(Luận văn thạc sĩ) Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn - Pdf 54

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DƯƠNG THỊ BÍCH HUỆ

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CAO DUY SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DƯƠNG THỊ BÍCH HUỆ

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CAO DUY SƠN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. CAO THỊ HẢO

THÁI NGUYÊN - 2018




MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... ii
MỤC LỤC .............................................................................................................. iii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 6
6. Đóng góp của luận văn ........................................................................................ 6
7. Cấu trúc của luận văn .......................................................................................... 7
NỘI DUNG ............................................................................................................. 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ
HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA CAO DUY SƠN ........................................... 8
1.1. Những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật ............................................................. 8
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật..................................................................... 8
1.1.2. Những thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật ................................... 10
1.2. Hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn............................................................ 14
1.2.1. Vài nét về cuộc đời và con người ................................................................ 14
1.2.2. Quan niệm sáng tác ...................................................................................... 17
1.2.3. Những vấn đề cơ bản trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn ................................. 21
Chương 2: NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT, NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI,
NGÔN NGỮ ĐỘC THOẠI TRONG TIỂU THUYẾT CAO DUY SƠN ....... 37
2.1. Ngôn ngữ trần thuật ........................................................................................ 37
2.1.1. Ngôn ngữ miêu tả đi sâu vào trạng thái cảm xúc của con người ................ 37
2.1.2. Ngôn ngữ miêu tả dùng nhiều ví von so sánh ............................................. 42
2.2. Ngôn ngữ đối thoại ......................................................................................... 50

Nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số sẽ cho thấy sự phong phú, đa sắc màu của bức
tranh văn học Việt Nam, nhất là ở thời kì hiện đại. Nhiều nhà văn tiêu biểu của văn
học dân tộc thiểu số có đóng góp cho văn học dân tộc như: Vi Hồng, Nông Viết
Toại, Mã A Lềnh, Y Điêng… Họ đều dành hết tâm huyết của mình cho những tác
phẩm viết về dân tộc và miền núi. Tiếp nối truyền thống đó, một nhà văn rất thành
công về đề tài này - một người xứng đáng được bạn đọc vinh danh “thương hiệu”
nhà văn chuyên viết về dân tộc miền núi đó là nhà văn Cao Duy Sơn.
1.2. Cao Duy Sơn không chỉ nổi tiếng với những tập truyện ngắn mà ông
còn được bạn đọc biết đến với một số tiểu thuyết gây tiếng vang lớn và có sức
ám ảnh độc giả. Những sáng tác của Cao Duy Sơn tập trung vào khai thác hiện
thực và con người miền núi. Cuộc sống và con người dân tộc Tày ở vùng đất
Cao Bằng quê ông như một bức tranh thu nhỏ về hiện thực cuộc sống, con người
ở các vùng dân tộc thiểu số. Qua đó nhà văn đã phản ánh thân phận con người,
phản ánh được những vấn đề mang tính thời sự nhức nhối của đất nước và dân
tộc thời kì đổi mới. Mỗi tác phẩm của Cao Duy Sơn chính là một sự tìm tòi,
khám phá, phát hiện mới, độc đáo về đời sống và con người nơi đây, giúp người
đọc tiếp cận một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về vùng đất đậm đà bản sắc văn
hóa truyền thống này.
1.3. Nếu như hiện thực cuộc sống và con người là đối tượng phản ánh của
văn học thì: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó
và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - nó là chất liệu của văn
học” [28]. Ngôn ngữ nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó là yếu tố vật
chất duy nhất trong tác phẩm văn học. Nhưng trong thực tiễn văn học thế giới cũng
như ở Việt Nam, có thể nhận thấy ngôn ngữ không chỉ là chất liệu nghệ thuật mà
ngôn ngữ còn là sự phát ngôn thể hiện nhãn quan, tư tưởng của nhà văn. Thông qua

1


ngôn ngữ, người đọc sẽ khám phá, chiêm nghiệm đươc nhiều vấn đề. Ngôn ngữ


thuật của Cao Duy Sơn. Đó là nhà văn đã sử dụng “những câu chữ, những từ
tiêu biểu gần gũi gắn bó với người Tày”. Và đây có lẽ cũng là nét riêng làm nên
phong cách Cao Duy Sơn.
Tác giả Đào Thủy Nguyên trong bài Cội nguồn văn hóa dân tộc trong
truyện ngắn Cao Duy Sơn cũng cho rằng một trong những dấu hiệu của bản sắc
văn hóa dân tộc trong truyện ngắn Cao Duy Sơn chính là ngôn ngữ nghệ thuật.
Khi đọc tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối, tác giả Đỗ Đức nhận định:
“Văn trong tập này của Cao Duy Sơn giống tổ chim gáy ấy. Nó không cầu kì thoáng
đọc còn cảm thấy nó quềnh quàng vụng dại. Nhưng truyện nào cũng có những câu
khiến người ta giật mình về sự sắc sảo trong quan sát cuộc sống và gọi nó ra bằng
chính ngôn ngữ của vùng mình” [6]. Điều mà nhà nghiên cứu ấn tượng chính là thứ
ngôn ngữ của “vùng mình” chỉ riêng có của Cao Duy Sơn.
Phải chăng đó là thứ ngôn ngữ mà nhà nghiên cứu Cao Thị Hảo đã từng đề
cập đến khi nghiên cứu Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn?
“Trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn, ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện
khá độc đáo, mang màu sắc riêng và đậm chất Tày, thể hiện qua việc sử dụng lối
ví von, so sánh liên tưởng gần gũi với cách tư duy của người dân miền núi, nhiều
thành ngữ, tục ngữ, lối nói phuối pác, phuối rọi của văn học dân gian Tày” [11].
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nét cơ bản nhất trong ngôn ngữ
nghệ thuật Cao Duy Sơn, tuy nhiên những nhận định này vẫn mang tính chất
chung hoặc ứng với nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn. Những nghiên cứu cụ
thể về ngôn ngữ tiểu thuyết của Cao Duy Sơn chưa được đề cập đến.
Tuy những bài viết trên chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ nghệ
thuật tiểu thuyết Cao Duy Sơn, nhưng với chúng tôi đó đều là những gợi mở rất
quý báu và hữu ích, là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ
nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn.
Ngoài các bài viết trên cũng có một số luận văn nghiên cứu về ngôn ngữ
nghệ thuật trong sáng tác của Cao Duy Sơn, chúng ta có thể kể đến các luận văn
của Đặng Thuý An, La Thuý Vân, Huỳnh Thị Mỹ Phụng, Cao Thành Dũng...

Trên cơ sở tổng hợp, tiếp thu ý kiến của các tác giả trên, chúng tôi cố gắng đưa
ra một cách nhìn bao quát, hệ thống để tìm hiểu cụ thể giá trị các tiểu thuyết viết
về đề tài miền núi của Cao Duy Sơn từ phương diện ngôn ngữ nghệ thuật. Qua

4


đó khẳng định tài năng phong cách nghệ thuật và vị trí của Cao Duy Sơn trong
văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Cao Duy Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu toàn bộ 5 cuốn tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, cụ thể
gồm các tiểu thuyết sau:
- Tiểu thuyết Người lang thang - NXB Hội nhà văn (giải thưởng Giải A
của Hội đồng văn học Dân tộc miền núi Hội nhà văn Việt Nam, 1993)
- Tiểu thuyết Đàn trời - NXB Văn hóa Dân tộc (giải thưởng Giải A của
Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2007)
- Tiểu thuyết Chòm ba nhà - NXB Lao Động, 2009
- Tiểu thuyết Cực lạc - NXB Hà Nội , 1994
- Tiểu thuyết Hoa mận đỏ - NXB Văn hóa Dân tộc, 1999
Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm khác cũng
của người dân tộc thiểu số để so sánh, đối chiếu. Chúng tôi cũng tham khảo một
số sách lý thuyết, lý luận văn học làm cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu
của mình.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn, chúng

Cao Duy Sơn
5.6. Phương pháp hệ thống: Phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu ngôn
ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn đạt đến cái nhìn sâu sắc và toàn
diện hơn.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong
toàn bộ 5 cuốn tiểu thuyết của Cao Duy Sơn. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần

6


làm sáng tỏ những nét đặc trưng về ngôn ngữ nghệ thuật. Luận văn còn khẳng
định những đóng góp của Cao Duy Sơn về mặt ngôn ngữ nghệ thuật trong thể
loại tiểu thuyết nói riêng và trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
nói chung. Đồng thời bổ sung tài liệu tham khảo về văn học dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện đại vốn chưa được nghiên cứu sâu, rộng.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục,
phần Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật và hành trình sáng tạo
của Cao Duy Sơn
Chương 2: Các thành phần cơ bản trong ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết
Cao Duy Sơn
Chương 3: Đặc điểm về từ ngữ, câu văn trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn

7


NỘI DUNG
Chương 1



Loài người đã tiến hành giao tiếp bằng nhiều loại công cụ. Nhưng những
công cụ này dù có những ưu điểm mà ngôn ngữ không có nhưng lại có nhiều hạn
chế và không thể quan trọng bằng ngôn ngữ. Cử chỉ, nét mặt, dáng điệu là những
phương tiện giao tiếp quan trọng. Nhưng so với ngôn ngữ, chúng thật nghèo nàn
và hạn chế. Các ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, khiêu vũ...
đều là những công cụ giao tiếp rất quan trọng của con người. Chúng có những
khả năng to lớn và kì diệu nhưng vẫn bị hạn chế nhiều mặt so với ngôn ngữ.
Chúng không thể truyền đạt khái niệm và tư tưởng mà chỉ khơi gợi trên cơ sở
những hình ảnh thính giác hay thị giác gây ra được ở người xem. Những tư
tưởng, tình cảm này thường thiếu tính chính xác, rõ ràng. Ngôn ngữ là công cụ
của tư duy và tư duy định hình nhờ ngôn ngữ, chỉ cần suy nghĩ về bất cứ cái gì là
lập tức phải dùng đến ngôn ngữ. Các nhà khoa học cũng suy nghĩ bằng cái gọi là
ngôn ngữ bên trong gồm các từ các câu. Einstein đã từng nói “Không có nhà bác
học nào chỉ suy nghĩ bằng công thức” (dẫn theo Ðái Xuân Ninh). Ngôn ngữ mới
chỉ là chất liệu vật chất của tác phẩm văn học chứ chưa phải là hình thức của
chỉnh thể thẩm mĩ trọn vẹn. Từ ngôn ngữ đến ngôn ngữ nghệ thuật là cả quá
trình lao động sáng tạo của nhà văn.
Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học các tác giả cho
rằng ngôn ngữ nghệ thuật là: “một hệ thống các phương thức, phương tiện tạo
hình, biểu hiện hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một
ngành, một sáng tác nghệ thuật” [35, tr. 186]. Nhóm tác giả của cuốn sách còn
đồng nhất ngôn ngữ của sáng tác văn học với cấp độ ngôn ngữ của các loại hình
nghệ thuật khác như ngôn ngữ ba lê, ngôn ngữ chèo, ngôn ngữ điện ảnh.
Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật có
điểm gần gũi với khái niệm lời văn nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật với tất cả
tính thẩm mĩ của nó là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học. Không có ngôn ngữ
nghệ thuật thì không thể có tác phẩm văn học. Trong tác phẩm văn học ngôn ngữ
giúp nhà văn cụ thể hóa chủ đề, tư tưởng, cốt truyện, tính cách nhân vật. Nguyễn

trần thuật, lời nhân vật, lời thoại trong kịch và các dạng của chúng đều là các
bộ phận tạo thành lời văn nghệ thuật” [39, tr. 9]. Vì vậy, các thành phần cơ
bản của ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ đối thoại và
ngôn ngữ độc thoại. Ngoài ra chúng ta cũng có thể nhận thấy, đặc điểm về từ

10


ngữ, câu văn cũng là một phương diện quan trọng tạo nên những đặc trưng
riêng của ngôn ngữ nghệ thuật.
* Ngôn ngữ trần thuật hay còn được gọi là ngôn ngữ người kể chuyện
hoặc ngôn ngữ của tác giả. Kiểu ngôn ngữ này thường là lời miêu tả một cách
gián tiếp của nhà văn. Chức năng của loại ngôn ngữ này là trình bày toàn bộ thế
giới hình tượng, kể cả các yếu tố nội dung, hình thức của lời nhân vật. Tái hiện
và phân tích, lý giải thế giới khách quan, sự việc, con người, cảnh vật, đồ vật.
Tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức cho người khác: “giúp cho các sự
vật, hiện tượng như ngoại hình, tình trạng, môi trường, phong cảnh, sự
kiện...vốn không biết nói, được nói lên trong tác phẩm” [35, tr. 330].
Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Mỗi thể loại văn học có cách thức tổ chức
và đặc trưng ngôn ngữ riêng, nếu kịch chủ yếu dùng ngôn ngữ đối thoại, thơ trữ
tình chủ yếu sử dụng ngôn ngữ để bộc lộ cảm xúc thì ngôn ngữ cơ bản của văn
xuôi là ngôn ngữ trần thuật. Phương Lựu tác giả của cuốn Lý luận Văn học nêu
rõ: “Trần thuật là hình thức trình bày bằng lời văn, các chi tiết, sự kiện, tình tiết
có quan hệ biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn theo một
cách nhìn, cách cảm nhất định. Trần thuật là sự thể hiện của hình tượng văn học
truyền đạt nó tới người thưởng thức. Bố cục của trần thuật là cách sắp xếp, tổ
chức sự tương ứng giữa các phương tiện khác nhau của hình tượng với các tác
phẩm khác nhau của văn bản” [27, tr. 307].
Đề cập đến vai trò của ngôn ngữ trần thuật, nhóm tác giả cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học khẳng định rõ: “Ngôn ngữ trần thuật chẳng những có vai trò

đang nhìn thấy một thứ đất đến kỳ cục: cứ lổng chổng đầy những đá. Viên bé chỉ
là một hòn đá kỳ lưng, hòn to cũng ngang cái đầu” [72, tr. 544].
Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
mang tính khách quan giúp nhà văn phát hiện, phân tích, lí giải sự việc, con
người một cách sinh động, cụ thể và cũng là yếu tố quan trọng thể hiện phong
cách nhà văn.
* Ngôn ngữ đối thoại: Trong văn xuôi tự sự một trong những phương diện
để bộc lộ thái độ tính cách nhân vật là ngôn ngữ đối thoại: “Ngôn ngữ đối thoại
là lời trong cuộc giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện như là phản ứng
đáp lại lời của người khác” [2, tr. 128]. Ngôn ngữ đối thoại biểu hiện sự giao

12


tiếp qua lại thường là giữa hai phía trong đó sự chủ động và sự thụ động được
chuyển đổi luân phiên từ phía bên này sang phía bên kia - giữa những người
tham gia giao tiếp, mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi phát ngôn có trước và
là phản xạ lại phát ngôn có trước ấy. Đặc trưng của ngôn ngữ đối thoại là sự luân
phiên của các phát ngôn ngắn, của những người phát ngôn khác nhau.
Đối thoại trong văn bản tự sự là hình thức quan trọng để thể hiện tâm lý,
tính cách nhân vật. Trong đó: “Đối thoại là hình thức đối đáp, trò chuyện giữa hai
người hoặc nhiều người. Trong văn bản tự sự đối thoại được thể hiện bằng cách
gạch đầu dòng ở lời trao đáp và lời đáp (mỗi lượt lời là một gạch đầu dòng) [45,
tr. 178]. Theo Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, thì đối thoại còn
là: “Một phần của văn bản ngôn từ nghệ thuật, một thành tố mà chức năng là tái
tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật [1, tr . 264]. Đối thoại còn được giải
thích là: “một trong những dạng thức của lời nói trong đó có sự hiện diện của
người nói và người nghe và mỗi phát ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp
chuyện và xoay quanh một chủ đề của cuộc hội thoại [73, tr. 93 - 94]. Như vậy,
đối thoại là một trong những thành phần cơ bản quan trọng tạo nên lời nhân vật và

một đặc điểm tạo nên nét riêng ở mỗi nhà văn.
Nhìn chung thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ trần
thuật, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại. Đây là những yếu tố rất quan
trọng của ngôn ngữ nghệ thuật. Nó bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của
nhà văn, bộc lộ cách lí giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và có tính sáng tạo của
tác giả. Đồng thời đây cũng là những biểu hiện quan trọng thể hiện phong cách
sáng tác của nhà văn. Ở những chương sau, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các
thành phần của ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Cao Duy Sơn trên các bình
diện về ngôn ngữ và cách dùng từ, đặt câu để thấy những đặc sắc về ngôn ngữ
của nhà văn.
1.2. Hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn
1.2.1. Vài nét về cuộc đời và con người
* Cuộc đời
Cao Duy Sơn tên thật là Nguyễn Cao Sơn. Ông sinh năm 1956 tại quê mẹ,
thị trấn cổ Cô Sầu thuộc huyện Trùng Khánh, phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng.
Chữ Cao trong bút danh được lấy từ tên Cao Bằng để tỏ lòng tri ân vùng đất đã

14


sinh ra và nuôi dưỡng ông trưởng thành. Sinh ra trong gia đình cha người Kinh,
mẹ người Tày, Cao Duy Sơn được thừa hưởng tinh hoa của hai nền văn hóa.
Hơn nữa từ thuở ấu thơ nhà văn đã gắn bó máu thịt với quê hương Cao Bằng.
Đây cũng là mảnh đất sinh ra những người con ưu tú của văn học dân tộc thiểu
số như Bế Thành Long, Y Phương, Triều Ân, Đoàn Lư... Cao Bằng còn được
biết đến với nhiều thắng cảnh đẹp: Thác Bản Giốc, sông Quây Sơn, hang Pác
Pó... Nơi đây cũng hình thành và nuôi dưỡng nền văn hóa đậm đà bản sắc của
người Tày - Nùng: Tiếng đàn tính, những điệu sli, lượn, điệu then mượt mà say
đắm cùng những nét sinh hoạt văn hóa đã ăn sâu vào đời sống tâm hồn con
người ở vùng đất sơn thủy hữu tình này.

Sầu, không coi Cô Sầu trở thành một phần máu thịt trong đời người và đời văn
của mình thì sao Cao Duy Sơn lại phải nặng lòng đến vậy?
Cao Duy Sơn có tấm lòng chan chứa yêu thương đối với con người của
quê hương mình. Tấm lòng nhân hậu đó được nhà văn thể hiện trên những trang
viết giàu cảm xúc. Đó là sự cảm thương cho những kiếp người cơ cực, nghèo
khổ, xót xa cho số phận những người phụ nữ trước bi kịch đau khổ của cuộc đời.
Nhà văn đặc biệt trân trọng những phẩm chất đáng quý của người miền núi: mộc
mạc, nhân hậu, thủy chung và giàu nghị lực sống. Con người Cao Duy Sơn yêu
ghét rõ ràng. Ông yêu mến và tự hào trước những con người làm giàu, làm đẹp
hơn cho mảnh đất quê hương bao nhiêu thì lại càng khinh ghét bọn người bị lợi
danh làm cho mờ mắt dẫn đến suy thoái về đạo đức nhân cách.
Thủy chung thâm canh đề tài miền núi, không gian trong sáng tác của Cao
Duy Sơn chỉ quây tròn trong cái lũng Cô Sầu nhỏ bé. Cả năm cuốn tiểu thuyết
của ông đều xây dựng không gian lũng Cô Sầu. Nhưng điều tuyệt vời là “không
có truyện nào phải “độn” truyện nào” (Trung Trung Đỉnh). Nhà văn bộc bạch:
“Tôi viết như một sự giải phóng năng lượng của bản thân, khám phá chất người
Cô Sầu trong chính mình và khi viết thì nét văn hoá riêng của các dân tộc đồng
hiện cùng câu chuyện, chứ không phải đi tìm sự cách tân A, B nào đó với hy
vọng đoạt giải.” [9]. Không tham vọng tìm sự cách tân mà viết để khám phá chất
người Cô Sầu và nét văn hóa riêng của dân tộc cho nó “thoát thai từ dòng giống
Tày để rồi mọc mầm, cắm rễ trên đất quê hương” [24]. Vì lẽ đó, nên bao nét văn
hóa tươi đẹp của dân tộc Tày hiện lên trên những trang văn của ông qua các lễ

16


hội, phong tục tập quán, lối ứng xử, nếp cảm, nếp nghĩ… của con người. Có
được điều ấy chính là nhờ tài năng và sự am hiểu vốn văn hóa đậm đặc về vùng
đất Cô Sầu của nhà văn và cả tâm nguyện muốn phấn đấu để: “đưa văn học dân
tộc thiểu số bình đẳng với các dân tộc khác” [17].

những tác phẩm của Cao Duy Sơn, qua những lời phát biểu của ông trên báo,
trên truyền hình đặc biệt được nghe ông nói chuyện trực tiếp về quan niệm sáng
tác của mình, chúng tôi khái quát được một số quan điểm sáng tác chính sau đây:
* Viết văn phải có sự ám ảnh sâu sắc
Theo Cao Duy Sơn Chính sự ám ảnh là cái nôi nuôi dưỡng niềm đam mê:
Khi anh ta chọn được một đề tài có cái gì đó đột nhiên nó khiến cho anh phải
nghĩ, phải tìm hiểu, luôn bị ám ảnh và cuối cùng tìm ra một cách giải quyết
những chuyện đó sao cho hợp lí. Lúc nào trong đầu mình không nung nấu những
ám ảnh thì là chết. Để hình thành nên một tác phẩm văn học, đứa con tinh thần
quý giá của mình là cả một quá trình lao động lâu dài và nhà văn phải có sự kiên
trì, suy nghĩ thấu đáo. Nghề viết văn khác nhiều so với các loại hình lao động
nghệ thuật khác là ngoài tình yêu nghề nghiệp, sự cần mẫn với công việc thì cần
phải có điều quan trọng nhất đó là cảm xúc, sự rung động và theo Cao Duy Sơn:
“Viết văn nhất định phải có sự ám ảnh. Không có sự ám ảnh sẽ không thể nào
tạo ra được một tác phẩm vì mọi cái đều trở nên hời hợt. Sự ám ảnh đó từ ngày
này qua ngày khác, nó khiến anh không lúc nào nguôi nghĩ đến nó và phải tìm
cách thể hiện theo một cách nào đó” [55]. Ám ảnh về quê hương - vùng đất Cô
Sầu đó là lí do khiến Cao Duy Sơn kiên trì với đề tài miền núi. Tập truyện ngắn
Ngôi nhà xưa bên suối là tập truyện nhà văn đã giành toàn tâm toàn ý trong suốt
bốn năn trời ròng rã và liên tục trong hai năm 2008, 2009 giành được cú đúp giải
thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và giải thưởng ASEAN. Nó bắt đầu từ một
câu chuyện có thật của ông: “Tôi từng có một ngôi nhà bên suối ở thị xã Cao
Bằng, ngôi nhà đã gắn bó với tôi suốt cả một thời khốn khó. Ngôi nhà có một ô
cửa sổ nhỏ nhìn ra con suối quanh năm chảy róc rách, có cả vườn cây và con
đường đá sỏi. Chính khung cảnh hữu tình như một bức tranh thủy mặc của khu
nhà đã cho tôi xúc cảm để viết nên nhiều tác phẩm” [22]. Trong Chòm ba nhà,
ngôi nhà của cậu bé San với “Mái ngói âm dương, tường xây đá hộc”, có ô cửa

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status