PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước và là công cụ
vật chất quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội. Ngân sách có thể thâm hụt
hoặc thặng dư. Thâm hụt ngân sách nhà nước đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu
hết các nước bao gồm các quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển. Tác động của
thâm hụt ngân sách lên các biến kinh tế vĩ mô luôn là một chủ đề gây tranh luận trong
nhiều thập kỷ qua và chiếm một vị trí nổi bật trong các nghiên cứu của các học giả trên
thế giới. Có nhiều quan điểm khác nhau giữa các nhà kinh tế về mối quan hệ này. Một
số ủng hộ thâm hụt ngân sách và nghĩ rằng nó có lợi cho tăng trưởng kinh tế, trong khi
đó một số khác nghĩ rằng thặng dư ngân sách là một điều may mắn cho nền kinh tế.
Căn cứ vào điều kiện thực tiến, trong 10 năm trở lại đây thâm hụt ngân sách của Việt
Nam dao động trong khoảng 5% - 7% tổng sản phẩm quốc nội, nền kinh tế giữ tăng
trưởng ổn định trung bình 6%. Tuy nhiên, mức thâm hụt ngân sách theo kinh nghiệm
của thế giới không được vượt mức giới hạn cho phép 2% - 3% tổng sản phẩm quốc nội.
Tình trạng thâm hụt ngân sách vượt mức giới hạn cho phép đòi hỏi phải thực hiện các
biện pháp để giảm nhanh chóng thâm hụt tránh các tác động tiêu cực cho nền kinh tế
trong dài hạn. Trong bối cảnh thâm hụt ngân sách Việt Nam vượt quá giới hạn được
phép, nhóm tác giả nhận thấy cần thiết phải có nghiên cứu cập nhật sự tác động của
thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế trong tình hình hiện nay để có cái nhìn rõ
ràng về mối quan hệ giữa hai yếu tố này cũng như đề ra khuyến nghị phù hợp cho sự
phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Vì vậy, nhóm tác giả chọn đề tài: “Ảnh
hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai
đoạn 2000-2017”
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài sẽ hướng đến ba mục tiêu tổng quát sau:
1) Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm đã được
công bố, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam trong mối quan hệ với các biến số kinh tế khác.
1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT, KHUNG PHÂN TÍCH
1.1.
Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước
Theo Al - Khedar (1996) thì thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng lãi suất trong
ngắn hạn, nhưng về dài hạn thì không ảnh hưởng. Ông nghiên cứu mô hình VAR
bằng cách chọn dữ liệu của nhóm quốc gia G-7 cho giai đoạn 1964 - 1993, thấy
rằng thâm hụt ngân sách ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại và có ảnh
hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Bahmani (1999) với sự giúp đỡ của Johansen Juselius về kỹ thuật đồng liên
kết đã tìm kiếm mối liên hệ giữa thâm hụt ngân sách và đầu tư bằng cách sử dụng
dữ liệu hàng quý cho giai đoạn 1947 - 1992 với kết quả có sự tác động của thâm hụt
ngân sách đến đầu tư, đồng quan điểm với tranh luận của Keynes về ảnh hưởng lan
rộng của thâm hụt ngân sách đến đầu tư.
Ramzan & cộng sự (2013) nghiên cứu mối quan hệ thâm hụt ngân sách và
tăng trưởng kinh tế của Pakistan. Tác giả sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian trong giai
đoạn 1980 – 2010 và phát hiện mối quan hệ tồn tại tuyến tính giữa GDP và thâm hụt
ngân sách.
Risti & cộng sự (2013) cũng xem xét ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách lên
tăng trưởng kinh tế ở Romania, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian từ 2000-2010 nhận
được kết quả hai biến này có mối quan hệ cùng chiều, tuy nhiên nếu mức thâm hụt
ngân sách này vượt 3% thì điều này mới xảy ra, còn nếu dưới 1.5% thì lại là trung
lập, không ảnh hướng tới tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Qureshi & Ali (2010) xem xét mối quan hệ nợ công và
tăng trưởng kinh tế ở Pakistan. Họ đã sử dụng phương pháp ước lượng OLS cho mô
hình có dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn 1981- 2008. Kết quả cho thấy tồn tại
Thị Thanh Thảo (2010) cho rằng quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng
kinh tế là cùng chiều trong các năm từ 2001-2007 và có quan hệ ngược chiều trong
các năm 2008-2010.
4
Đặng Văn Cường, (Trường Đại học kinh tế Tp.HCM), Phạm Lê Trúc
Quỳnh, (Phòng tài chính quận Bình Tân): Tác động của thâm hụt ngân sách
tới tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng ở các nước Đông Nam Á (2015). Nghiên
cứu phân tích tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế tại một số
nước Đông Nam Á bên cạnh các yếu tố về lạm phát, đầu tư nước ngoài và tín dụng
nội địa khu vực tư. Để đánh giá hệ số hồi quy của các biến trong mô hình, tác giả sử
dụng mô hình hiệu ứng cố định cho dữ liệu bảng trong khoảng thời gian từ 20012013. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính vững cho các ước lượng, phương pháp bình
phương tối thiểu tổng quát (GLS) cũng được sử dụng trong các kết quả ước lượng.
Kết quả thực nghiệm cho thấy thâm hụt ngân sách, tín dụng khu vực tư tác động
tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến tăng
trưởng kinh tế, còn lạm phát thì không có ý nghĩa thống kê.
Huỳnh Thế Nguyễn, Nguyễn Lê Hà Thanh Na (Trường Cao đẳng Tài
chính - Hải quan), Lê Quốc Nghi (Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG –
HCM), “Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam” (2015). Bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam bằng mô hình Véc tơ tự hồi qui (VAR). Kết quả
nghiên cứu cho thấy thâm hụt ngân sách không có sự liên hệ rõ ràng với tăng trưởng
kinh tế, tuy nhiên tổng đầu tư có quan hệ nhân quả với thâm hụt ngân sách và tăng
trưởng kinh tế. Vì vậy để tăng trưởng ổn định trong thời gian tới, Chính phủ cần
thiết triển khai, kiểm soát các dòng vốn đầu tư cũng như điều hành ngân sách một
cách hiệu quả, chất lượng.
1.1.3. Khoảng trống nghiên cứu
Các đề tài nghiên cứu về tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng
-
NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm
để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Mặc dù có những ý kiến khác nhau khi nói về ngân sách nhà nước, song đa
số các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng để làm rõ được bản chất của NSNN
phải nêu bât được các khía cạnh sau đây:
-
Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra,
đệ trình quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện
-
Xét về thực thể: NSNN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi
cụ thể và được định lượng. Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiển tệ
- quỹ NSNN và các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy.
1.2.1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực của nhà
nước và được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật định
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của NSNN. Việc ban hành, sửa đổi, bổ
sung hay bãi bỏ một khoản thu chi nào của NSNN cũng chỉ có một cơ quan quyền
lực cao nhất của Nhà nước, đó là Quốc hội quyết định. Mặt khác tính quyền lực
6
của Nhà nước đối với NSNN còn thể hiện ở chỗ Chính phủ không thể thực hiện
hội được Nhà nước huy động được với lượng tiền tệ chi ra đã được phân phối sử
dụng trong năm.
Để đo lường mức độ thâm hụt ngân sách, người ta thường sử dụng chỉ tiêu sau
đây:
Mức bội chi ngân sách nhà nước = Tổng chi – Tổng thu
Trong đó:
Tổng chi = chi thường xuyên + chi đầu tư + cho vay thuần
Tổng thu = thu thường xuyên + thu về vốn
Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước = (Mức bội chi/GDP) x 100%
Thâm hụt ngân sách nhà nước là hiện tượng tài chính không nhất thiết liên quan tới
các sự kiện đặc biệt khác thường (như chiến tranh, thiên tai…)
Trong thế giới hiện đại ngày nay không có nhà nước nào mà trong thời kì lịch sử
nào đó của mình lại không xảy ra thâm hụt ngân sách. Nhưng xét về tính chất của
chính sự thâm hụt thì có thể khác nhau. Đó là:
-
Thâm hụt ngân sách có thể gắn liền với sự cần thiết của phải thực hiện những
đầu tư lớn của Nhà nước để phát triển kinh tế. Trong trường hợp đó thâm hụt
ngân sách không phản ánh chiều hướng khủng hoảng của các quá trình kinh
tế xã hội mà là sự điều chỉnh kinh tế của Nhà nước nhằm đảm bảo sự chuyển
dịch trong cơ cấu sản xuất xã hội
-
Thâm hụt xuất hiện do tình hình đặc biệt (chiến tranh, thiên tai…) khi dự trữ
thường xuyên không còn đủ và buộc phải sử dụng đến nguồn lực loại đặc biệt.
-
Cơ chế quản lý ngân sách kém hiệu quả, không cho phép nhà nước sử dụng
nó để kích thích phát triển kinh tế và gải quyết các vấn đề xã hội.
1.2.2. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh quy mô tăng lên
hay giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của thời kỳ này so
với thời kỳ trước đó. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng qui mô tăng trưởng
và tốc độ tăng trưởng. Qui mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng lên hay giảm đi
nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và
phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa năm hay các thời kỳ. Để
đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: phần tăng,
giảm quy mô của nền kinh tế (tính theo GDP), hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính
theo GDP).
1.2.3. Lý luận về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách tới tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề
được nghiên cứu khá rộng rãi trên cả phương diện lý thuyết và kiểm định thực
nghiệm. Các quan điểm của các trường phái kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau.
Trường phái Tân Cổ điển cho rằng tăng thâm hụt hiện tại sẽ kéo theo sự gia tăng
về gánh nặng thuế trong tương lai và đo đó người tiêu dùng sẽ có xu hướng tăng
9
tiêu dùng tại thời điểm hiện tại. Như vậy, tăng thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế (Harrison, 2003; Karras, 1994).
Trường phái Keynes lại cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽ tác động tích
cực đến tăng trưởng kinh tế. Khi Chính phủ tăng chi ngân sách (gây thâm hụt ngân
sách) thì tổng cầu của nền kinh tế sẽ tăng làm cho các nhà đầu tư tư nhân trở nên lạc
quan về triển vọng kinh tế và sẽ quan tâm hơn đến việc tăng đầu tư, do đó kinh tế
tăng trưởng. Tuy nhiên, trường phái này cũng cho rằng tác động của thâm hụt ngân
Thứ nhất, quan điểm tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách tỷ lệ nghịch với
tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, quan điểm tăng trưởng thâm hụt ngân sách có tác động tích cực đến tăng
trưởng kinh tế đất nước.
Thứ ba, quan điểm thâm hụt ngân sách với mức độ hợp lý có ảnh hưởng tích cực
đến nền kinh tế.
Dựa trên nghiên cứu và tìm hiểu, nhóm nghiên cứu lựa chọn quan điểm thứ ba:
“Thâm hụt ngân sách với mức độ hợp lý có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng
kinh tế.”
1.2.5. Phương pháp nghiên cứu
1.2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu đã cho thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số liệu chéo, thể hiện
thông tin về các yếu tố được thu thập từ năm 2000 - 2017 tại Việt Nam. Số liệu
được thu thập từ trang web chính thức của World Bank.
1.2.5.2. Phương pháp phân tích
Chạy phần mềm Gretl hồi quy mô hình bằng phương pháp ước lượng bình
phương nhỏ nhất (OLS) để ước lượng ra tham số của các mô hình hồi quy đa biến.
Từ phần mềm Gretl ta thực hiện các phương pháp sau:
Xét phân tử phóng đại phương sai VIF nhận biết khuyết tật đa cộng tuyến.
Dùng kiểm định White để kiểm định khuyết tật phương sai sai số thay đổi và
Robust Standard Errors hồi quy mô hình theo phương pháp sai số chuẩn mạnh.
Dùng kiểm định F để nhận xét sự phù hợp của mô hình và kiểm định t để ước lượng
khoảng tin cậy cho các tham số trong mô hình
Dùng Correlation matrix trong phần mềm Gretl để tìm ma trận tương quan giữa các
11
biến.
Kiểm định Ramsey's RESET để kiểm định dạng đúng của mô hình. Kiểm định R2
để xem mức độ ý nghĩa của mô hình.
World Bank
E
Tổng giá trị xuất khẩu (%GDP)
World Bank
I
Tổng giá trị nhập khẩu (%GDP)
World Bank
POP
Tỷ lệ gia tăng dân số (%)
World Bank
FDI
Tổng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
World Bank
BD
Thâm hụt ngân sách (%GDP)
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1.
Thực trạng thâm hụt ngân sách của Việt Nam – giai đoạn 2011-2017
2.1.1. Thu ngân sách
Về thu ngân sách, tốc độ tăng thu (sau khi loại trừ yếu tố tăng giá) chậm hơn
tốc độ tăng trưởng kinh tế. Theo đó, tỷ lệ huy động thu từ GDP cho ngân sách nhà
nước đã giảm từ 26,4% trong giai đoạn 2006-2010 xuống 23,4% trong giai đoạn
2011-2015. Năm 2016, thu ngân sách tăng lên mức 24,47% và đạt ngưỡng 25.73%
trong năm 2017. Riêng trong năm 2018, thu ngân sách tăng 5,5% so với năm 2017,
đạt 103% dự toán cả năm.
Yếu tố chính làm giảm tỷ lệ huy động thu trên GDP là giảm thu từ dầu thô,
thu thuế xuất nhập khẩu và thu từ đất. Xu hướng giảm thu có thể vẫn tiếp diễn do
các hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký kết bắt đầu có tác động và do nguồn
thu từ đất tiếp tục tăng chậm lại.
Việt Nam đã thành công trong việc chuyển đổi hệ thống chính sách thuế theo
hướng ít phụ thuộc hơn vào các nguồn bên ngoài (thu từ dầu thô và xuất nhập khẩu).
Hình 1. Quy mô thu Ngân sách nhà nước
Theo đó, tỷ lệ thu nội địa trên tổng thu lên đến 68% trong giai đoạn 2011-2015.
Theo thống kê của Bộ Tài chính, bình quân 2 năm 2016-2017 quy mô động viên ngân
sách nhà nước đạt 25% GDP, cao hơn mức bình quân 23,6% của giai đoạn 2011-2015
nhưng vẫn thấp hơn mức bình quân 26,3% của giai đoạn 2006-2010.
14
sách. Chi trả lãi tăng nhanh so với cả GDP và thu ngân sách nhà nước, chiếm
khoảng 8% tổng thu (bao gồm cả viện trợ không hoàn lại) vào năm 2015, so với
4,3% năm 2010. Chi trả nợ bao gồm cả trả gốc đã tăng lên đến 15% thu ngân sách
nhà nước trong năm 2017, đang tiệm cận dần tới ngưỡng an toàn và cho thấy những
rủi ro ngày càng lớn cho ngân sách.
Chi đầu tư từ ngân sách mặc dù giảm tỷ trọng so với GDP và so với trong tổng
chi tiêu của Chính phủ, nhưng vẫn duy trì ở mức cao so với khu vực và thế giới.
Tỷ trọng chi đầu tư trong tổng chi tiêu công cao nhất là 42% năm 2009 đã
giảm còn 32,4% vào năm 2012 và chỉ đạt hơn 20% vào năm 2016. Giai đoạn 20112015, tỷ trọng chi đầu tư phát triển bố trí trong dự toán tổng chi NSNN bình quân
khoảng 18%. Tuy nhiên, do ưu tiên nguồn tăng thu cho chi đầu tư phát triển, tăng
giải ngân nguồn vốn ODA, nên tỷ trọng chi đầu tư thực tế bình quân đã lên khoảng
23,6%. Năm 2016, chi đầu tư chiếm khoảng 24% tổng chi ngân sách (dự toán là
20%), chi thường xuyên khoảng 61,7% (dự toán trên 64%). Năm 2017, tăng tỷ lệ
chi đầu tư phát triển lên mức 25,7% dự toán, cơ cấu lại chi NSNN trong các lĩnh
vực sự nghiệp công.
16
Hình 3. Cơ xấu chi Ngân sách nhà nước
Điều đáng nói, khoản chi lớn nhất trong tổng chi NSNN chính là chi thường
xuyên. Trong cơ cấu chi thường xuyên, có thể thấy chi cho giáo dục, đào tạo và y tế
tăng lên rất nhanh. Bên cạnh đó, chi tiêu cho việc quản lý hành chính cũng tăng do
tăng lương và tăng biên chế.
Trong giai đoạn 2011-2018, chi tiêu của địa phương, kể cả nguồn bổ sung từ
ngân sách trung ương (NSTW) chiếm khoảng 55% tổng chi NSNN, tăng nhanh so
với mức 50% của giai đoạn 2006-2010.
Đặc biệt với trường hợp Việt Nam khi gần một nửa GDP hiện do khối doanh nghiệp
nước ngoài làm ra trong khi nguồn thu từ khối này không chiếm tỷ lệ lớn (do vấn đề
chuyển giá, ưu đãi đầu tư) đồng thời phải cân đối với số dư nợ công và vay nợ nước
ngoài.
18
Hình 4. Thâm hụt Ngân sách Việt Nam
2.2.
Nghiên cứu thực nghiệm tác động của thâm hụt ngân sách Nhà nước
đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Mô hình
GDP= β0 + β1 BD + β2 INF+ β3 FDI + β4 POP+ β5 CGF+ β6 BOP + β7 I + β8
E + β9 CPI + β10 sq_BD + β11 R + ε
Mức độ tương quan
Correlation coefficients, using the observations 2000 - 2017
5% critical value (two-tailed) = 0.4683 for n = 18
19