SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp mầm non - Pdf 64

UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tên đề tài:

Một số biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp
cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi

1


MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết giáo dục mầm non là khâu quan trọng của hệ thống
giáo dục quốc dân, là bậc học chuẩn bị tiền đề cho giáo dục phổ thong theo mục
tiêu giáo dục toàn diện. Ngành học mầm non những năm qua có nhiều chuyển
biến về chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ không những ở những
thành phố lớn, thị xã, thị trấn, mà được nhân dân các vùng ven, miền núi đặc
biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đang từng bước được cải thiện.
Ngôn ngữ là phuơng tiện giao tiếp, là hiện thực trực tiếp của tư duy.
Sử dụng ngôn ngữ tốt không thể không tính đến yếu tố mạch lạc. Ngôn ngữ
mạch lạc là ngôn ngữ có nội dung rõ ràng, cụ thể, có trình tự, logic, có thể
được sử dụng hỗ trợ bằng các quan hệ từ, câu chuyển ý... được người nghe
lĩnh hội và hiểu đúng. Ngôn ngữ mạch lạc cũng thể hiện năng lực tư duy và
hiểu vấn đề của trẻ. ( Trích Môđun 3 BDTX)
Để thực hiện vấn đề này một cách có hiệu quả nâng cao chất lượng
giao tiếp bằng Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì cần phải phát triển
ngôn ngữ, bởi vì Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ, sự phát triển ngôn
ngữ là giúp trẻ tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác là phương tiện để
giao lưu tình cảm về mối quan hệ và cách ứng xử trong xã hội là sự tìm tòi
khám phá thế giới tự nhiên, cuộc sống xung quanh của trẻ.

trung vào lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp trong quá trình giáo
dục trẻ em vùng dân tộc thiểu số. Chính vì vậy chúng ta cùng nhìn nhận và
thực hiện tốt việc giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng giao tiếp nói
riêng cho trẻ. Bên cạnh đó, cần có những biện pháp cụ thể mang tính đặc
thù cho nền giáo dục mầm non nói chung và cho nền giáo dục kỹ năng sống,
kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số nói riêng đây là yêu cầu cần thiết
và khách quan trong sự phát triển.
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những giải pháp giáo dục kỹ năng
giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số tại lớp lá 5 trường Mầm non Sơn Ca xã
Dray Sáp Huyện Krông Ana mà bản thân đã thực hiện trong quá trình
3


giảng dạy trong những năm học vừa qua.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và đề ra những biện pháp giáo dục
kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số tại lớp lá 5 trường Mầm Non Sơn
Ca.
Nhiệm vụ của các cô giáo mầm non trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp
cho trẻ mầm non hiện nay đang là vấn đề bức thiết, là việc làm cần thiết có vai
trò to lớn trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ
vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi tôi đang công tác. Do đó việc giáo dục kỹ
năng giao tiếp cho trẻ người dân tộc thiểu số là rất cần thiết.
Xuất phát từ các lý do trên, bản thân tôi chọn đề tài: “Một số biện
pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số 5 – 6 tuổi tại lớp lá
5”.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài nhằm góp phần nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ ở
trường mầm non và chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học trường phổ thông và sự
phát triển sau này của trẻ.
Đề tài này xây dựng biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ người dân

rất quan trọng đối với khả năng giao tiếp và lĩnh hội các kiến thức của trẻ.
Mục đích của giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số là
nhằm phát triển toàn diện nhân cách nói chung và phát triển năng lực hành
động của trẻ nói riêng trong các mối quan hệ của trẻ ở gia đình, nhà trường
và xã hội. Mục đích của quá trình giáo dục đó phải là hướng tới là hình
thành ở trẻ các kỹ năng hành vi, biết biểu lộ thái độ, quan điểm của mình
trong giao tiếp với người khác. Đó là trẻ có kĩ năng chào hỏi, nói lời cảm ơn,
xin lỗi, biết cách lễ phép với người lớn tuổi, có kỹ năng chia sẽ với người
thân, bạn bè, những người xung quanh niềm vui và nỗi buồn biết tự nhận
thức về mình và người khác có kỹ năng nghe và trả lời câu hỏi của bạn bè
và người lớn tuổi, biết cách từ chối yêu cầu đề nghị khi thấy không hợp lý,
có khả năng xử lý tình huống trong quan hệ giao tiếp, có kỹ năng giải quyết
5


một số vấn đề cơ bản.
Đất nước Việt Nam ta có rất nhiều dân tộc anh em nhưng Tiếng việt là
ngôn ngữ chính để giao tiếp trao đổi với nhau thuận lợi hơn. Tuy nhiên trong
thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi
đến trường trẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường
tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ. Trẻ biết rất ít
hoặc thậm chí không biết Tiếng việt. Trong khi đó Tiếng việt là ngôn ngữ được
dùng chính thức trong trường học và các cơ sở giáo dục khác.
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển
của bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung, bộ máy phát âm nói riêng. Vì thế
cần phải phát triển ngôn ngữ đúng lúc mới đạt kết quả tốt. (Trích phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nhà xuất bản Đai học Huế)
Trẻ càng lớn thì vốn từ càng tăng nhanh, theo các nghiên cứu thì năm lên 4
tuổi vốn từ của trẻ là 1200 từ, 5 tuổi là 2000 từ và khi được 6 tuổi vốn từ của trẻ
lên đến 3000 từ. Sự linh hoạt và phong phú trong ngôn ngữ của trẻ không chỉ

xuyên phân công dạy mẫu, thao giảng để bản thân cũng như các đồng nghiệp
học hỏi đúc rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như năng
lực chuyên môn.
Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường đều sống hoàn toàn trong
môi trường tiếng mẹ đẻ, không có vốn Tiếng việt ban đầu nên việc giáo dục kỹ
năng giao tiếp Tiếng việt còn khó khăn, do điều kiện kinh tế khó khăn đa số phụ
huynh ở đây không biết chữ, phần lớn gia đình đều làm nông nhận thức của bố
mẹ còn hạn chế vì thế con em của họ không có điều kiện thuận lợi như những
đứa trẻ ở thành thị.
Đối với trẻ dân tộc thiểu số môi trường học tập ở trường học còn mới mẻ.
Đa số trẻ chưa biết nói Tiếng việt mà trẻ chỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng địa
phương. Cộng với sự bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ. Chính vì thế giáo dục kỹ
năng giao tiếp ở trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cần có sự kết hợp giữa gia đình,
nhà trường và xã hội để trẻ có được nền tảng và nhân cách tốt cho sau này.

7


Giáo dục mầm non có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách
gốc cho trẻ mầm non, đặt cơ sở nền tảng đẻ trẻ phát triển bền vững sau này. Mục
tiêu của giáo dục mầm non hướng vào việc trang bị cho trẻ những kỹ năng giao
tiếp chiếm vị trí, vai trò quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và
hiệu quả của giáo dục mầm non. Bởi mọi hoạt động trong trường, lớp đều được
thực hiện thông qua giao tiếp. Giao tiếp ở trường mầm non được tiến hành trong
mối quan hệ giữa cô – trẻ; giữa trẻ - trẻ; trẻ - với những người xung quanh. Để
giao tiếp thành công, hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải hiểu được ngôn ngữ của
trẻ. Việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ chưa đạt kết quả cao là do những
nguyên nhân các yếu tố như:
Giáo viên chủ nhiệm không phải là người đồng bào tại chổ nên việc xử
lý các tình huống, cách trao đổi, giao tiếp với trẻ có lúc còn gặp khó khăn và

của trẻ
Trẻ lắng nghe thấu hiểu
Nói lời yêu cầu đề nghị
Xử lý tình huống
Giải quyết vấn đề
Nói lời cảm ơn, xin lỗi
Chào hỏi
Tự chủ trong giao tiếp
Nói lời từ chối yêu cầu, đề nghị

Trước khi chưa

Tỷ lệ

có biện pháp thực hiện
15/35
12/35
10/35
11/35
13/35
15/35
12/35
10/35

42%
34%
28%
31%
37%
42%

là việc làm thường xuyên, liên tục theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần của Ban
giám hiệu nhà trường. Đặc biệt là vấn đề dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ trong
trường mầm non còn mới mẻ và rất nhiều giáo viên còn chưa hiểu rõ được tầm
quan trọng của vấn đề hoặc thiếu kỹ năng giảng dạy để có thể truyền đạt cho trẻ
hiểu và hình thành cho trẻ những kỹ năng giao tiếp cần thiết cho trẻ. Vì vậy ngay
từ đầu năm học nhà trường đã tiến hành họp chuyên môn và nêu nhiệm vụ trọng
tâm của trong năm học, trong đó nhấn mạnh đến việc đưa các kỹ năng dạy trẻ
tập làm một số công việc tự phục vụ, chú ý yếu tố cá nhân của trẻ.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh, trước
tiên giáo viên phải có nhận thức về những nội dung dạy trẻ. Để giúp giáo viên
có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỹ năng sống cho trẻ thì cần
xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên bao gồm những nội dung cụ thể sau:
10


- Cung cấp tài liệu cho giáo viên tham khảo về những hoạt động dạy trẻ kỹ
năng sống. Cho giáo viên tham khảo một số giáo án hay, những kinh nghiệm dạy
trẻ có nội dung về giáo dục kỹ năng giao tiếp của các giáo viên giỏi và trên các
tạp chí.
- Tập trung bồi dưỡng cho giáo viên về lý thuyết những nội dung mà trẻ
còn yếu để giáo viên có kiến thức dạy trẻ. Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ thế
nào là dạy kỹ năng giao tiếp. Dạy kỹ năng giao tiếp là dạy cho trẻ những kỹ
năng gì. Dạy kỹ năng giao tiếp cho trẻ vào thời điểm nào là hiệu quả nhất. Đặc
biệt nhấn mạnh đến những kỹ năng: Hợp tác, chia sẻ; lễ giáo; khám phá, học
hỏi; mạnh dạn tự tin.
Trẻ cần biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác
hiểu. Trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung
quanh. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ, nó có vị trí khá
chính yếu so với tất cả các kỹ năng khác như: Đọc, viết...Nếu trẻ cảm thấy thoải
mái khi nói về một ý tưởng hay một chính kiến nào đó, trẻ sẽ dễ dàng học và sẵn

liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có
thể đoán trước được. VD: Trong giờ Khám phá khoa học “ Một số con vật
nuôi trong gia đình” trẻ được quan sát các con vật, từ đó tìm hiểu xem con
vật đó lông của nó như thế nào hay vì sao con gà lại dùng chân bới xuống đất
để làm gì….
+ Dạy trẻ biết nói lời cảm ơn, xin lỗi: Ngay từ khi còn bé, nếu trẻ hiểu
được nên dùng những lời cảm ơn và xin lỗi trong hoàn cảnh phù hợp thì sẽ rất
có lợi cho việc hình thành nhân cách của trẻ sau này. Cho nên giáo viên cần phải
biết dạy trẻ sử dụng các lời nói đó vào những hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ khi có
người lớn cho quà trẻ phải biết nhận bằng hai tay và nói lời “cảm ơn”, hoặc khi
không may lỡ làm bạn ngã thì phải biết dùng lời “xin lỗi” đối với bạn.
- Bồi dưỡng về thực hành cho giáo viên:
Muốn giáo viên dạy được trẻ các kỹ năng giao tiếp thì đòi hỏi thao tác của
giáo viên phải chuẩn mực và có sự thống nhất, những kỹ năng này phải được các
cô giáo hướng dẫn giống nhau không có sự lệch lạc mỗi lớp hướng dẫn một kiểu
12


thì sẽ rất khó cho việc kế thừa từ lớp nhỏ đến lớp lớn. Hướng dẫn cho giáo viên
cách xây dựng các tiết học theo chủ đề, cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ
năng sống trong các hoạt động chung, nhất là cách tạo ra các tình huống để trẻ
giải quyết.
Hàng tháng tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn nhằm trao đổi về
chuyên môn, về cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Từ
đó tìm ra những mặt tích cực và khắc phục những mặt còn tồn tại.
Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ dạy và các hoạt động của giáo viên có
lồng ghép nội dung này, từ đó đánh giá được đúng mức trình độ của từng giáo
viên để có kế hoạch bồi dưỡng, góp ý. Với những giáo viên khá, giỏi cần hướng
cho giáo viên cách tổ chức các tiết dạy và các hoạt động có lồng ghép nội dung
giáo dục kỹ năng giao tiếp với nhiều hình thức sáng tạo, hấp dẫn. Cách làm đồ

tộc thiểu số dựa vào kế hoạch của năm học, bản thân đã đưa hoạt động “Tăng
cường tiếng việt” vào xây dựng kế hoạch của mình theo từng tháng, tuần và
ngày phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ và được chuyên môn xét duyệt.
Qua đó bản thân được trang bị đầy đủ về nội dung, phương pháp và cách thức tổ
chức tại lớp về tăng cường tiếng việt cho trẻ em dân tộc thiểu số.
Bản thân nhận thấy rằng khi bắt đầu học tiếng việt mục tiêu đầu tiên là hiểu
được nghĩa: Tạo giao tiếp tốt với trẻ bằng ánh mắt, mỉm cười thể hiện niềm vui
khi nói chuyện với trẻ tránh chất vấn trẻ và trò chuyện một cách tự nhiên với trẻ
cần cho trẻ thời gian để phản ứng sử dụng đồ vật và tranh ảnh khi dạy từ mới
cho trẻ cung cấp từ khi trẻ cần và mở rộng câu nói phù hợp với trẻ.Trong đó trẻ
được lắng nghe, được khuyến khích trò chuyện một cách tự nhiên, giáo viên là
người tạo cơ hội cho trẻ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.
Kể chuyện là phương pháp hỗ trợ tiếng việt cho trẻ. Trong hoạt động kể
chuyện bản thân đã chỉnh sửa câu chuyện cho phù hợp với trẻ dân tộc thiểu số
và kết hợp tăng cường tiếng việt cho trẻ
- Khi kể chuyện giới thiệu câu chuyện và các nhân vật trước khi đọc
chuyện.
- Kể lại câu chuyện và sử dụng các đạo cụ minh họa.
14


- giới thiệu các từ chính thong qua hành động và tiếng địa phương.
- Kể lại câu chuyện thông qua hoạt động đóng kịch
- Khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện
- mời trẻ có khả năng Tiếng Việt tốt lên kể lại câu chuyện, cho trẻ kể từng
đoạn hoặc nhắc lại lời thoại.
- Ví dụ: Trong câu chuyện “ Chú dê đen”
+ Bản thân đã sử dụng con rối để giới thiệu từng nhân vật (dáng đi, tiếng
kêu)tính đặc điểm bề ngoài của nhân vật.
+ Cho trẻ xem tranh và giới thiệu các từ và cho trẻ phát âm nhiều lần.

Hằng ngày khi đến lớp được tham gia vào góc hoạt động qua đó kỹ năng
giao tiếp càng được cải thiện như:

16


Đối với góc sách thư viện trẻ được lắng nghe cô và bạn, trẻ bắt chước
những từ hoặc câu nói trong chuyện, trẻ tự kể, trả lời câu hởi và những từ mới.
Ví dụ: Trong câu chuyện “Chú dê đen” trẻ có thể xem tranh câu chuyện qua
đó trẻ có thể kể lại câu chuyện và bắt chước giọng nói hung tợn của nhân vật Dê
đen “Dê kia, mày đi đâu?) bắt chước trạng thái và giọng nói run sợ của Dê
Trắng “ Tôi đi tìm lá non để ăn và nước mát để uống”
- Khi tham gia chơi ở góc phân vai: trẻ có thể chơi giả bộ, đóng vai trẻ biết
điều chỉnh giọng nói, ngữ điệu của mình cho phù hợp với vai chơi. Hầu hết các
trẻ đều thích chơi ở góc phân vai vì ở đây trẻ tìm được sự lien kết giữa gia đình
và lớp học. Chúng được tự do suy nghĩ và tưởng tượng khi đóng các vai như:
Giáo viên, bác sĩ, bố mẹ, em bé, ông bà…Trẻ khám phá, tìm hiểu các vai mà
chúng đóng. Bản thân cũng đã xây dựng và thiết kế khu chơi đóng vai thể hiện
nét văn hóa cộng đồng và gia đình của trẻ.
Ví dụ: Ở trò chơi khám bệnh, trẻ xưng hô: Tôi – Bác, Tôi – bạn…
Bệnh nhân: Á tôi đau bụng quá bác sĩ ơi
Bác sĩ: Để tôi khám cho bác nhé, tôi sẽ lấy thuốc cho bác bác hãy mau
uống thuốc đi…
Bệnh nhân: Cảm ơn bác sĩ
Những câu nói trên của trẻ đã thể hiện sắc thái trang trọng phù hợp với
nghề nghiệp. Trẻ đã biết sử dụng các đại từ nhân xưng thích hợp, có sắc thái thể
hiện với vai mình đóng. Qua vai chơi trẻ biết điều chỉnh cách nói chuyện thân
thiện và xa lạ. Qua đó trẻ học được kỹ năng đó là: Nói chuyện trong khi chơi với
bạn, lắng nghe bạn nói, bắt chước bạn học được những từ mới, nói về cảm xúc
của bản thân; trẻ được trao đổi, thỏa thuận, chào hỏi….

Phương pháp nêu gương có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục
kỹ năng giao tiếp, giúp trẻ phát triển được năng lực phê phán và năng lực
đánh giá hành vi của mình, hành vi của người khác từ đó rút ra những kết
18


luận thiết thực đối với bản thân trong quá trình học tập cũng như rèn luyện kỹ
năng giao tiếp.
Như vậy, thông qua phương pháp nêu gương, giáo viên giúp trẻ học và làm
theo những tấm gương tốt, tránh những gương xấu. Đồng thời giúp trẻ hình
thành được niềm tin về các chuẩn mực xã hội nói chung, chuẩn mực đạo đức nói
riêng và những kỹ năng giao tiếp phù hợp.
Biện pháp 5: Thường xuyên phối hợp với gia đình, nhà trường và xã hội
trong việc thực hiện giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
Tổ chức các lực lượng hổ trợ tương tác với nhau trong hoạt động giáo dục
kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số nhằm hướng tới xây dựng môi trường
giáo dục kỹ năng giao tiếp rộng, thống nhất, có sự phối hợp giữa các lực lượng
trong nhà trường, ở gia đình và xã hội. Từ đó phát huy được sức mạnh tổng hợp
của các lực lượng trong quá trình giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ và nâng cao
được hiệu quả của hoạt động giáo dục.
Hiệu quả của công tác giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số
phụ thuộc vào nhiều cơ chế phối hợp hỗ trợ giữa gia đình nhà trường và xã hội,
tuy lực lượng giáo dục khác nhau nhưng đều có chung một mục đích hướng tới
giáo dục hoàn thiện nhân cách cho con người. Để tổ chức các lực lượng hỗ trợ,
tương tác với nhau trong việc thực hiện giáo dục kỹ năng giao tiếp, các lực
lượng này phải có sự thống nhất về nội dung và phương pháp giáo dục. Trong đó
cần quy định rõ trách nhiệm của các lực lượng giáo dục và cơ chế trong tổ chức
hoạt động giao tiếp.
Giáo viên đã cố gắng học hỏi, tìm cơ hội để giao tiếp với phụ huynh, tìm
hiểu về phong tục tập quán và lối sống của họ dần dần bản thân đã tự học được


lỗi có bước phát triển tốt. Bản thân đã tự tin, sáng tạo hơn trong việc dạy kỹ
năng giao tiếp cho trẻ. Cùng kết hợp với phụ huynh, tạo niềm tin với phụ huynh,
với trẻ. Bản thân dám nghĩ, dám làm, khắc phục mọi khó khăn để giúp trẻ có
được những kỹ năng giao tiếp ngay từ khi còn nhỏ. Mang lại hiệu quả thiết thực,
giúp trẻ hứng thú với hoạt động, trẻ được phát huy tính tích cực, chủ động của
bản thân và mang lại kết quả trên trẻ cao hơn. Phụ huynh thường xuyên phối
hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc dạy trẻ các kỹ năng giao tiếp trao đổi với
giáo viên bằng nhiều hình thức thông qua bảng tin dành cho phụ huynh, bảng
đánh giá trẻ ở lớp. Giao tiếp giữa cha mẹ và con cái đã gần gũi thường xuyên
chia sẽ với con hơn, ít la mắng trẻ hướng dẫn trẻ nói những câu nói phù hợp, cha
mẹ cũng quan tâm đến con cái nhiều hơn như: Phản ánh cho cô những câu nói
chưa phù hợp khi trẻ nói ở nhà.
Trẻ đã tham gia tích cực vào các hoạt động trong tiết dạy, trò chơi hoạt
động mọi lúc mọi nơi. Giáo viên đã tận dụng môi trường trong và ngoài lớp học
để trẻ có thể hình thành được thói quen giao tiếp đơn giản hằng ngày như: Khi
đến lớp trẻ biết chào cô vào lớp và chào lúc ra về, trẻ biết xin cô đi vệ sinh, biết
xin lỗi cô và các bạn khi trẻ làm sai, biết chào hỏi người lạ khi vào lớp, thể hiện
cảm xúc vui vẻ, mạnh dạn khi bên cạnh cô và các bạn, thái độ rụt rè nhút nhát
khi có người lạ hỏi…
Trẻ đã mạnh dạn linh hoạt sáng tạo hơn khi giao tiếp Tiếng Việt với nhau.
Trẻ chủ động hơn trong các tình huống giao tiếp hằng ngày, mà ít nói tiếng mẹ
đẻ, trẻ đã nói rõ Tiếng Việt để trao đổi với cô nói lên mong muốn, đề nghị và
yêu cầu phù hợp với bản thân trẻ.
Vốn kinh nghiệm vốn có của bản thân và những kiến thức được trang bị
trong quá trình công tác, bản thân đã áp dụng các biện pháp trên vào giáo dục kỹ
năng giao tiếp cho trẻ.

21



biện pháp

Tháng 9/2018

với

Tháng 9/2016

Tỷ lệ %

trước
khi áp
dụng

Trẻ lắng nghe thấu hiểu
Nói lời yêu cầu đề nghị
Xử lý tình huống
Giải quyết vấn đề
Nói lời cảm ơn, xin lỗi
Chào hỏi
Tự chủ trong giao tiếp
Nói lời từ chối yêu cầu,

15/35
12/35
10/35
11/35
13/35
15/35

BP
52%
57%
57%
57%
54%
49%
51%
60%

đề nghị
Bảng 2: Kết quả khảo sát kỹ năng giao tiếp của 35 trẻ sau khi thực hiện
giải pháp
22


Phần thứ ba: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trong hoạt động giảng dạy và tổ chức các hoạt động hằng ngày cho trẻ giao
tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng. Hai hoạt động này được diễn ra và được trao
đổi trong mối quan hệ giao tiếp giữa cô và trẻ. Thông qua mối quan hệ giao tiếp
này trẻ được chiếm lĩnh tri thức, làm cơ sở cho sự phát triển nhân cách của trẻ
sau này. Gia tiếp của trẻ mầm non là quá trình tiếp xúc của trẻ với gia đình, nhà
trường và xã hội nhằm trao đổi thông tin về học tập, tư tưởng, tình cảm và các
vấn đề sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày.
Trẻ mầm non có thể thực hiện kỹ năng giao tiếp trong nhà trường, gia đình
và xã hội nhằm thực hiện các mục đích học tập, vui chơi, rèn luyện để phát triển
nhân cách.
Giao tiếp của trẻ có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau,
khả năng giao tiếp của trẻ phụ thuộc và vốn sống vốn kinh nghiệm và tính tự chủ

tiếp ...phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và tâm lý trẻ đặc biệt là đối với dân tộc
thiểu số.
Cần phải xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, đồng bộ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội nhằm tăng hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng sống
nói chung, giáo dục rèn luyện giao tiếp, kỹ năng giao tiếp cho trẻ nói riêng.
Các cấp, các nghành, chính quyền địa phương đặc biệt là ngành giáo dục
cần tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, điều
kiện cho hoạt động dạy học và giáo dục cho trường.
Trên đây là một số biện pháp và giải pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho
trẻ dân tộc thiểu số tại lớp lá 5, Trường Mầm non Sơn Ca Xã Dray sáp, Huyện
Krông Ana. Bản thân tôi đã cố gắng nhưng khổng thể tránh khỏi thiếu sót và
hạn chế. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng
nghiệp để tôi ngày càng thực hiện đề tài được tốt hơn.
24


Tôi xin chân thành cảm ơn!
Dray Sáp, ngày 10 tháng 03 năm 2019
Người viết

Vũ Thị Lợi

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status