ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Thanh Hiền
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CÁC CHỦNG Lactobacillus spp. CÓ HOẠT TÍNH
PROBIOTIC ĐỂ SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG NHẰM NÂNG CAO
SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Thanh Hiền
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CÁC CHỦNG Lactobacillus spp. CÓ HOẠT TÍNH
PROBIOTIC ĐỂ SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG NHẰM NÂNG CAO
SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA PHỤ NỮ
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 8420101.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Bùi Thị Việt Hà
i
MỤC LỤC.............................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG..............................................................................................v
DANH MỤC HÌNH..............................................................................................vi
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.................................................................3
1.1. Probiotic.......................................................................................................3
1.1.1. Khái niệm probiotic.............................................................................3
1.1.2. Probiotic phổ biến – Lactobacillus spp................................................3
1.2. Vai trò của vi khuẩn probiotic......................................................................4
1.2.1. Kìm hãm vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hóa.....................................5
1.2.2. Khả năng chống ung thư và các yếu tố đột biến...................................6
1.2.3. Tác động trên biểu mô ruột..................................................................7
1.2.4. Kích thích hệ thống miễn dịch.............................................................8
1.2.5. Cải thiện việc sử dụng lactose ở những người không dung nạp được
lactose............................................................................................................8
1.2.6. Làm giảm cholesterol trong huyết thanh và hạn chế các bệnh liên quan
đến tim mạch.................................................................................................8
1.2.7. Khả năng chống dị ứng........................................................................8
1.2.8. Phòng ngừa và điều trị viêm nhiễm phụ khoa ở phụ nữ.......................9
1.3. Cơ chế kháng khuẩn âm đạo và cân bằng hệ vi sinh đường sinh dục ở phụ
nữ khi sử dụng thực phẩm chức năng probiotics...............................................11
1.3.1. Sinh ra H2O2.......................................................................................11
1.3.2. Sinh ra axit lactic...............................................................................11
1.3.3. Sinh tổng hợp ra các chất kháng khuẩn..............................................12
1.4. Tổng quan chung về sức khỏe sinh sản của phụ nữ....................................13
1.5. Một số loại thực phẩm chức năng probiotics thương mại dùng cho con
người................................................................................................................. 14
probiotics giành riêng cho phụ nữ.....................................................................29
3.1.1. Tỉ lệ Lactobacillus spp. và L. reuteri ở khu vực nông thôn và khu vực
thành thị tại một số tỉnh thành miền Bắc Việt Nam.....................................29
3.1.2. Kết quả phân lập và tuyển chọn các chủng Lactobacillus spp. từ sữa
mẹ................................................................................................................ 30
3.1.3. Kết quả định danh chủng vi khuẩn được tuyển chọn từ mẫu sữa mẹ. 32
iii
3.2. Kết quả đánh giá một số tính chất, hoạt tính và điều kiện nhân giống của
chủng vi khuẩn được tuyển chọn ở điều kiện in-vitro.......................................34
3.2.1. Kết quả đánh giá một số tính chất và hoạt tính probiotic của chủng vi
khuẩn được tuyển chọn ở điều kiện in-vitro.................................................34
3.2.2. Kết quả nghiên cứu một số điều kiện nhân giống in-vitro của chủng vi
khuẩn được tuyển chọn................................................................................43
3.3. Nghiên cứu các công thức phối trộn để nâng cao tỉ lệ sống của các chủng
tuyển chọn sau khi đông khô............................................................................45
3.3.1. Mật độ tế bào của chủng vi khuẩn tuyển chọn trước khi đông khô....45
3.3.2. Mật độ sống của chủng vi khuẩn tuyển chọn sau khi đông khô.........46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..............................................................................50
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................51
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Thử nghiệm các công thức phối trộn sinh khối chủng probiotic................27
với các chất bảo vệ..................................................................................................27
Hình 11. Khả năng nhạy cảm với kháng sinh của chủng ĐC L. reuteri VTCC
910087 (Hình 6A), chủng L. reuteri SMH2 (Hình 6B) và L. rhamnosus SMH1
(Hình 6C)................................................................................................................40
Hình 12. Khả năng tạo màng biofilm của chủng L. rhamnosus SMH1, L. reuteri
SMH2 và chủng ĐC L. reuteri VTCC 910087........................................................41
Hình 13. Khả năng phát triển của chủng L. rhamnosus SMH1, L. reuteri SMH2 và
chủng đối chứng L. reuteri VTCC 910087 trong điều kiện nuôi lắc và nuôi tĩnh....43
Hình 14. Khả năng phát triển trên các mức nhiệt độ khác nhau của chủng L.
rhamnosus SMH1, L. reuteri SMH2 và chủng đối chứng L. reuteri VTCC 91008744
vi
MỞ ĐẦU
Viêm nhiễm phụ khoa hay viêm phụ khoa là thuật ngữ dùng để chỉ các bệnh
ở nữ giới gây ra tình trạng viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục như: âm đạo, cổ tử
cung, tử cung, buồng trứng, vòi trứng, phần phụ, và các vùng xung quanh. Tỉ lệ mắc
bệnh viêm nhiễm phụ khoa ở nữ giới chưa quan hệ tình dục lần nào sẽ thấp hơn vì
có lớp màng trinh bảo vệ giúp ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập vào bên trong tử cung.
Đối với nữ giới đã quan hệ tình dục, đặc biệt đang trong thời kì mang thai, sinh nở
thì nguy cơ mắc các bệnh viêm phụ khoa sẽ rất cao. Viêm nhiễm phụ khoa được coi
là bệnh nhiễm trùng phổ biến đặc biệt ở các nước nhiệt đới trong đó có Việt Nam.
Nhiều thống kê từ 2004 đến nay cho thấy, tỉ lệ viêm nhiễm phụ khoa ở phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ vẫn ở mức cao, chiếm đến 90% [1]. Nếu không điều trị hoặc điều trị
không đúng cách, không đầy đủ có thể gây nên các biến chứng như vô sinh, chửa
ngoài tử cung, sảy thai, ung thư cổ tử cung và các biến chứng cho thai nhi như thai
chết lưu, dị tật bẩm sinh, trì độn trí tuệ... đây được coi là một vấn đề rất lớn đã và
đang rất được quan tâm vì những thiệt hại do bệnh gây ra là rất lớn. Mặc dù nhiễm
trùng đường sinh dục có thể có các triệu chứng khác nhau, nhưng không phải lúc
nào phụ nữ cũng dễ dàng nhận ra. Trên thực tế việc chẩn đoán thậm chí còn khó
giữa sự có mặt của L. reuteri trong sữa mẹ của các bà mẹ ở vùng nông thôn và
thành thị tại miền Bắc Việt Nam và nghiên cứu các đặc tính probiotic của chủng
Lactobacillus spp. được tuyển chọn để hướng tới việc sản xuất chế phẩm probiotics
dành cho phụ nữ.
Mục tiêu của đề tài:
- Xác định được tỉ lệ Lactobacillus spp. và L. reuteri có trong sữa mẹ của các bà mẹ
sống tại khu vực nông thôn và thành thị ở một số tỉnh thành miền Bắc Việt Nam và
tuyển chọn được 2 chủng Lactobacillus spp. có hoạt tính probiotic tốt nhất.
- Xác định được công thức phối trộn để nâng cao mật độ sống sót sau quá trình
đông khô của các chủng được tuyển chọn.
2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Probiotic
1.1.1. Khái niệm probiotic
Theo ngôn ngữ Hy Lạp, probiotic có nghĩa là “dành cho cuộc sống” và có
một số nghĩa khác nhau theo thời gian. Khái niệm này được sử dụng lần đầu tiên
bởi Lilley và Stillwell vào năm 1965 để mô tả các chất được tiết ra bởi một loại vi
sinh vật kích thích sự phát triển của loại vi sinh vật khác. Do vậy, khái niệm này có
nghĩa ngược lại hoàn toàn với “antibiotic – kháng sinh”. Tuy nhiên, việc sử dụng
khái niệm probiotic này đã không tồn tại và sau đó được Sperti sử dụng để mô tả
các chất chiết xuất từ mô kích thích sự phát triển của vi sinh vật năm 1971. Mãi đến
năm 1974, Parker mới sử dụng probiotic để chỉ những vi sinh vật như vi khuẩn hay
nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật
đường ruột của sinh vật chủ. Định nghĩa này liên quan đến việc sử dụng probiotic
vào hệ vi sinh đường ruột nhưng bao gồm “các chất phụ khác” đã cho probiotic
nghĩa rộng bao gồm cả các kháng sinh. Trong việc nỗ lực cải thiện định nghĩa, năm
1989 Fuller đã định nghĩa lại probiotic là một chất (có bổ sung vi sinh vật sống) ảnh
động vật có vú, chim, sữa mẹ và dịch âm đạo ở người. Chúng là một loài probiotic
đã được ứng dụng từ rất lâu và có khả năng sinh ra reuterin - một chất có khả năng
ức chế sự phát triển của một số vi khuẩn Gram âm và Gram dương có hại cùng với
nấm men, nấm và động vật nguyên sinh [126]. L. reuteri có thể giúp cơ thể chống
lại nhiều bệnh nhiễm trùng thông thường, thúc đẩy sức khoẻ tổng thể ở cả trẻ em và
người lớn. Với những đặc tính hữu ích vốn có của loài này, việc tuyển chọn L.
reuteri trong nghiên cứu này để sản xuất thực phẩm chức năng probiotics nhất định
sẽ có tiềm năng trong việc bảo vệ sức khỏe con người nói chung và cho sức khỏe
sinh sản của phụ nữ nói riêng.
1.2. Vai trò của vi khuẩn probiotic
Việc duy trì ổn định hệ vi khuẩn đường ruột có vai trò quan trọng trong bảo
vệ sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Vai trò chính của vi khuẩn probiotic là giúp
cho hệ VSV đường ruột khỏe mạnh, ngăn cản sự thâm nhập và phát triển VSV gây
bệnh, tăng cường đề kháng tự nhiên với các bệnh truyền nhiễm của đường tiêu hóa.
Vai trò này được thể hiện ở một số biểu hiện cụ thể như sau.
4
1.2.1. Kìm hãm vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hóa
Sự sống sót của vi khuẩn probiotic ở những phần khác nhau của đường tiêu
hóa thường khác nhau giữa các loài. Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự
cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột, sự thay đổi này được nhận thấy một
vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ chế phẩm probiotics, phụ thuộc vào công dụng và
liều lượng của chủng vi khuẩn. Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên thì
vi khuẩn probiotic định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu
thụ này thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điều này đúng cho tất cả
các loại vi khuẩn probiotic [115].
Vi khuẩn probiotic tạo ra các chất đa dạng gồm có các axit hữu cơ gồm các
axit béo chuỗi ngắn dễ bay hơi, chủ yếu là acetate, propionate và butyrate, nhất là
ruột như axit butyric có vai trò giảm tạo ra những chất gây ung thư trong đường ruột
và kích thích các tế bào niêm mạc ruột bị tổn thương màu lành và phục hồi chức
năng.
+ Điều hòa những enzyme như nitroreductase, ß-glucuronidase (các enzyme này có
khả năng chuyển các chất tiền sinh ung thư thành chất gây ung thư trong trực tràng).
+ Ức chế khối u bằng một cơ chế đáp ứng miễn dịch.
Tuy nhiên, những vấn đề vẫn còn giới hạn trong mô hình in-vitro và in-vivo, việc
mở rộng ra trên người để dự phòng ung thư còn là vấn đề đang tranh cãi.
Hình 3. Các chủng vi khuẩn probiotic và các cơ chế chống lại các bệnh ung thư
[29]
6
1.2.3. Tác động trên biểu mô ruột
Vi khuẩn probiotic được xem như là phương tiện phân phát các phân tử
kháng viêm cho đường ruột. Cụ thể là đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm
giảm đáp ứng viêm, tạo đáp ứng miễn dịch để làm giảm dị ứng và cải thiện hệ vi
sinh vật đường ruột, ngăn ngừa tiêu chảy và táo bón. Vi khuẩn probiotic giúp đẩy
mạnh sự liên kết chặt giữa những tế bào biểu mô; giảm việc kích thích bài tiết &
những hậu quả khi bị viêm gây ra do lây nhiễm vi khuẩn và đẩy mạnh việc tạo ra
các phân tử phòng vệ như chất nhầy [102] .
Hình 4. Cơ chế hoạt động của probiotic thúc đẩy cân bằng nội môi và liên quan đến
khả năng ứng dụng trong bệnh viêm ruột [102]
Vi khuẩn probiotic hỗ trợ điều hòa cân bằng nội môi của tế bào chủ. Vi
khuẩn probiotic gây ra một số phản ứng có lợi cho tế bào chủ, bao gồm: ngăn chặn
tác động của vi khuẩn gây bệnh bằng cách sản xuất các chất kháng khuẩn (Antibacterial substance) và cạnh tranh với mầm bệnh để liên kết với các tế bào biểu mô;
xác định sự cân bằng giữa khả năng miễn dịch cần thiết và khả năng miễn dịch
phòng vệ quá mức bằng cách tăng khả năng miễn dịch bẩm sinh (innate immunity),
áp cao [73, 109]. Các nghiên cứu chỉ ra rằng các vi khuẩn Lactobacilli và
Bifidobacterium không chỉ sinh ra các axit hữu cơ mà còn trực tiếp sử dụng lipid và
các thành phần cholesterol trong máu [83].
1.2.7. Khả năng chống dị ứng
Thực phẩm chức năng probiotics góp phần chống lại một số dị ứng của cơ
thể và cung cấp nhiều chất quan trọng cho cơ thể (ví dụ như axit folic, niacin,
riboflavin, vitamin B6 và B12) [76], [75], [114].
8
1.2.8. Phòng ngừa và điều trị viêm nhiễm phụ khoa ở phụ nữ
Việc sử dụng thực phẩm chức năng probiotics chứa các lợi khuẩn đã được
phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Ngoài các vai trò kể trên, thực phẩm chức năng
probiotics giành riêng cho phụ nữ còn góp phần phòng ngừa và điều trị viêm nhiễm
phụ khoa.
Các nghiên cứu in-vitro chỉ ra rằng một số chủng Lactobacillus spp. có thể
ức chế sự gắn kết của Gardnerella vaginalis với biểu mô âm đạo và tạo ra H2O2,
axit lactic và các chất kháng khuẩn ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây nhiễm
trùng âm đạo. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy đặt viên nén chứa L. acidophilus
trong âm đạo trong 6 - 12 ngày hay uống L. acidophilus hoặc L. rhamnosus GR-1
và L. fermentum RC-14 trong 2 tháng có thể giúp chữa trị và làm giảm sự tái phát
nhiễm khuẩn âm đạo đồng thời giúp gia tăng lượng Lactobacilli trong âm đạo và
phục hồi một hệ vi sinh âm đạo khỏe mạnh một cách thường xuyên hơn là dùng
thuốc tạm thời (axit axetic) hoặc không điều trị [34].
Mastromarino và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu xác định hiệu quả của viên
nén đặt âm đạo chứa Lactobacillus trong điều trị nhiễm khuẩn âm đạo và trong việc
khôi phục hệ vi sinh vật âm đạo khỏe mạnh. 39 phụ nữ đã được ghi tên vào một thử
nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả tác động của viên nén Lactobacillus lên vi sinh
vật âm đạo và so sánh với nhóm sử dụng giả dược. Sản phẩm được chỉ định dùng
liên tục trong 7 ngày. Các chỉ số lâm sàng, điểm số Gram âm đạo và các triệu chứng
cách ngăn chặn sự tăng trưởng của vi khuẩn và sinh vật đơn bào). Khi kết hợp điều
trị kháng sinh này kèm với chế phẩm probiotics có chứa 2 chủng L. reuteri RC-14
và L. rhamnosus GR-1 sử dụng qua đường uống, số lượng L. iners hoặc L. crispatus
gia tăng mạnh ở âm đạo phụ nữ cùng với khả năng phục hồi cân bằng nội mô dẫn
đến việc sử dụng kết hợp chế phẩm probiotics và kháng sinh trong điều trị nhiễm
khuẩn âm đạo đem lại hiệu quả cao. Điều đó chứng tỏ khả năng khôi phục cân bằng
nội môi có liên quan đến việc sử dụng kết hợp chế phẩm probiotics với điều trị
kháng sinh trong việc nhiễm khuẩn âm đạo [55].
Trong một nghiên cứu khác về “Tác động của chế phẩm Probiotic SYNBIO
đặt âm đạo trong việc thúc đẩy sức khỏe âm đạo của phụ nữ” đã cho thấy việc sử
dụng chế phẩm probiotics Lactobacillus dạng viên nang đặt âm đạo làm gia tăng
các vi khuẩn có lợi, giúp chúng chiếm và tồn tại trong âm đạo. Việc sử dụng chế
phẩm sinh học probiotics dạng thuốc đặt âm đạo đã được thực hiện trên 35 phụ nữ
khỏe mạnh trong nghiên cứu của Maria cùng cộng sự. Mỗi phụ nữ được kiểm tra ba
lần trong quá trình nghiên cứu. Người tình nguyện được hướng dẫn nhận và sử dụng
thuốc đặt SYNBIO (L. rhamnosus IMC 501 và L. paracasei IMC 502) mỗi ngày và
duy trì trong 7 ngày. Các miếng gạc âm đạo được thu thập 3 lần, mỗi lần cách nhau
7 ngày sau khi sử dụng SYNBIO để xác định số lượng lactobacilli có mặt, giá trị pH
và chẩn đoán viêm nhiễm phụ khoa dựa vào thang điểm Nugent phụ thuộc hình thái
vi khuẩn trên tiêu bản nhuộm Gram (quan sát trên 10 hiển vi trường) và chẩn đoán
xác định viêm nhiễm phụ khoa khi đạt từ 7 đến 10 điểm [69]. Khi đánh giá khả
năng dung nạp trong điều trị được dựa trên phân tích các loại và sự xuất hiện của
các tác dụng bất lợi, kết quả cho thấy thuốc đặt âm đạo probiotic được dung nạp tốt
và không có tác dụng phụ nào đã được báo cáo. Điểm số Nugent ở ngưỡng trung
gian đã được ghi chép lại ở 40% phụ nữ tại lần khám thứ nhất và các điểm ở
10
ngưỡng trung gian này trở lại bình thường vào ngày thứ 7 (kết thúc điều trị) ở 20%
phụ nữ tham gia. SYNBIO đã góp phần làm tăng đáng kể lượng Lactobacilli tại lần
Không giống với H2O2, tác dụng ức chế vi khuẩn gây bệnh đường âm đạo
của axit lactic được chứng minh rõ ràng. Axit lactic ở nồng độ sinh lý (ví dụ: 110
mM) thậm chí ở pH 4,5 làm giảm 106 lần khả năng tồn tại của 17 loại vi khuẩn
11
khác nhau gây viêm nhiễm âm trong khi đó lại không ảnh hưởng đến khả năng tồn
tại của bốn loài Lactobacillus spp. âm đạo trong nghiên cứu in-vitro. Đáng chú ý là
hoạt tính kháng khuẩn của axit lactic có cường độ lớn hơn các chất được axit hóa
đến pH 4,5 như axit chlohydric hoặc axit axetic [70]. Ngoài ra, ở gần điều kiện exvivo, axit lactic sử dụng đơn lẻ không kết hợp với bacteriocin vẫn có hiệu quả kháng
vi khuẩn gây viêm nhiễm ở đường sinh dục nữ [30]. Một số nghiên cứu đã chứng
minh rằng axit lactic có tác dụng chính trong chống lại các bệnh do vi khuẩn gây ra
bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục (Sexually Transmitted Infections- STIs) chứ
không phải là H2O2. Axit lactic sinh ra bởi L. crispatus và L. gasseri đã làm bất hoạt
Chlamydia trachomatis [67] và Neisseria gonorrhoeae [45]. Axit lactic sản xuất bởi
L. crispatus đã được chứng minh có tác dụng ức chế N. gonorrhoeae và G.
vaginalis trong mô hình niêm mạc âm đạo ở lợn [20]. Tóm lại, những nghiên cứu
in-vitro và ex-vivo đều cho thấy rằng axit lactic được sản sinh ở các chủng probiotic
thuộc chi Lactobaciilus có khả năng duy trì hệ vi sinh vật âm đạo và bảo vệ vi
khuẩn chống lại bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục.
1.3.3. Sinh tổng hợp ra các chất kháng khuẩn
Bacteriocin có bản chất là protein hoặc các chuỗi peptide được sản xuất bởi
vi khuẩn để ức chế sự phát triển của các chủng vi khuẩn tương đồng hoặc các chủng
vi khuẩn có liên quan chặt chẽ với chủng đó. Chúng tương tự như các yếu tố diệt
nấm men và paramecium, chúng đa dạng về cấu trúc, chức năng và về sinh thái học.
Các ứng dụng của bacteriocin đang được thử nghiệm để đánh giá ứng dụng của
chúng như các kháng sinh phổ hẹp [28].
Bacteriocin lần đầu tiên được André Gratia phát hiện năm 1925, cho đến nay
có hàng ngàn loại bacteriocin đã được nghiên cứu. Ông đã tham gia vào quá trình
tìm kiếm các cách để tiêu diệt vi khuẩn, điều này cũng dẫn đến sự phát triển của
sinh, mang thai ngoài tử cung, sảy thai, ung thư cổ tử cung, các biến chứng cho thai
nhi như thai chết lưu, dị tật bẩm sinh, trì độn trí tuệ. Viêm nhiễm phụ khoa là bệnh
lý nhiễm trùng đường sinh sản ở phụ nữ gây ra chủ yếu bởi G. vaginalis,
Mycoplasma hominis và một số vi khuẩn kị khí. Bệnh gây ra do nhóm vi khuẩn có
lợi ở âm đạo Lactobacillus spp. bị thay thế dẫn đến tình trạng phát triển quá mức
của vi khuẩn kị khí có hại. Trên thế giới và ở Việt Nam, viêm nhiễm phụ khoa là
bệnh lý nhiễm trùng phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Viêm nhiễm phụ
khoa gặp ở tất cả các chủng tộc người, tỉ lệ mắc bệnh cao chiếm 40% đến 80% tùy
theo vùng miền [10], [4], [2].
Ở Hoa Kỳ, theo khảo sát của Bộ Y tế Quốc gia thì tỉ lệ mắc viêm nhiễm phụ
khoa chiếm 29% ở phụ nữ từ 14 đến 49 tuổi và 50% ở người Mỹ gốc Phi [13].
Nghiên cứu của Gavin và cộng sự về sức khỏe sinh sản và tình dục từ 2002 đến
2007 cho thấy riêng năm 2006, có khoảng 1 triệu người ở tuổi vị thành niên và
thanh niên tuổi từ 10 đến 24 tuổi ở 33 bang đã bị lậu do nhiễm Chlamydia hoặc
xoắn khuẩn giang mai [40]. Ở các quốc gia đang phát triển, có nhiều nghiên cứu đã
được báo cáo với tỉ lệ mắc viêm nhiễm phụ khoa cũng rất cao. Theo Aggarwal và
cộng sự nghiên cứu trên 2325 phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại vùng nông
thôn Harryana, Ấn Độ có tới 61% có ít nhất một triệu chứng của viêm nhiễm phụ
khoa trong đó viêm âm đạo là 32%, viêm cổ tử cung là 21%, bệnh lý viêm khung
13
chậu là 19%, xét nghiệm dịch âm đạo có 48% viêm âm đạo do vi khuẩn, 9% do
trùng roi âm đạo và 0,8% do nấm Candida albicans [12].
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà ở 380 phụ nữ từ 18 đến 49 tuổi ở nội thành
Hà Nội (2005) cũng cho kết quả tỉ lệ mắc viêm nhiễm phụ khoa rất cao lên tới
62,1%, trong đó viêm âm đạo do vi khuẩn chiếm chủ yếu với tỉ lệ 50,0%, do C.
trachomatis là 45,8%, do nấm C. albicans là 31,8% và thấp nhất do T. vaginalis là
3,8% [3].
Tác giả Lê Hoài Chương (2011) khảo sát 960 phụ nữ 18 - 49 tuổi đến khám
GR-1® và L. reuteri RC-14 sống sót đến tận vùng kín phụ nữ, hạn chế khả năng gây
ra vi khuẩn gây bệnh nấm men giúp ngăn ngừa và điều trị những vấn đề viêm âm
đạo và viêm tiết niệu. Sản phẩm này được nhập nhiều nhất về Việt Nam so với các
sản phẩm probiotics khác dành cho phụ nữ với giá thành khoảng 400.000
đồng/hộp/30 viên.
Sản phẩm ReNew Life Ultimate Flora Vaginal Support Probiotic của Mỹ,
với giá thành $57,79/hộp/60 viên. Sản phẩm có tác dụng hỗ trợ sức khoẻ âm đạo,
đường tiêu hoá, chứa hàng tỷ vi khuẩn trong 1 viên, gồm 10 loại vi khuẩn hữu ích.
Sản phẩm Fem-Dophilus® của Mỹ chứa hơn 1 tỷ vi khuẩn gồm 2 chủng L.
rhamnosus GR-1® và L. reuteri RC-14®, 60 viên với giá thành $83,91, hỗ trợ sức
khoẻ âm đạo, đường tiết niệu cho phụ nữ.
Sản phẩm Jarro-Dophilus probiotics for women của Mỹ có giá thành
$30,9/hộp/60 viên dạng uống. Sản phẩm chứa 5 tỷ vi khuẩn gồm 4 loài Lactobacilli
thường có mặt trong âm đạo phụ nữ: L. crispatus LbV88, L. gasseri LbV150, L.
jensenii LbV116, L. rhamnosus LbV96.
Nhìn chung các sản phẩm kể trên đều có tác dụng duy trì khu hệ vi sinh vật
âm đạo khỏe mạnh ở phụ nữ, giúp giảm bớt sự kết dính của vi khuẩn vào đường tiết
niệu, giúp giảm tần suất viêm bàng quang tái phát và hỗ trợ hệ thống miễn dịch
khỏe mạnh. Đây hoàn toàn là các sản phẩm nhập ngoại về Việt Nam với giá thành
tương đối cao, chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện thu nhập thấp của người dân
Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ ở vùng nông thôn và miền núi.
1.5.2. Một số thực phẩm chức năng probiotics thương mại trong nước hỗ trợ
sức khỏe cho con người
Trên thị trường hiê ên đang có hàng nghìn sản phẩm probiotics dùng cho con
người để tăng cường tiêu hoá và hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan tới tiêu hoá, tăng
cường miễn dịch... Có thể kể đến một số sản phẩm probiotics trong nước dùng cho
con người được thị trường quan tâm hiện nay như sau:
- Sản phẩm trong nước phải kể đến đầu tiên là BioLactoMen, Biolactovin do
PGS.TS Đinh Duy Kháng và cô êng sự tại Viện Công nghệ Sinh học nghiên cứu và
chế tạo ở dạng dạng đông khô từ chủng vi khuẩn lactic dược dụng L. acidophilus
1.6. Vi khuẩn probiotic trong sữa mẹ
Sữa mẹ được coi là có tầm quan trọng hàng đầu đối với sức khỏe, sự sinh
trưởng và phát triển tối ưu của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [79]. Bên cạnh những giá trị
dinh dưỡng của nó, sữa mẹ cũng chứa một số yếu tố hoạt tính sinh học giúp tăng
cường khả năng phòng tránh của trẻ sơ sinh [79], [25] và bảo vệ nó chống lại các
mầm bệnh xâm nhập [41], [47]. Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy rằng các
thành phần của những vi khuẩn có hoạt tính sinh học tiềm năng xuất hiện trong sữa
mẹ cũng có thể liên quan đến sự phát triển của các mô niêm mạc đường tiêu hóa ở
trẻ sơ sinh và việc thu nhận một hệ vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh [25], [54]. Các
loài vi khuẩn thường được tìm thấy ở sữa của các bà mẹ người khỏe mạnh thuộc các
chi Staphylococcus, Streptococcus, Lactobacillus, Micrococcus, Enterococcus và
Bifidobacterium [47], [54], [59]. Một số chi này bắt nguồn từ bề mặt của núm vú &
vùng da xung quanh và có thể thích nghi với sự sống sót trong các ống dẫn sữa ở vú
[79], [54].
16
Lactobacilli chiếm một phần quan trọng của hệ vi sinh vật đường ruột khỏe
mạnh ở con người và được cho là có liên quan đến việc kiểm soát và duy trì hệ vi
sinh vật này [81]. L. reuteri là một vi sinh vật bản địa của đường tiêu hóa ở người
và động vật [81], [22]. L. reuteri đã được chứng minh là có đặc tính probiotic [81],
[22], [99], [85], [87], [111] và trước đây đã được tìm thấy trong sữa của phụ nữ
Phần Lan [22]. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc xâm chiếm
Lactobacilli sớm có thể bảo vệ trẻ khỏi bị dị ứng [50], từ đó cho thấy vai trò trong
việc cung cấp Lactobacilli tự nhiên trong sữa mẹ là yếu tố có lợi cho trẻ nhỏ trong
thời gian bú mẹ.
Bên cạnh đó, cách tiếp cận nghiên cứu là phân lập và tuyển chọn các chủng
vi khuẩn có lợi ở sữa mẹ của các bà mẹ cho con bú ở miền Bắc Việt Nam, do đó
chủng sử dụng làm thực phẩm chức năng probiotics sẽ thân thiện và dễ cư trú hơn
so với với các chủng có nguồn gốc khác. Đây chính là tính mới, tính độc đáo của