Luận văn thặc sĩ: Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính - Pdf 28

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
lê thị hiền
ngôn ngữ thơ tình
ngôn ngữ thơ tìnhnguyễn bính
nguyễn bính
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2008
2
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
lê thị hiền
ngôn ngữ thơ tình
ngôn ngữ thơ tìnhnguyễn bính
nguyễn bính
Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ
M số: 60.22.01ã
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Trần Văn Minh
Vinh - 2008
4
Mục lục
Trang
Mở đầu..................................................................................................1

3.1.3. Từ địa phơng trong thơ tình Nguyễn Bính.........................69
3.1.4. Từ khẩu ngữ trong thơ tình Nguyễn Bính..........................71
3.2. Từ ngữ biểu thị tình yêu trong thơ tình Nguyễn Bính.....................72
3.2.1. Động từ biểu thị tình yêu...................................................73
3.2.2. Danh từ biẻu thị tình yêu...................................................90
3.2.3. Cụm từ biểu thị tình yêu trong thơ tình Nguyễn Bính.......92
3.3. Các biện pháp tu từ thờng dùng trong thơ tình Nguyễn Bính.........98
3.3.1. Biện pháp ẩn dụ.................................................................98
3.3.2. Biện pháp so sánh............................................................100
3.3.3. Biện pháp đối...................................................................105
3.3.4. Biện pháp điệp.................................................................107
* Tiểu kết chơng 3................................................................................109
Kết luận..........................................................................................110
Tài liệu tham khảo...................................................................112
Lời mở đầ u
Đề tài đợc thực hiện đúng thời gian quy định, chúng tôi nhận đợc sự hớng
dẫn thờng xuyên và nhiệt tình của TS. Trần Văn Minh, nhận đợc sự chỉ bảo tận
tình, quý báu của các thầy cô giáo tổ Lý luận Ngôn ngữ Trờng Đại học Vinh.
Qua đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới thầy
TS. Trần Văn Minh, các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ đã giúp đỡ chúng tôi
hoàn thành luận văn này.
Với thời gian và khả năng có hạn, những gì làm đợc ở đề tài này chỉ là b-
ớc đầu, chúng tôi chân thành mong nhận đợc sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và
các bạn để có thể bổ sung cho đề tài đợc hoàn chỉnh hơn. Vinh, tháng 12 năm 2008
Tác giả
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình yêu thích thơ ông và đã có nhiều
công trình nghiên cứu lớn nhỏ viết về cuộc đời và tác phẩm Nguyễn Bính với
quy mô và hớng tiếp cận, nghiên cứu khác nhau.
Trớc cách mạng tháng tám thẩm định hay nhất, gợi đúng cái Chân quê
của hồn thơ Nguyễn Bính phải kể đến bài giới thiệu về Nguyễn Bính của Hoài
Thanh trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh là ngời đầu tiên nhận ra vẻ đẹp
kín đáo đậm đà của hồn thơ Nguyễn Bính đồng thời đã cắt nghĩa về sự quan tâm
cha thích đáng của giới nghiên cứu đối với thơ ông Cái đẹp kín đáo của những
vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm đợc một số đông công chúng mộc mạc khó lọt
vào con mắt của các nhà thông thái thời nay. Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính họ
sẽ bảo Thơ nh thế này có gì?. Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà ngời ta
không thể hiểu bằng một lý trí, một điều đáng quý vô ngần hồn xa đất nớc
Nguyễn Bính đã đánh thức ngời nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng chúng ta [30;
334].
Cùng thời với Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt
Nam hiện đại cũng chỉ ra thứ tình quê xác thực đợc toát lên từ những câu thơ
mang dáng vẻ thực thà, hai lần hai là bốn của Nguyễn Bính [27; 701], Vũ
Ngọc Phan đã đánh giá cao thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là mảng thơ viết về làng
quê.
Hai nhà nghiên cứu đã có cái nhìn tinh tế, nhạy cảm trong việc nhận diện
một hồn thơ độc đáo, một lối đi riêng của Nguyễn Bính. Những ý kiến trên có ý
nghĩa định hớng, tin cậy cho công việc nghiên cứu thơ của Nguyễn Bính sau
này.
Trong kháng chiến chống Pháp, những vần thơ xa của ông vẫn đợc trân
trọng. Năm 1951, nhà xuất bản Hơng Sơn cho tái bản liên tiếp hai tập thơ Hơng
cố nhân và Mây tần. Trong thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh nên việc
nghiên cứu thơ Nguyễn Bính có nhiều hạn chế.
10
ở miền Nam, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính đợc chú ý hơn. Thơ
Nguyễn Bính đợc tái bản trong giáo trình của Đại học Văn khoa Sài Gòn, đợc

Đoàn Hơng, Đỗ Lai Thuý, Đức Phơng, Phơng Lan. Thơ Nguyễn Bính đã thở
thành đề tài quen thuộc của nhiều khoá luận, luận văn, luận án trong cả nớc.
Nhìn chung qua các thời kỳ khác nhau, thơ Nguyễn Bính có những thăng
trầm, nhng việc cảm thụ, đánh giá thơ Nguyễn Bính ít có những khác biệt hoặc
những mâu thuẫn gay gắt. Về căn bản, những nhận xét đánh giá của giới phê
bình về Nguyễn Bính khá thống nhất. Dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Bính vẫn đợc
xem là nhà thơ của Chân quê, Hồn quê, Tình quê.
Trong thời gian dài, thơ Nguyễn Bính đã đợc nghiên cứu xem xét ở nhiều
góc độ từ nội dung đến nghệ thuật, từ t tởng đến phong cách, từ giọng điệu đến
kết cấu. Cha có một tác giả nào trực tiếp nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính
một cách tập trung có hệ thống. Một số tác giả có đề cập đến đặc điểm ngôn
ngữ thơ Nguyễn Bính. Chẳng hạn các bài viết của Hà Minh Đức, Đoàn Hơng,
Phơng Lan, Hoài Việt Tóm lại ch a có một công trình nào đi sâu nghiên cứu
khía cạnh hình thức thơ tình Nguyễn Bính một cách đầy đủ cụ thể và có hệ
thống.
* Lịch sử nghiên cứu thơ tình Nguyễn Bính
Ngời đầu tiên đề cập đến thơ tình Nguyễn Bính đó là nhà phê bình Hoài
Thanh trong Thi nhân Việt Nam nhạy cảm, tinh tế Hoài Thanh đã phát hiện ra
vẻ đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính. Đó là chất Chân quê là hồn
xa đất nớc, một phẩm chất quý giá vô ngần mà chúng ta không hiểu đợc
bằng lý trí.
Trong lời giới thiệu tập Chân quê Mã Giang Lân cũng có băn khoăn
giữa tính chất Chân quê với Thơ Mới trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính:
Trong thơ Nguyễn Bính bên cạnh những câu thơ duyên dáng thuần thục nh ca
12
dao ta thấy xen vào những câu thơ quá mới nên thơ ông giống ca dao mà cũng
khác ca dao [21; 17].
Hoài Việt (trong Nguyễn Bính thi sĩ của thơng yêu) đã có nhận xét
công bằng hơn Có ngời trách anh từ khi đi tỉnh về thì để cho hơng đồng gió
nội bay đi ít nhiều chúng tôi không nghĩ thế có Đi tỉnh trong thơ anh mới có

các nhà nghiên cứu chỉ đề cập ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính nh là những dẫn
chứng để minh hoạ cho những phát hiện về những vấn đề lớn nh thế giới nghệ
thuật thơ, phong cách thơ, thể loại thơ, bản sắc thơ Nguyễn Bính. Cha có công
trình nào dành riêng nghiên cứu ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính một cách đầy
đủ mang tính hệ thống.
Trên cơ sở lựa chọn đề tài Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính ngời viết sẽ
tập trung khảo sát, đi sâu tìm hiểu hình thức ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính
một cách có hệ thống để làm nổi bật những nét cơ bản của hình thức ngôn ngữ
thơ tình Nguyễn Bính.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của đề tài
Qua khảo sát bộ phận thơ tình Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ, đề tài có
mục đích góp phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, một phong
cách thơ có sự nối kết hiệu quả giữa truyền thống và cách tân trong nền thơ Việt
Nam giữa thế kỉ XX.
3.2. Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu
a. Nhiệm vụ
Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Khảo sát và miêu tả về cấu trúc và âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính.
14
- Khảo sát và miêu tả các lớp từ và các biện pháp tu từ nổi bật trong thơ
tình Nguyễn Bính.
b. Đối tợng nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát 106 bài thơ tình (đợc sáng tác trớc cách
mạng tháng tám năm 1945) có trong tập thơ: Thơ tình Nguyễn Bính (Nxb Đồng
Nai, 1996) và Tuyển tập Nguyễn Bính (Nxb văn học, Hà Nội 1986).
4. Phơng pháp nghiên cứu
Trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu
sau đây:
- Phơng pháp thống kê - phân loại: Đợc dùng khi khảo sát nguồn t liệu

Trong khi văn xuôi thẻ hiện t tởng, tình cảm của tác giả bằng con đờng
tái hiện một cách khách quan các hiện tợng đời sống thì thơ lại phản ánh đời
sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con ngời, nghĩa là con ngời tự cảm
thấy mình qua những ấn tợng, ý nghĩa cảm xúc chủ quan của mình đối với thế
giới và nhân sinh. Thơ cũng tái hiện đời sống trực tiếp, miêu tả thiên nhiên hoặc
thuật lại ít nhiều sự kiện tơng đối liên tục (nh: Ma - Nguyễn Bính, Mùa xuân
chín - Hàn Mạc Tử, Núi đôi - Vũ Cao), song sự tái hiện này không mang
mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ cảm xúc, chiêm nghiệm,
suy tởng của mình.
Tác phẩm văn xuôi thờng có cốt truyện và hành động. Gắn liền với cốt
truyện là một hệ thống nhân vật đợc khắc hoạ đầy đủ. Thơ thờng không có cốt
truyện, mỗi bài thơ thể hiện một tâm trạng nên dung lợng của nó thờng ngắn (vì
một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài).
Trong thơ, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, thờng xuất
hiện dới dạng nhân vật trữ tình. Còn ở văn xuôi thì nguyên tắc phản ánh hiện
thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí là nhân tố tổ chức ra thế
17
giới nghệ thuật của tác phẩm, nó đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tợng ng-
ời trần thuật.
Thơ là tiếng nói bộc bạch làm việc trên trục dọc (trục lựa chọn, thay thế,
tơng đồng, quy chiếu, trục của các ẩn dụ) còn văn xuôi là tiếng nói đối thoại
làm việc trên trục ngang (trục kết hợp, trục tuyến tính). Trong thơ trữ tình chỉ có
một kiểu lời nói duy nhất thống lĩnh toàn bộ thế giới nghệ thuật: kiểu lời độc
thoại trực tiếp của nhân vật trữ tình (hoá thân của chủ thể trong tác phẩm). ở đó
tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ đợc dùng để xây dựng các thông báo.
Thơ sử dụng nhiều hình ảnh, nhiều từ đồng nghĩa để diễn tả một tâm trạng,
một suy t.
Không gian trên trang giấy in thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang in văn
xuôi. Đặc điểm này cho thấy, thơ nói ít mà chứa đựng nhiều nghĩa, thơ là văn
bản không liên tục, nó còn có nhiều khoảng lặng. Chính những khoảng trắng

của ngôn ngữ thơ ca. Đây là điều mà trong văn xuôi ít đợc nhắc đến. Đặc điểm về
tính nhạc có tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ. Tuy nhiên trong mỗi ngôn ngữ có
cách thể hiện riêng tuỳ theo cơ cấu cách cấu tạo và tổ chức khác nhau về ngữ âm.
Tiếng Việt giàu có về nguyên âm, phụ âm, thanh điệu là cơ sở cho ngôn ngữ thơ
ca Việt Nam có dáng vẻ độc đáo về tính nhạc. Khi khai thác về tính nhạc trong
thơ, chúng ta cần chú ý những đối lập sau.
- Sự đối lập trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm.
- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô
thanh trong các phụ âm cuối.
- Sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu.
Bên cạnh sự đối lập đó vần và nhịp cũng góp phần quan trọng trong việc
tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca. Những yếu tố về ngữ âm này là cơ sở cũng là
19
chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca, tạo nên những âm tởng trầm bổng
diệu kỳ.
Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ca đa thơ ca xích gần lại với âm nhạc làm
chỗ dựa cho các phơng pháp diễn đàn âm nhạc.
b. Về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa trong thơ ca không đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữ
giao tiếp đời thờng, thậm chí khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi. Ngữ nghĩa
trong văn xuôi chủ yếu là nghĩa miêu tả, tờng thuật, kể chuyện. Còn nghĩa của
ngôn ngữ thơ ca phong phú hơn nhiều. Mỗi từ ngữ khi đợc đa vào thơ đều hoạt
động rất linh hoạt và đa dạng.
Văn xuôi không hạn chế về số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ. Còn trong
thơ tuỳ theo thể loại mà có những cấu trúc nhất định. Khi đi vào thơ, do áp lực
của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen,
nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà còn có những ý nghĩa mới tinh tế hơn, đa
dạng hơn, mới lạ hơn nhiều. Đó là nghĩa bóng hay gọi là ý nghĩa biểu trng của
ngôn ngữ thơ ca. Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn
hút kỳ lạ đối với ngời đọc, ngời nghe. Bởi họ không chỉ tiếp nhận văn bản thơ

Từ láy là những từ đợc cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những
quy tắc nhất định, sao cho giá trị giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối hài
hoà với nhau về âm và về nghĩa có giá trị tơng đơng hoá [20; 33].
Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cách hoà
phối ngữ âm và số lần tác động của phơng thức láy.
Căn cứ vào cách hoà phối ngữ âm có thể phân biệt hai kiểu từ láy:
Từ láy bộ phận chia làm hai loại:
Láy phụ âm đầu: Vu vơ, thấp thỏm, long lanh, nhí nhảnh
Láy phần vần: Cập rập, chon von, lòng thòng, lênh khênh
Từ láy hoàn toàn chia làm hai loại:
21
Từ láy toàn bộ âm tiết giữ nguyên: Xa xa, lo lo, chuồn chuồn, xanh
xanh
Căn cứ vào số lần tác động của phơng thức láy có thể phân biệt các kiểu
từ láy:
Từ láy đôi: Sạch sẽ, ngoằn ngèo, khúc khuỷu, chập chờn
Từ láy ba: Dửng dừng dng, cỏn còn con, sạch sành sanh
Từ láy t: Thập thà thập thò, gập gà gập gềnh, đủng đa đủng đỉnh
Từ láy có những đặc trng ngữ nghĩa riêng, đợc hình thành từ nghĩa của
hình vị gốc theo hớng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cờng hay giảm nhẹ, tổng hợp
hay chuyên biệt hoá.
Trong văn chơng Việt Nam đơng đại, các nhà thơ mới đã tài tình và khéo
léo sử dụng từ láy để làm nổi bật bức tranh thiên nhiên và tâm trạng con ngời.
Huy Cận đã dùng các từ: điệp điệp, song song, chót vót, mênh mông
để miêu tả chiều sâu và chiều rộng không chỉ của con sông dài Tràng Giang mà
còn của tâm trạng nhà thơ.
Nguyễn Khuyến rất tài khai thác khả năng diễn tả của từ láy: (thấp) le te
(đom đóm) lập loè, (bé) tẻo teo, (thằng bé) lom khom
Do khả năng biểu cảm của từ láy rất phong phú nên các nhà văn, nhà thơ
lớn đều tận dụng và khai thác tối đa tiềm năng to lớn của từ láy trong văn chơng

Cho chim xanh nỡ bay qua vờn hồng
(Ca dao)
Hoa và bớm, chim xanh và vờn hồng là những hình ảnh ẩn dụ
chỉ ngời con trai và ngời con gái, ngời đi - ngời chờ. bớm và chim xanh là
yếu tố vô định có thể bay đi nhiều nơi còn hoa và vờn hồng thì không xê
dịch.
23
Nàng rằng khoảng vắng đêm trờng
Vì hoa nên phải đánh đờng tìm hoa.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Từ hoa đợc dùng để ví ngời tình nhân hào hoa, phong nhã. Có khi từ
hoa lại đợc dùng để ví ngời có phẩm chất cao đẹp, đối lập với cỏ ví hạng
thấp hèn trong cuộc đời éo le đầy nghịch cảnh.
Phợng những tiếc cao diều bay liệng
Hoa thờng hay héo cỏ thờng tơi.
(Nguyễn Trãi)
ẩn dụ thực chất là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh đợc giảm lợc, chỉ
còn lại vế đợc so sánh. Phép ẩn dụ là phơng thức chuyển nghĩa của một đối tợng
này thay cho một đối tợng khác khi hai đối tợng có một chút nghĩa tơng đồng
nào đó [19; 194].
Với chức năng làm mới, làm giàu, làm đẹp, làm biến chuyển ngôn ngữ
ẩn dụ là một trong những phơng thức tu từ xuất hiện nhiều nhất trong thơ đặc
biệt thơ trữ tình thực sự là vơng quốc của ẩn dụ.
ẩn dụ thể hiện phong cách sáng tạo của tác giả, phong cách thời đại,
phong cách dân tộc. Vì vậy nghiên cứu ẩn dụ của một tác giả có thể bao quát đ-
ợc thế giới thơ ca của tác giả đó.
1.1.4.2. So sánh (tỉ dụ)
So sánh là phơng thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tợng dựa
trên cơ sở đối chiếu hai hiện tợng có dấu hiệu tơng đồng nhằm làm nổi bật đặc
điểm thuộc tính của hiện tợng này qua đặc điểm thuộc tính của hiện tợng kia

sánh
Tình ta x nh hàng cây
Sông x cũng nh Tình yêu
Mô hình 3: Cấu trúc so sánh vắng yếu tố thứ 2 và 3.
1. Từ ngữ, hình
ảnh đợc so sánh
2. Tính chất cơ sở
so sánh
3. Từ so sánh
4. Hình ảnh so
sánh
Anh x x
con đờng
xa ngái
Anh x x bức vẽ không màu
Mô hình so sánh 3 đợc cấu tạo bằng cách sử dụng chỗ ngắt giọng và tạo
ra hình ảnh so sánh theo cảm nhận của nhà thơ.
Tuỳ từng trờng hợp cụ thể có thể đảo trật tự so sánh hoặc vắng một số
yếu tố theo mô hình trên, vắng yếu tố thứ ba từ so sánh thêm bao nhiêu
bấy nhiêu dùng là, bằng - cũng bằng làm từ so sánh.
Trong văn chơng so sánh là phơng thức tạo hình gợi cảm, phơng thức
biểu đạt một cách hình tợng nội dung cảm xúc để thẩm mỹ hoá lời thơ.
25

Trích đoạn Thanh điệu trong thơ tình Nguyễn Bính Từ láy âm trong thơ tình Nguyễn Bính Từ tình thái trong thơ tình Nguyễn Bính Từ địa phơng trong thơ tình Nguyễn Bính Động từ biểu thị tình yêu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status