Luận văn sư phạm Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà - Pdf 65

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện được khóa luận này, tác giả khóa luận đã nhận được sự
giúp đỡ thường xuyên, tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ Lý
luận văn học và ThS. Phùng Gia Thế - người hướng dẫn trực tiếp.
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất
tới các thầy cô!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2010
Tác giả khóa luận

Giang Thị Bến

Giang Thị Bến

1

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Giọng điệu trần thuật trong
tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nào.

1.1. Khái quát về giọng điệu trong nghiên cứu lý luận văn học .................... 10
1.1.1. Từ ngữ, thuật ngữ ............................................................................... 10
1.1.2. Khái niệm giọng điệu ......................................................................... 11
1.1.3. Cơ sở của giọng điệu .......................................................................... 13
1.1.4. Vai trò của giọng điệu ........................................................................ 13
1.1.5. Giọng điệu và ngữ điệu....................................................................... 18
1.1.6. Giọng điệu và nhịp điệu...................................................................... 19
1.1.7. Giọng điệu và nhạc điệu ..................................................................... 20
1.2. Khái quát về giọng điệu trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 ........... 20
Chương 2: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà...... 26
2.1. Các giọng chủ âm .................................................................................. 27
2.1.1. Giọng giễu nhại .................................................................................. 27
2.1.2. Giọng xót xa, cay đắng ....................................................................... 32

Giang Thị Bến

3

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

2.1.3. Giọng triết lý, suy tư ........................................................................... 34
2.2. Những sắc điệu ...................................................................................... 38
Chương 3: Giọng điệu như một yếu tố cơ bản hình thành cá tính sáng tạo
Nguyễn Việt Hà .......................................................................................... 41
3.1. Đôi điều về cá tính sáng tạo và vai trò của giọng điệu với việc hình thành

khác nhau để tiếp cận thể loại này. Khai thác từ phương diện giọng điệu cũng
là một hướng đi hợp lý để nhận diện tiểu thuyết, nhận biết cách cảm, cách
nghĩ, quan điểm của nhà văn về cuộc sống, từ đó thấy được những đóng góp
của tác giả về phương diện này với nền văn học dân tộc.
1.3. Nguyễn Việt Hà là nhà văn đương đại nổi tiếng. Dù còn một số
điểm chưa thống nhất, song cơ bản các ý kiến về Nguyễn Việt Hà đều thừa
nhận những cách tân mới mẻ trong sáng tác của ông, đặc biệt ở lĩnh vực tiểu
thuyết. Có thể nói, chính từ tiểu thuyết mà những nét chính trong cá tính sáng
tạo của nhà văn dần được xác lập, và trong sự thiết tạo cá tính nhà văn, giọng
điệu là nhân tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu.
1.4. Việc chọn và thực hiện đề tài này, theo tác giả khóa luận, còn
mang những ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng khác. Trước hết, đó là sự
cập nhật thông tin trong nhà trường ĐHSP về một hiện tượng văn xuôi đang
được đông đảo bạn đọc quan tâm, và qua đó góp phần khắc phục một phần sự

Giang Thị Bến

5

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

chia cắt giữa văn học nhà trường với đời sống văn học đương đại phức tạp,
luôn đặt ra nhiều thách thức mới cho người nghiên cứu.
Thứ hai, việc thực hiện đề tài trên cũng là dịp để người viết học tập, rèn
luyện, trau dồi kĩ năng nghiên cứu (cả về thao tác và tư duy) trong phân tích

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

những đề án cho tương lai” [360 – books.com, Cơ hội của Chúa, tháng
5/2010].
Về tiểu thuyết “Khải huyền muộn”, nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Chí
Hoan đã phân tích rõ nét những điểm độc đáo về nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm và coi đây là cuốn tiểu thuyết “đầu tiên trong văn chương nước nhà
xuất hiện một cuốn tiểu thuyết về chính nó, đúng hơn là trình bày nó như một
văn bản nhiều tầng lớp đang trở thành cái mà nó tự ý thức là một cuốn tiểu
thuyết” [360 – books.com, tháng 5/2010].
Bình luận về “Khải huyền muộn”, các nhà văn Trung Trung Đỉnh, Lê
Thiết Cương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Chí Hoan cơ bản đều ghi nhận những
đóng góp, những cách tân mới mẻ ở bình diện hình thức của tác phẩm này...
[360 – books.com, tháng 5/2010].
Ngoài ra, tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà còn là đối tượng phân tích trong
một số bài tổng quan về tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986.
Có thể thấy, dù chưa có công trình nghiên cứu quy mô, khảo sát kỹ
lưỡng tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, song do tính chất mới mẻ về nghệ thuật và
ý nghĩa của vấn đề đặt ra trong đó mà các sáng tác của Nguyễn Việt Hà đã
được khá nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm. Trong các bài viết trên
đây, phương diện giọng điệu, phương diện mà chúng tôi cho là yếu tính làm
nên diện mạo tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà lại chưa được quan tâm thỏa đáng
và đặt ở vị trí xứng đáng.
Tóm lại, phân tích các bài viết về tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, chúng
tôi nhận xét, dù đã có những lí giải thuyết phục về cái mới trong tiểu thuyết
Nguyễn Việt Hà, song chưa có bài viết nào nghiên cứu riêng về giọng điệu
trần thuật, và theo đó, cũng chưa ai chỉ rõ được đặc điểm và những nét đặc
sắc trong giọng điệu tiểu thuyết của ông.

5.1. Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
5.2. Phương pháp so sánh hệ thống
5.3. Phương pháp thống kê – so sánh
5.4. Phương pháp lịch sử - chức năng
6. Đóng góp của khóa luận
Đề tài nghiên cứu đi sâu khám phá tiểu thuyết từ phương diện giọng
điệu nhằm hệ thống hóa kiến thức về giọng điệu văn chương với tư cách một
thuật ngữ khoa học; nêu bật đặc điểm giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết
Nguyễn Việt Hà từ các giọng điệu chủ âm đến các sắc điệu; chỉ ra vai trò

Giang Thị Bến

8

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

quan trọng của giọng điệu đối với việc hình thành cá tính sáng tạo của
Nguyễn Việt Hà.
7. Bố cục của khóa luận
Khóa luận bao gồm các phần: thủ tục, mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung của khóa luận được cấu tạo thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về giọng điệu và giọng điệu tiểu thuyết trong Văn
học Việt Nam từ sau 1986.
Chương 2: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà.
Chương 3: Giọng điệu như một yếu tố cơ bản hình thành cá tính sáng

miền Trung. Nói giọng Huế.
3. Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ, biểu thị tình cảm, thái độ nhất
định. Nói bằng giọng dịu dàng, âu yếm. Lên giọng kẻ cả. Giọng
văn đanh thép. Ăn nói lắm giọng (cứ thay đổi ý kiến luôn).
4. Gam đã xác định âm chủ. Giọng pha
Giọng điệu:
1. Giọng nói, lối nói biểu thị một thái độ nhất định: Giọng điệu
láo xược.

Giang Thị Bến

10

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

2. Như: Ngữ điệu [21, 403].
Bách khoa thư Mĩ định nghĩa: Voice (giọng) “là âm thanh do sinh vật
phát ra”. Tone (giọng điệu) “là âm thanh được xét theo sự can thiệp của
trường độ, cường độ, âm sắc và âm lượng của nó” (theo 15).
Lê Huy Bắc trong bài viết “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện
đại” phân biệt giọng và giọng điệu ở những điểm cơ bản “bằng cách giới
thuyết nội hàm của hai khái niệm”: Giọng là âm thanh được xét ở góc độ vật
lý như cường độ, trường độ, cách phối âm, âm lượng... Giọng điệu là âm
thanh được xét ở góc độ tâm lý, biểu hiện thái độ: buồn, vui, giận, hờ hững...
Nhà nghiên cứu M. Bakhtin khi nói về giọng điệu lại sử dụng khái niệm

trình độ làm nên trình độ ngôn ngữ. Giọng bổ sung là tăng sự đa dạng, phong
phú của ngôn ngữ.
Như vậy, nhà nghiên cứu Nguyễn Thái Hòa chủ yếu nhấn mạnh giọng
điệu ở phương diện đối thoại, tuy vậy ý kiến của ông cũng khơi gợi được
những điều cơ bản về giọng điệu văn chương.
Từ điển thuật ngữ văn học viết: “giọng điệu (Tone) là thái độ, tình cảm,
lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện thực được miêu tả thể
hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm,
cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm
biếm...” [6, 134].
Có thể nói đây là cách khái quát về giọng điệu vừa logic vừa hợp lý,
nêu bật được những nét bản chất của yếu tố này trong tác phẩm văn học.
Trong Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử
cho rằng “giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác
phẩm. Nếu như trong đời sống ta thường chỉ nghe giọng nói là nhận ra con
người, thì trong văn học cũng vậy. Giọng điệu giúp ta tìm ra tác giả, giọng
điệu ở đây không giản đơn là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để
nhận ra người nói, mà là một giọng điệu mang nội dung, tình cảm, thái độ,
ứng xử trước các hiện tượng đời sống.” [19, 132]
Từ điển thuật ngữ văn học, Giáo trình Thi pháp học đã xem giọng điệu
như một yếu tố quan trọng của thi pháp. Không thể hiểu được cái nhìn của tác
giả và sự hấp dẫn của tác phẩm nếu không phân tích giọng điệu.
Tổng hợp vấn đề ta thấy, cách khái quát giọng điệu của các nhà nghiên
cứu như trên đã coi giọng điệu văn chương là một trong nhũng phương diện
cơ bản cấu thành hình thức văn học, tức nhìn giọng điệu bằng quan điểm hệ
thống theo tinh thần thi pháp học.

Giang Thị Bến

12

1.1.4. Vai trò của giọng điệu
Giọng điệu nghệ thuật là một trong những vấn đề phức tạp nhất của thi
pháp học hiện đại. Tuy nhiên, việc tìm hiểu về giọng điệu trong tác phẩm văn
chương lại cung cấp những tri thức về một phương diện cơ bản cấu thành

Giang Thị Bến

13

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

hình thức nghệ thuật của văn học, một thước đo không thể thiếu để xác định
tài năng và phong cách độc đáo của người nghệ sĩ.
Nhìn một cách khái quát, giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ
tình cảm và thị hiếu của tác giả. Từ đây, giọng điệu có vai trò rất quan trọng
trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc.
Lê Huy Bắc trong “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại” khẳng định:
“... giọng điệu là một bộ phận của style (phong cách), chúng thoát thai từ các
cơ sở rồi góp phần tạo nên style cho mỗi tác phẩm, tác giả” [15, 411].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh thông qua các bài viết về Xuân
Diệu, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi... cũng đưa ra những ý kiến sắc sảo, những
khám phá về giọng. Mặc dù chưa tập trung khơi sâu về vấn đề này ở cấp độ lý
thuyết nhưng ông cũng khẳng định giọng điệu là một yếu tố quan trọng tạo
nên phong cách nghệ sĩ.
Cũng với ý nghĩa trên, M.B. Khrapchenko trong “Cá tính sáng tạo của

nhưng cũng có thể ngược lại, gọng điêu định hướng, hình thành cảm hứng”.
Một tác phẩm sẽ chưa thể được ra đời, sẽ chưa thể được hoài thai nếu thiếu đi
một giọng điệu nhất định ngay cả khi có đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống
nhân vật. Xin mượn lời của một cây bút viết văn xuôi nổi tiếng Xô - viết
Yujri Kazakôz: “Đôi khi thiên truyện không đạt ngay từ đầu - ông nhận xét tôi viết được hai ba dòng và cảm thấy rằng không phải cái giọng điệu mà tôi
cần đến. Trong trường hợp ấy tôi không viết nốt nữa mà quẳng đi vì cho rằng
truyện ngắn ấy không đạt và quẳng đi và thế là xong. Cũng có trường hợp
ngược lại. Mới bắt đầu viết được hai ba dòng và cảm thấy rằng xuôi rồi. Có
một uy lực nào đó xâm chiếm lấy ta và ta hòa nhập vào sự hài hòa với cái âm
hưởng, cái giọng điệu duy nhất đối với tác phẩm này” [13, 169].
Như vậy, là một hiện tượng nghệ thuật, giọng điệu phải phù hợp, phải
thống nhất với toàn bộ chỉnh thể tác phẩm với tư cách là một yếu tố của một
sinh thể toàn vẹn. Giọng điệu, do đó, phải thể hiện tính nhất quán với hệ
thống mà nó tồn tại và thể hiện lập trường, thái độ của chủ thể trong tác phẩm
nghệ thuật. Cũng từ đây, giọng điệu có vai trò quan trọng đối với mỗi sinh thể
nghệ thuật bởi nó “vừa liên kết các yếu tố hình thức khác nhau, làm cho
chúng cùng mang một âm hưởng nào đó, cùng có chung một khuynh hướng
nhất định, vừa là chỗ dựa chính để các yếu tố của tác phẩm quy tụ lại và định
hình, thống nhất với nhau theo một kiểu nào đó, trong chỉnh thể giọng điệu
ấy, mỗi yếu tố hiện ra rõ hơn, đầy đủ hơn, thậm chí mới mẻ hơn” (Lê Ngọc
Trà) (theo 5).

Giang Thị Bến

15

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2


Giang Thị Bến

16

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

giọng điệu cơ bản, xuyên suốt tac phẩm, thể hiện một cách sâu sắc lập trường
xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả với sự vật hiện tượng
được miêu tả) và các “sắc điệu bao quanh” với tư cách làm bè đệm (những
sắc điệu này diễn đạt sự phong phú của những phối cảnh cảm xúc trong việc lí
giải hiện tượng, những khía cạnh giống nhau và khác nhau của đối tượng sáng
tác). Như thế, về thực chất, giọng điệu cũng là một hệ thống. Hệ thống ấy
được kiến tạo trong sự kết hợp hài hòa giữa giọng điệu chung (giọng điệu chủ
đạo) và những sắc điệu khác nhau được thể hiện trong tác phẩm. Về cơ bản,
giọng “giọng điệu tự nó cũng là một hệ thống, một tổ hợp” bao gồm nhiều
yếu tố. Nó được thể hiện qua lời văn nghệ thuật nhưng tuyệt nhiên điều đó
không phải là phép cộng của những phương tiện ngôn ngữ. Do đó, khi khai
thác giọng điệu trong một tác phẩm văn học bất kì, ta phải xem xét theo hệ
thống ấy.
Trong cấu trúc tác phẩm văn học giọng điệu tồn tại như một yêu cầu tất
yếu. Giọng điệu mang những nét riêng thể hiện tính bản chất, không trùng
lặp, không lẫn lộn với các yếu tố khác trong tác phẩm nghệ thuật:
Cần phân biệt giọng điệu nghệ thuật với giọng điệu tác giả vốn có
ngoài đời: giọng điệu của tác giả ngoài đời là giọng điệu của con người cụ

Tuy nhiên, giữa ngữ điệu và giọng điệu lại có mối quan hệ với nhau, đó
là mối quan hệ “chi phối và phụ thuộc” (chữ dùng của Nguyễn Đăng Điệp).
Mối quan hệ này được thể hiện rõ nét ở việc ngữ điệu góp phần biểu lộ giọng
điệu, cũng có khi ngữ điệu bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người nói. Chẳng hạn
như ở đoạn văn giàu kịch tính nhất trong tác phẩm “Chí Phèo” - đoạn Chí
Phèo thức tỉnh và thấm thía nỗi bi kịch của cuộc đời mình rồi tìm đến nhà Bá
Kiến để “đòi nợ” ta bắt gặp trong đoạn văn ba giọng: giọng người kể chuyện,
giọng Chí Phèo, giọng Bá Kiến. Để biểu thị giọng điệu và thái độ khác nhau
của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến Nam Cao đã sử dụng nhiều loại ngữ
điệu khác nhau: khi thì dồn dập, gấp gáp (lúc Chí Phèo làm căng), khi thì
chùng xuống và mềm mại (lúc Bá Kiến dịu giọng)... Qua đây, có thể thấy,
ngữ điệu góp phần thể hiện thái độ của từng nhân vật (dè bỉu, ngạc nhiên, mỉa
mai...) và ngữ điệu cũng có chức năng biểu cảm (thể hiện sự mỉa mai, khinh
nhờn, hài hước....) nhưng rõ ràng đó là những chức năng biểu đạt gắn với
chuẩn ngôn ngữ chứ không nằm ở phạm vi bao quát như giọng điệu.

Giang Thị Bến

18

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

1.1.6. Giọng điệu và nhịp điệu
Nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm mạnh, nhẹ theo
những trật tự, cách thức nhất định. “bài thơ có nhịp điệu thanh thoát”, “giàu


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

1.1.7. Giọng điệu và nhạc điệu
Nhạc điệu là nhịp cao, thấp, trầm, bổng của âm thanh trong bản nhạc,
bài thơ. Ví dụ: “nhạc điệu của bài hát khí thế làm sao” “nhạc điệu hào hùng
của bài ca” [22, 519].
“Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa:
“Nhạc điệu là cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật hình thành bởi
vật liệu âm thanh của ngôn từ thể hiện đặc sắc của văn học như một nghệ
thuật thời gian. Yếu tố hình thái vật chất tạo nên nhạc điệu là điệp âm, điệp
vận với các hình thức đa dạng của chúng: bằng trắc, nhịp điệu, niêm, đối,
vần, yếu tố tượng thanh, ngữ điệu” [6, 224].
Có thể thấy chức năng cơ bản của nhạc điệu là làm cho câu thơ, lời văn
thêm réo rắt, trầm bổng, dễ đi vào lòng người đọc. Dễ nhận thấy rằng, cũng
giống như ngữ điệu, nhịp điệu trong mối quan hệ với giọng điệu, nhạc điệu
cũng chịu sự chi phối của giọng điệu, góp phần thể hiện giọng điệu chứ không
đồng nhất, không hòa trộn với giọng điệu.
Tóm lại, các yếu tố ngữ điệu, nhịp điệu, nhạc điệu đều có mối quan hệ
chặt chẽ với giọng điệu, đều là một phương diện quan trọng góp phần thể hiện
giọng điệu song chúng không hề đồng nhất với giọng điệu. Trong tác phẩm
văn học, khi khảo sát các yếu tố này, lẽ tất nhiên phải luôn nhìn nhận chúng
trong sự vận động, tương tác và tương hợp lẫn nhau, đặt chúng trong mối
quan hệ của sự toàn vẹn và thống nhất của một chỉnh thể nghệ thuật.
1.2. Khái quát về giọng điệu trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986
Nền văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới từ 1986 đến nay đã có
những chuyển biến đáng ghi nhận ở hầu khắp các thể loại, trong đó có tiểu
thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn. Trong sự vận động chung của nền văn học

thiếu để xác định tài năng và phong cách nhà văn.
Nhìn một cách tổng quát tiến trình phát triển văn học, mỗi thời đại, mỗi
giai đoạn lịch sử thậm chí mỗi một trường phái, trào lưu, tác giả lại có những
bản sắc, những nét độc đáo riêng. Điều cơ bản của nét độc đáo ấy là vấn đề
giọng điệu. Chưa nói riêng về giọng điệu tiểu thuyết trong văn học sau 1986,
nhìn một cách đại thể về văn xuôi Việt Nam ta thấy: văn xuôi nước ta từ 1945
đến 1975 tương đối nhất quán về giọng điệu. Bao trùm hầu khắp các sáng tác
là giọng khẳng định, ngợi ca của một cái nhìn tin tưởng, lạc quan, cùng với
những biến thái đa dạng các biểu hiện giọng điệu như hào sảng, hào hùng,
đanh thép, vui tươi, trang trọng tự hào, đầm ấm tin yêu...

Giang Thị Bến

21

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Trong giai đoạn này, văn học có xuất hiện cuộc tranh luận về “bôi đentô hồng” cuộc kháng chiến của dân tộc, tuy ít nhiều kịch tính song văn học
không vì thế mà đa giọng điệu. Về cơ bản, việc sử dụng giọng điệu nhất quán
giữa các nhà văn là phù hợp với yêu cầu thống nhất cao độ của cộng đồng,
tuân thủ kinh nghiệm cộng đồng.
Từ sau 1975, đặc biệt từ thời điểm đổi mới (1986) văn học ở ta, tập
trung diễn đạt những kinh nghiệm cá nhân đáp ứng sự đòi hỏi cao về giá trị cá
nhân. Ý thức cá tính lên ngôi, cái công thức nhàm tẻ, đơn điệu bị chế giễu, bị
coi là thiếu thẩm mĩ. Rất dễ để nhận ra trong văn học giai đoạn này giọng

Anh, và nhiều cây bút tiểu thuyết khác.
Như để bổ sung cho giọng hoài nghi, giọng chất vấn đay đả xuất hiện đi
liền với lối hành văn miêu tả nghiêm túc nửa đùa cợt mỉa mai, nhấn mạnh vào
thành phần định ngữ mở rộng hay mệnh đề phụ của câu hoặc đi với những so
sánh, liên tưởng tạt ngang có tính chất cường điệu hay cực tả, xuất hiện khi
tác giả có nhu cầu truy tìm căn nguyên cái xấu. Tiêu biểu cho loại giọng này
phải kể đến “Đám cưới không có giấy giá thú” - (Ma Văn Kháng), “Thiên
thần sám hối” - (Tạ Duy Anh)...
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nổi bật với giọng giễu nhại, đặc biệt ở
lớp nhà văn trẻ. Với sự nhạy cảm của tuổi trẻ trước cái mới, sớm được hít thở
làn gió dân chủ lại nhập cuộc hầu như “cùng cơ chế thị trường” năng động...,
lớp nhà văn này công khai chống lại tất cả những gì là nguyên tắc bảo thủ, là
lề thói cứng nhắc lỗi thời, các quy phạm, thói trịnh trọng cúng đồ, tính giáo
huấn, những mối quan hệ xã giao đầy đạo đức giả, lối thưa gửi khúm núm,
những húy kị... nói chung là những gì trói buộc cá tính để bứt tung ra, bộc lộ
mình rõ nét hơn. Dường như họ không còn quá coi trọng văn chương như lớp
đàn anh nên quan niệm và ứng xử của họ với nó cũng tự do hơn. Cũng trong
giai đoạn này, rầm rộ trên văn đàn cao trào đổi mới tư duy tiểu thuyết, giọng
điệu do đó cũng thêm đa sắc.
Những năm đầu của công cuộc đổi mới văn chương, chủ yếu sự xuất
hiện của giọng giễu nhại mang sắc thái của “chất cay đắng, tàn nhẫn” Vương Trí Nhàn [3, 187]. Bàn rộng kiểu giọng này trong văn xuôi sẽ thấy sự
góp mặt của các cây bút: Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy
Thiệp, Tạ Duy Anh...
Tiếp xúc với văn chương thời đổi mới, đặc biệt với những người yêu
thích sự trang nghiêm mực thước hoặc bản tính không quen đùa giỡn, bỡn cợt

Giang Thị Bến

23


giọng phê phán trầm xuống, hòa đồng trong rất nhiều giọng khác: khi suy tư
khắc khoải, khi chiêm nghiệm sâu xa, lúc tự bạch và tư vấn về thế sự nhân
sinh.

Giang Thị Bến

24

K32D – Ngữ văn


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp

Những năm gần đây, giọng giễu nhại và hoài nghi chiếm ưu thế với sự
đa dạng về sắc thái biểu hiện.
Như vậy, có thể nói giọng điệu trong văn xuôi thời kỳ đổi mới nói
chung và tiểu thuyết nói riêng từ sau 1986 tiến gần hơn về sự “đa thanh”,
phức điệu.

Giang Thị Bến

25

K32D – Ngữ văn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status