèo trên đầu
người ở mức thu nhập
%
1,9$/ngày
Thu nhập quốc
dân bình quân đầu
Độc lập
lninc
GNI trên đầu người
US$/người
người
educ
quốc
gia
Secondary
(Lower
%
completion
rates)
Số lượng bác sĩ
Độc lập
doct
trên 1000 người
Số bác sĩ trên 1000 dân.
Bác sĩ bao gồm cả bác sĩ
Người
đa khoa và chuyên
gini
Chỉ số Gini đo lường mức
GINI Index
độ phân phối thu nhập
peace =1 khi
quốc gia nằm
trong top
40
quốc gia
hòa
bình nhất
Xếp hạng hòa
Độc lập
bình
peace
Thứ tự xếp hạng hòa bình
peace =0
bình: Institute for Economics and Peace.
4, Mô tả thống kê và mô tả tương quan biến số
a, Mô tả thống kê
Các số liệu mà chúng tôi thu thập và nghiên cứu đại diện cho các biến được liệt
kê trong Bảng 2.2 dưới đây:
Tên biến
Số
quan sát
Giá trị
trung bình
Độ lệch
chuẩn
Giá trị
nhỏ nhất
Giá trị
lớn nhất
life_exp
267
74.71
lnhealth
267
6.51
1.58
1.34
9.04
educ
267
80.17
22.49
12.48
110.87
doct
267
2.35
gini
267
36.83
8.09
24.60
56.20
peace
267
0.40
0.49
0.00
1.00
Bảng 2.2: Bảng mô tả các biến độc lập (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ dữ
liệu với sự trợ giúp của phần mềm Stata)
Nhận xét:
Đối với biến tuổi thọ trung bình (life_exp), Sierra Leone là quốc gia có tuổi thọ
kỳ vọng khi sinh ở mức thấp nhất là 79 tuổi. Quốc gia có tuổi thọ kỳ vọng khi sinh ở
Phần trăm
Cum.
0
159
59.55
59.55
1
108
40.45
100
Tổng
267
100
Bảng 2.3: Bảng phân tích tần số của biến định tính (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ
dữ liệu với sự trợ giúp của phần mềm Stata)
pov
-0.74
1
lninc
0.87
-0.73
1
lnhealth
0.53
-0.30
0.60
1
educ
0.24
-0.32
0.16
0.51
1
unemploy
0.24
-0.20
0.17
0.06
0.03
0.35
0.23
1
gini
-0.31
0.30
0.01
-0.46
Bảng 2.4: Ma trận sự tương quan giữa các biến độc lập (Nguồn: Nhóm tác
giả tổng hợp từ dữ liệu với sự trợ giúp của phần mềm Stata)
Những số liệu trên được tính toán bằng phần mềm Stata, kết quả từ việc chạy mô
hình có trong phụ lục.
Từ bảng trên, kỳ vọng của nhóm tác giả về ảnh hưởng của các biến độc lập đến
biến phụ thuộc như sau:
1
✓
Tỉ lệ nghèo có ảnh hưởng tiêu cực đến tuổi thọ trung bình (hệ số góc mang dấu (-) trong hàm
hồi quy).
✓
Thu nhập càng cao thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong hàm hồi
quy).
✓
Chi cho sức khỏe càng nhiều thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong
hàm hồi quy).
✓
trong hàm hồi quy)
Những kỳ vọng trên sẽ được kiểm định trong chương III của bài nghiên cứu này.
Chương III: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ THẢO LUẬN
1, Kết quả ước lượng
Sau khi tiến hành nghiên cứu, nhóm tác giả đã tổng hợp bảng kết quả ước lượng
dưới đây với mh1, mh2 và mh3 là mô hình RE, FE và RE sau khi chữa bệnh.
Biến số
pov
doct
beds
unemploy
gini
lninc
lnhealth
educ
peace
peace_pov
peace_doct
mh1
mh2
mh3
-0.03326525
(0.02635003)
(0.02328733)
0.10831949***
0.0804744**
0.12121539***
(0.03151199)
(0.03612478)
(0.02932324)
-0.01742608
-0.04540892
0.00279458
(0.02607189)
(0.02910382)
(0.02486842)
5.1723221***
(0.00234251)
(0.00186565)
-12.078453*
-14.880556**
-7.4113317
(6.3306706)
(6.5694777)
(6.2493451)
0.17706296*
0.09710569
0.11181014
(0.09564234)
(0.09650505)
(0.11058477)
0.02354144
(0.04246994)
(0.04631936)
(0.04235509)
0.0591319*
0.07172741**
0.02481275
(0.03511389)
(0.03527167)
(0.03044694)
0.98574658*
1.205713**
0.6737339
(0.56920694)
(0.58753278)
(0.5657483)
27.154905***
(4.4669333)
25.514583***
(3.3963324)
Số quan sát
260
260
260
0.7717
0.74727057
0.7854
peace_unemploy
peace_gini
peace_lninc
peace_lnhealth
peace_educ
Hệ số xác định
Kiểm định lựa chọn
mô hình POLS và
RE